Trang

Thứ Bảy, 1 tháng 8, 2026

Nhớ về Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ


Nguyễn Duy Chính

 


Hình 1: Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ (1921 – 2014)  


      Tôi có ba vị Thầy ảnh hưởng nhiều đến cuộc đời, hai người tôi theo học thật theo kiểu trường lớp, một người chỉ gián tiếp qua sách vở. Cụ Đặng Quí Tuỳ là cụ giáo dạy Pháp văn miễn phí ở gần nhà dạy tôi lối sống đạm bạc và hi sinh cho tha nhân, cụ Nguyễn Hiến Lê là một học giả mà tôi gọi là tâm sư - vì tôi chưa gặp mặt bao giờ - dạy cho tôi biết thế nào là đủ về vật chất để dồn nỗ lực vào công việc tinh thần. Hai vị thầy đó qua đời đã lâu. Vị thầy gần gũi có nhiều cơ hội tiếp xúc là Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ, vừa thất lộc đầu năm 2014. 

      Không nhớ chính xác thời điểm nhưng lần đầu tiên tôi thụ giáo Bác Sĩ Thọ là tại một lớp về Kinh Dịch ở Phú Nhuận vào khoảng cuối thập niên 1960. Lớp học một tuần một buổi ngày Chủ Nhật, mỗi tuần một quẻ. Ngày đầu tiên tôi học cụ dạy về quẻ Thái, lớp học có lẽ cũng đã bắt đầu được vài tháng rồi. 

      Tôi học không lâu, chỉ chừng một năm vì sau đó tôi ra trường và đi làm ở các tỉnh nên không thể tiếp tục mặc dù tôi vẫn nhờ ông chú họ mua giùm các tài liệu in ronéo để xem thêm. Nói đúng ra tôi đến lớp của Bác Sĩ Thọ không có một mục tiêu cụ thể nào vì tôi không tham dự như những người đang ghi danh ở đại học Văn Khoa.  

      Tôi cũng không đi tìm một con đường tu tập vì vốn dĩ tôi không phải là một người tôn giáo, có đức tin vào một đấng huyền vi mà luôn luôn suy nghĩ và hành động của nhà nho, “vị tri sinh, an tri tử” (chuyện sống còn chưa biết huống gì chuyện chết) và theo đuổi cái quan niệm rất sơ đẳng là “tận nhân lực, tri thiên mệnh” (làm hết sức mình để biết mệnh trời). 

       Khi theo học lớp Dịch của Bác sĩ Thọ, tôi chỉ biết rất mơ hồ về văn minh Trung Hoa, kém xa những người khác được huấn luyện một cách chính thức mặc dù tôi có cái ưu điểm là biết lem nhem vài chữ Nho vốn dĩ tự học sau năm đệ Thất ở CVA là niên học có môn Hán văn mỗi tuần một giờ. 

      Trong cái “tiểu trí” của tôi hồi đó, kinh Dịch là chìa khoá để mở những cánh cửa của văn minh Á Đông. Tôi thích thú không phải vì ý nghĩa uyên áo của hào, của quẻ mà chỉ là diễn giải qua những phần bình luận sau mỗi quẻ mà Bác Sĩ Thọ viết rất công phu, tuy tổng quát nhưng cung cấp căn bản vững chắc về đông y, về thiên văn, về tiên thiên hậu thiên, âm dương ngũ hành ... 

      Chính vì thế, cho đến giờ này sắp sửa bước vào tuổi “cổ lai hi”, sở học căn bản của tôi vẫn lộn xộn không đâu vào đâu cả. Giá như hồi đó Bác Sĩ Thọ dạy tôi Tam Tự Kinh hay Ấu Học Ngũ Ngôn Thi có lẽ tôi có cơ sở hơn vì từ một thanh niên không biết gì về văn minh Á Đông mà vào thẳng Kinh Dịch thì cũng không khác gì đi ngược đầu, chưa học cộng trừ nhân chia đã làm toán vi phân tích hay nói một cách dễ hiểu thì học kinh văn võ công tầng thứ bảy mà không qua tầng thứ nhất, thứ hai. 

      Thế nhưng cũng có cái hay vì Bác Sĩ Thọ không phân tích để dựng lại một khung hình suy nghĩ mà kinh Dịch cũng như mọi kinh điển, sách vở khác chỉ là một khu vườn để trồng cái đạo lý cụ nhiệt tình rao giảng. Đó là muốn đi tìm cái rốt ráo mà mọi tôn giáo đều truy cầu dù với những tên gọi khác nhau như “niết bàn”, “đại đạo” hay “thượng đế” … thì phải quay về chính mình, với “chân tâm” chứ đừng cầu ở sắc tướng, ở âm thanh nghĩa là đừng hướng ngoại mà phải hướng nội. Khi đã nhận biết cái tâm điểm đó thì mục tiêu tối hậu là không còn tôn giáo ngoại truyền vì mọi chấp trước vào hình thức lệ thuộc vào ngôn từ hay nghi lễ đều chỉ là vọng tưởng, là giả tâm. Hiểu được như thế, tôi mới biết rằng cụ có cái chìa khoá mở được mọi cánh cửa triết học và đạo giáo, cổ hay kim, đông hay tây. 

      Theo học Bác Sĩ Thọ nhiều năm nhưng chung qui tôi chỉ nhớ được hai câu: 


若以色見我,以音聲求我,是人行邪道,不能見如來[1]

Nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã, thị nhân hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai.

Nếu như lấy hình sắc để xem ta, lấy âm thanh để cầu ta, người ấy đã đi sai đường, không thể nào thấy được chân tâm bản ngã 

人心惟危 ,道心惟微,惟精惟一,厥中[2]

 Nhân tâm duy nguy, đạo tâm duy vi, duy tinh duy nhất doãn chấp quyết trung.

Lòng con người thì luôn luôn chông chênh, chao đảo. Gốc của đạo thì sâu thẳm vi diệu vô cùng. Muốn vào được đạo trung [tìm được chân tâm] thì phải luôn luôn tinh thuần chuyên nhất 

    [Kinh Thư, Đại Vũ Mô, tiết 15]