LGT: Tác giả bài này là 1 kỹ sư địa chất trong nước với kinh nghiệm thực tế nên có thẩm quyền để viết về đề tài nhạy cảm này vì mỗi quan tâm với an ninh nguồn nước cho đồng bào cũng hệ sinh thái của miền Bắc Trung bộ Việt Nam.
Sông Mã không chỉ chảy trong thi ca với "khúc độc hành" bi tráng của đoàn quân Tây Tiến năm xưa. Ngày nay, dòng sông huyền thoại ấy đang thực sự gầm lên trong một cơn bức tử mới: Cơn bức tử từ thạch tín (Arsen). Suốt 10 năm qua, trong khi dư luận mải mê với những thị phi phù phiếm, thì hàng triệu lít hóa chất từ các mỏ đất hiếm tại vùng "đất cũ" Trấn Biên đã và đang âm thầm nhuộm độc huyết mạch của dải đất miền Trung. Đây không còn là lời cảnh báo, đây là một thảm họa hiện hữu.
Sự ra đi của thi sĩ Phạm Thiên Thư ở tuổi 86 khép lại một đời thơ tài hoa, nơi đạo và đời, tình yêu và vô thường, mộng và thực luôn quyện vào nhau.
Các tư liệu ghi rằng ông tên thật là Phạm Kim Long, sanh năm 1940 tại Hải Phòng, rồi vào miền Nam định cư từ thuở thiếu niên. Năm 24 tuổi, ông vào chùa tu học và trở thành tu sĩ. Gần mười năm sau, ông hoàn tục, sống đời cư sĩ.
Ông để lại cho đời rất rất nhiều câu thơ. Theo Nhà văn Võ Phiến thì ông đã viết “ngót chục vạn câu thơ”. Nói theo tiếng Anh, ông là người prolific. Làm sao ông có thể viết nhiều thơ đến như vậy? Trong một lần trả lời phỏng vấn trên tạp chí Bách Khoa, ông cho biết là có 3 yếu tố giúp ông sáng tác: thiên nhiên, tĩnh lặng, và quán cà phê. Có lẽ chính vì thế mà sau 1975 ông mở quán cà phê Hoa Vàng?
Hành trình sống của ông đã góp phần làm nên phong cách thơ rất riêng của Phạm Thiên Thư: đạo và đời quyện vào nhau, tình yêu và vô thường soi chiếu lẫn nhau. Ông đã thi hóa kinh Pháp Cú bằng thể lục bát, chuyển một bộ kinh vốn không dễ hiểu thành những câu thơ thuần Việt, dung dị, gần gũi với tâm hồn người đọc.
Nguyễn Du có Đoạn Trường Tân Thanh. Phạm Thiên Thư có Đoạn Trường Vô Thanh[1], một công trình trường thi mà ngày nay có lẽ không còn được nhắc đến nhiều như trước. Tác phẩm gồm 3290 câu lục bát, được xem như một tập Hậu Truyện Kiều, ra mắt năm 1969. Vài năm sau, vào năm 1973, tác phẩm được trao giải thưởng văn học toàn quốc. Chỉ cần đọc vài câu mở đầu cũng thấy được phong vị thơ của ông:
Lòng như bát ngát mây xanh
Thân như sương tụ trên cành Đông mai
Cuộc đời – chớp loé, mưa bay
Càng đi, càng thấy dặm dài nỗi không
Thân Tâm Bệnh – nghiệp trần hồng
Lênh đênh trầm nguyệt, bềnh bồng phù vân
Giam trong Tài, Mệnh, Giả, Chân
Trăm năm hồ dễ một lần bay cao
Đau lòng chuốt tiếng đàn nao
Năm cung nước chảy lại chao phận mình
Đời Kiều trải mấy nhục vinh
Ngã, Nhân đã vượt, thế tình đã qua
Đoạn Trường sổ gói tên Hoa
Xưa là Giọt Lệ – nay là Hạt Châu
Tác giả mượn thể thơ lục bát và Truyện Kiều để nói chuyện vô thường, nghiệp, thân phận và giải thoát. Cái hay là ngôn ngữ rất Việt, nhưng bên dưới lại có chiều sâu Phật học. Những câu thơ đi từ thân phận mong manh đến ý thức vô thường, rồi từ nỗi lênh đênh của kiếp người đến khát vọng vượt thoát. Không có giảng đạo trực tiếp. Tác giả để đạo lí thấm vào hình ảnh: mây xanh, giọt sương, chớp loé, mưa bay, trăng chìm, mây nổi. Vì vậy thơ ông có vẻ rất nhẹ, nhưng đọc kĩ lại thấy rất sâu.
Tôi đã trình bày trên Tiếng Dân và nhiều diễn đàn trực tuyến về niềm lo ngại về các mỏ đất hiếm bên Lào thải ra những chất độc đe dọa an ninh nguồn nước cho 10 triệu dân cư và hệ sinh thái của 3 dòng sông, sông Mã, sông Chu, và sông Lam ở Việt Nam. Tạp chí chuyên đề về môi sinh Mongabay cũng đã giúp công bố bài báo tôi viết về mối quan tâm này để cộng đồng quốc tế chú ý.
Tôi không thể ngừng lại vì xét thấy thêm là lưu vực 3 sông Mã, sông Chu, và sông Lam của Việt Nam là vùng sẽ hứng chịu ô nhiễm nặng nề nhất Đông Nam Á. Việt Nam tuy nằm dưới vài chục mở từ Lào nhưng sẽ hứng chịu nguy hiểm nặng nề hơn Thái Lan, Lào, và Cam Bốt mặc dù những nước này nằm dưới hàng ngàn mỏ từ Miến Điện.Ba dòng sông Mã, sông Chu , và sông Lam tại miền Trung Việt Nam không được quốc tế chú ý nhiều vì về địa lý chỉ là mảnh ghép nhỏ trong bức tranh toàn cảnh về việc khai thác đất hiếm trên toàn khu vực Đông Nam Á. Trên thực tế cho đến nay tôi vẫn chưa tìm thấy một báo cáo nào về hàm lượng arsenic trong 3 dòng sông này của Việt Nam mặc dù một vụ chất độc bị rò rỉ từ các mỏ đất hiếm tại Houaphanh đã xảy ra từ tháng hai 2024 cho đến nay vẫn không được quan tâm.
Vì tìm hiểu thêm tôi đã giật mình khi nhận ra miền Trung Việt Nam có thể lại là vùng cần được quan tâm nhất hơn cả Mekong và Salween vì những yếu tố sau đây:
Myanmar hiện có khoảng 27 mỏ đất hiếm nằm ở thượng lưu sông Salween, tập trung chủ yếu tại điểm nóng Mong Pawk. Trong khi đó, theo bản đồ mới nhất của Trung tâm Stimson, Lào hiện có không ít, 21 mỏ đất hiếm nằm tại vùng thượng nguồn của các sông Mã , Chu, Lam. Do đó Việt Nam cần quan tâm về các dòng sông của mình không kém Thái Lan đã hết sức quan tâm về dòng sông của họ.
Tất cả 21 mỏ ở Lào đều sử dụng quy trình khai thác rất hiếm bằng phương pháp "ngâm chiết tại chỗ" (in-situ leaching) Trung Quốc sử dụng tại Myanmar và Lào, quy trình này được xem là quy trình độc hại nhất khai thác mỏ.
Tổng số lưu lượng của 3 dòng sông trên ở Việt Nam đạt khoảng 41 km³ mỗi năm, so với mức 210 km³ của sông Salween, với lưu lượng ít hơn sẽ làm hàm lượng arsenic trong các dòng sông Việt Nam cao hơn sông Salween nhiều. Việt Nam do do cần phải quan tâm với các dòng sông của mình nhiều hơn Thái Lan đang quan tâm về dòng sông của họ.
Chiều dài 3 dòng sông của Việt Nam lại ngắn hơn sông Salween do đó arsenic với hàm lượng cao hơn sẽ chảy nhanh hơn xuống tiếp cận dân cư. Việt Nam lại có mật độ dân số cao hơn nhưng có ít thì giờ để đối phó với ô nhiễm từ Lào.
Arsenic là 1 độc tố tích lũy sinh học (bioaccumulative) thầm lặng, có mức độ an toàn tối đa trong nước rất thấp (0,01 kg/liter.) trong khi dân cư lưu vực trực tiếp sự dụng nước sông sinh hoạt và đánh bắt ngư sản để tiêu thụ và làm kế sinh nhai.
Báo cáo mới nhất cho Thái Lan về sông Salween“Các chuyên gia khuyến cáo dân cư không tiêu thụ Sinh vật thủy sinh trên sông Salween” vì ốc sên ở đó đã nhiễm độc arsenic trầm trọng từ những mỏ đất hiếm của Miến Điện. Các chuyên gia đã tổ chức diễn đàn và công bố kết quả xét nghiệm vào ngày 3 tháng 5 cho thấy ốc sên Salween bị ô nhiễm kim loại nặng ở mức cao gấp 10-20 lần so với giới hạn an toàn. Các xét nghiệm trước đó cũng đã phát hiện ô nhiễm asen trong nước sông vượt quá ngưỡng tiêu chuẩn.
Tôi không muốn làm người gieo rắc hoang mang, không muốn tai họa xảy ra, nhưng những yếu tố trên và khả năng tác động tích hợp của chúng sẽ có khả năng biến Bắc Trung Việt việc thành vùng hứng chịu ô nhiễm arsenic nặng nề nhất Đông Nam Á.
Bóng Đêm lẽ ra in trước Mây Bão, Gió Mùa sẽ là tập thứ ba của một thiên tiểu thuyết dài trong đó diễn biến thời gian và câu chuyện hoàn toàn bị xáo trộn, người đọc chỉ còn thấy sự nhầt trí của một khung cảnh và ý hướng người viềt. Chú chết, về ngay.... Read more
Con sông Mekong như mạch sống đã và đang ngày một gắn bó với tương lai vận mệnh của các quốc gia Đông Nam Á mà Việt Nam lại là quốc gia cuối nguồn. Đã qua rồi thời kỳ hoang dã của con sông dài 4200 cây số chảy qua lãnh thổ của bảy nước - kể cả Tây Tạng, mà ngót một nửa chiều dài là chảy trên lãnh thổ Trung Quốc. ... Read more
And then came what had been expected. The day of returning to Vietnam had definitely arrived. A few weeks ago several people had advised that I stay on. They said that if I wanted they would even help me escape to Canada. I had wavered ambivalently between two alternatives. On the one hand stood the appeal of a new way of life, free and comfortable; on the other, lay the deep longing for my grey-haired mother, for the breeze rustling through a bamboo grove, and for the delicately pungent smell of a bowl of pho, beef noodle soup – an indescribable, tender emotion. And above all, I was reminded of an utterance from the short dialogue between Doctor Rieux and Rambert in Camus' work The Plague: "There is no shame in preferring happiness, but there may be shame in choosing happiness for oneself alone.”
Ton Kan, The First-Lieutenant Marine M.D., an autobiography (Journal of Vietnamese Physicians in Canada, 1993), pp. 94-9
Seen against a misty background imprinted with the distant Golden Gate Bridge, tourist-packed and passengers spilling over its sides, the cable car announced itself with clinking sounds as it descended a steep hill. That sight seemed to Phan the hallmark of San Francisco, a sight which had not changed from its image on the postcard sent many years earlier from this refined and beautiful city. Fifteen years after mailing that postcard, Phan could not believe he had returned to this scenery. It all felt unreal to him, the unreality having its origins in evoked images of a journey taken during that time long past.
Thế rồi, cái gì phải đến cũng đến. Ngày trở về Việt Nam đã tới. Mấy tuần trước đó có vài người khuyên tôi nên ở lại. Nếu tôi muốn họ sẽ giúp tôi trốn sang Canada. Tôi lưỡng lự mãi. Một bên là cám dỗ của một đời sống mới, tự do và đầy đủ tiện nghi. Một bên là nỗi nhớ nhung, mái tóc bạc của bà mẹ già, ngọn gió rì rào trong bụi tre ngà, một tô phở nóng, một cái gì rưng rức khó tả. Và nhất là cuộc đối thoại ngắn ngủi giữa bác sĩ Rieux và Rambert trong La Peste của Camus : “Il n’y a pas de honte à préférer le bonheur, mais il peut avoir de la honte à être heureux tout seul”. Tôn Kàn, Quan hai lang tây lính thủy đánh bộ. (tr.94-95 TSYS 1993)
“Tân binh” Ngô Thế Vinh – Trung tâm Huấn luyện Quang Trung (1969)
Tiếng leng keng của chiếc tàu điện đang đổ dốc với chật ních du khách đứng lan cả ra thành tàu, trên một nền xa mờ thấp thoáng chiếc cầu Golden Gate: cảnh ấy như biểu tượng của Cựu Kim Sơn không đổi thay từ bao năm trên tấm Postcard gửi đi từ thành phố thanh lịch mỹ miều này. Từ ngày hôm ấy, mười lăm năm sau, chẳng thể nghĩ rằng hơn một lần Phan trở lại nơi đây. Cảm giác như không hề có thật.