Thứ Năm, 12 tháng 2, 2026

BÚT, NGHIÊN, GIẤY, MỰC _ Nguyễn Duy Chính

 



Thời thượng cổ, người Trung Hoa ghi lại những điều cần nhớ bằng cách thắt nút dây (kết thằng) hay vạch trên gỗ. Khoảng bốn nghìn năm trước, họ bắt đầu dùng vạch để tượng trưng cho một số những gì mắt thấy tai nghe. Phương pháp dùng hình vẽ diễn tả đời sống được gọi là phép tượng hình (pictograph) và dần dần được phát triển để thành chữ viết.

Theo những nhà nghiên cứu thì văn tự Trung Hoa không phải là phép tượng hình lâu đời nhất của nhân loại. Nhiều dân tộc khác, chẳng hạn như Ai Cập cũng dùng hình vẽ để mô tả sự việc trước người Trung Hoa cả mấy trăm năm. Thế nhưng chữ Hán là thứ chữ tượng hình gần như duy nhất còn tồn tại và sử dụng đến ngày nay. Và quan trọng hơn hết, chữ viết của họ lại chuyên chở một phần lớn sinh hoạt, vũ trụ quan cũng như nhân sinh quan của họ. Phép viết chữ, phép hội họa, nội dung và ý nghĩa toàn cục kết thành một khối không thể tách rời, luôn luôn là một biểu tượng chính xác cho tác giả của nó. 

Người Trung Hoa gọi bút, giấy, mực, nghiên là văn phòng tứ bảo nghĩa là bốn món đồ quí của chốn làm văn, trung gian chuyên chở ngôn ngữ, ý nghĩa và nghệ thuật. Người Tàu đã chế tạo được giấy từ hai nghìn năm và đến thế kỷ thứ XVI, khi ngành in đã tương đối phát triển thì sách vở của họ tính ra tổng số nhiều hơn toàn thế giới gom lại. Khi Âu Châu vẫn còn chưa có một hệ thống văn tự thì cung đình nước Tàu đã có được một tàng thư các chứa đến 50,000 quyển sách. Từ thế kỷ thứ VI, người Trung Hoa đã có một hệ thống giáo dục và thi cử để tuyển dụng nhân tài thay thế cho hình thức đề bạt, tiến cử.[1]

VÓ NGỰA VÀ CÁNH CUNG _ Nguyễn Duy Chính

  


Ở trên là tác phẩm của

Vương Hoài Khánh (王懷慶 – Wang Huaiqing)

 nhan đề Bá Nhạc (Bole, a Wise Old Man Who Knows How to Choose Horses) - 1980. Sáng tác sau cuộc Cách Mạng Văn Hóa của Trung Quốc

Tranh sơn dầu, trưng bày tại National Art Gallery Collection, Beijing 1980 

Miêu tả cảnh Bá Nhạc đau lòng khi trông thấy một con tuấn mã bị bắt đi kéo một chiếc cối xay lúa. 

Trích trong The New Chinese Painting (1949-1986)

của Joan Lebold Cohen (Harry N. Abrams, Inc. 1987) tr. 78


Ngựa nghe nói, tím gan, nổi phổi,
Liền chạy ra hầm hí vang tai :
"Ớ ! này, này, tao bảo chúng bay,
Ðố mặt ai dài bằng mặt ngựa ?

(Lục súc tranh công)

 

LỜI MỞ ÐẦU

Mấy câu thơ dẫn thượng là phần mở đầu của Con Ngựa trong tác phẩm Lục Súc Tranh Công học hồi đệ Thất (lớp 6) mà nay người viết còn nhớ được. Con ngựa là một sinh vật quan trọng có ảnh hưởng lớn đến lịch sử phát triển của loài người, chắc chắn phải có nhiều điều đáng nói hơn cái tự hào hết sức lạc quan kia.

Ở nước ta, con ngựa không quan trọng bằng con trâu, con lợn (heo) – và cũng hiếm có – nhưng ở Trung Hoa cũng như trong lịch sử nhân loại, vai trò của nó to lớn hơn nhiều. Có lẽ vì ngựa không phải là một con vật bản địa nên chúng ta ít thấy ngoài những con ngựa ở trường đua và mấy con ngựa còm, đầu có một túm lông gà uể oải kéo xe thổ mộ khá thông dụng ở miền Nam vài chục năm trước. 

Trong ngôn ngữ thường ngày người Tàu chúc tụng nhau bằng câu Mã Ðáo Thành Công (馬到成功) và khi nói tới một nghệ thuật phi phàm ngưòi ta mô tả bằng bốn chữ Thiên Mã Hành Không (天馬行空). Người Trung Hoa cũng thường treo những bức tranh tám con ngựa dưới nhan đề “Bát Tuấn Ðồ”. 

Ngựa là một con vật ảnh hưởng nhiều đến văn hóa Trung Hoa. Trong mười hai con giáp, con Ngựa tượng trưng cho năm Ngọ, nằm giữa năm Tị (con Rắn) và năm Mùi (con Cừu theo người Trung Hoa và con Dê theo Việt Nam). Trong văn chương và hội họa, ngựa lại càng quan trọng, nhiều thời kỳ con vật này được coi như một đề tài phổ thông và nhiều danh sĩ nổi danh gắn liền với tài vẽ ngựa như Hàn Cán (韓幹 - Han Gan), Vương Duy (王維 - Wang Wei), Lý Công Lân (李公麟 - Li Gonglin) đời Ðường, Triệu Mạnh Phủ (趙孟頫 - Zhao Mengfu), Nhiệm Nhân Phát (任仁發 - Ren Renfa) đời Nguyên. Tuy nhiên nổi tiếng hơn cả có lẽ là họa sĩ Giuseppe Castiglione, một nhà truyền giáo người Ý được giữ lại trong cung nhà Thanh dưới Hán danh Lang Thế Ninh (郎世寧 - Lang Shining). Ông vẽ nhiều bức tranh truyền thần màu rất đẹp, trong đó có những bức tranh vẽ người Tây Vực tiến cống ngựa. Ngoài ra chúng ta còn thấy rất nhiều điêu khắc, tượng, hình ảnh lịch sử có liên quan đến con vật, đóng góp một phần không nhỏ vào việc tìm hiểu văn hóa cổ thời.

Ngựa trở thành một biểu tượng cho quyền quí và thanh cao từ đời Ðông Chu khi người ta đề cập đến “thiên lý mã”, là những con bảo câu có thể chạy nghìn dặm một ngày (khoảng 300 km ngày nay). Người nổi tiếng nhất trong những tướng sư chuyên coi tướng ngựa là Tôn Dương (孫陽 - Sun Yang), sống vào khoảng thế kỷ thứ VII trước TL. Vì tài của ông, người ta gọi ông là Bá Nhạc (hay Lạc – 伯樂 - Bole) là tên chòm sao Scorpio được coi là cai quản các giống thiên mã trên trời. Bá Nhạc xem xét xương và cấu trúc của con ngựa rồi có thể nói đúng các đặc tính của nó, và ông chỉ cần liếc qua con ngựa nào trong chợ là con đó tăng giá ngay.

Người ta còn huyền thoại hóa rằng Bá Nhạc có thần giao với giống ngựa nên một con bảo mã bị bắt phải kéo xe, trông thấy ông liền hí lên khiến ông phải xuống vừa vỗ về con vật vừa khóc. Hàn Dũ đời Hán cũng đã từng viết rằng nếu không có Bá Nhạc thì không có tuấn mã cũng như không có vua hiền thì không có tôi trung để khuyến khích các bậc quân vương trọng dụng người hiền tài.

Ngày nay còn truyền lại một cuốn Mã Kinh (馬經 - Classic of Judging Horses) tương truyền là do Bá Nhạc viết, trong đó nói rằng thiên lý mã có mười lăm xương sườn thay vì mười như ngựa thường.[1] Chính vì thế nhiều họa sĩ đã vẽ những bức tranh ngựa còm (emaciated horse) với dụng ý nhắc nhở con người là gian khổ giúp chúng ta mạnh mẽ hơn.

Lịch sử nước Tàu, trong chính sử cũng như trong tiểu thuyết đã nhắc nhở đến tên nhiều con ngựa nổi tiếng chẳng hạn con Xích Thố của Quan Vũ trong Tam Quốc Chí, con Ô Truy của Hạng Vũ trong Tây Hán Chí, hay con Hoàng Phiêu của Tần Quỳnh (Thúc Bảo) trong Thuyết Ðường. Trên thực tế những con bảo mã đó không phải là yếu tố quyết định thành bại của chủ tướng như những tiểu thuyết gia thêm mắm dặm muối, mà vai trò của loài ngựa như một phương tiện di chuyển hay dụng cụ chiến tranh mới thực sự quan trọng. Cũng tương tự, cây cung là dụng cụ săn bắn gắn liền với sinh hoạt của loài người không biết từ bao giờ nhưng xuất hiện khắp mọi nơi, từ rừng sâu núi thẳm đến những quốc gia đã văn minh nhưng cũng chỉ là một trong nhiều loại vũ khí khác nhau của con người nguyên thủy.

Tuy nhiên, chỉ khi người du mục ở Trung Á biết kết hợp sức mạnh và lợi điểm của cây cung liên hợp (composite bow) với sức di động (mobility) của giống ngựa vùng mạc bắc, họ mới tạo thành được sức mạnh khủng khiếp để trở thành một đế quốc hùng mạnh vào thế kỷ XIII, XIV. Ðế quốc đó như một vết dầu loang, lan rộng sang khắp vùng Tây Á, tiêu diệt những quốc gia hết sức bạo tợn và dũng mãnh trong thế giới Hồi giáo và Thiên Chúa giáo rồi theo đà tràn xuống miền nam chiếm lĩnh cả một khu vực văn minh bậc nhất thế giới là nước Trung Hoa.

Một điều lạ là sức mạnh tưởng như vô địch đó lại bị chặn đứng bởi những quốc gia nhỏ bé vùng Ðông Nam Á, trong đó có Ðại Việt. Những quốc gia đó có chung một mẫu số là biết khai thác cái sở trường của mình, dựa lưng vào thành lũy thiên nhiên, dùng chiến tranh du kích để tiêu hao, lấy trường kỳ nhàn nhã để chống với nhọc mệt. 

Riêng trong bài này, chúng tôi muốn xuyên qua vai trò giống ngựa và cây cung của những bộ tộc du mục để đưa ra cái tương phản của khung cảnh thế giới vào thời đại Nguyên – Mông, cái ưu thắng của người biết vận dụng phương tiện chiến tranh vào việc chinh phục những khu vực khác, đồng thời cũng nhắc đến sự diệu dụng của một dân tộc còn rất sơ khai đã đem cái “đoản” của mình để chống với cái “trường” của địch. 

Chủ Nhật, 8 tháng 2, 2026

ÐÔNG Y 東 醫. _ Nguyễn Duy Chính


Cho đến gần đây, ở các nước Âu Mỹ người ta vẫn nghĩ rằng chỉ Tây y là dựa trên căn bản khoa học và có giá trị, những phương pháp chữa trị khác đều bị hạn chế, không đáng tin cậy. Thế nhưng những khủng hoảng về y tế mới đây, cả trên việc chữa chạy một số bệnh trầm kha lẫn phí tổn điều trị đã khiến cho người ta phải xét lại nhiều quan điểm, trong đó có cả việc chấp nhận một số phương pháp bổ sung (alternative medicine) để phụ với y thuật qui ước (conventional medicine). Tuy nhiên, bên cạnh những phương pháp chữa bệnh tương đối thô sơ và một số hình thức ngoại khoa của nhiều bộ môn dân gian mà hiệu quả còn đang trong vòng nghiên cứu, những y gia Âu Mỹ đang tìm hiểu và đánh giá lại y học Trung Hoa, vì đây không phải chỉ giản dị là một ngành thảo dược y (herbal medicine), dùng một số cây cỏ trong thiên nhiên để chữa bệnh thuần túy do kinh nghiệm cổ truyền như người ta thường thấy trong một số bộ lạc thiểu số.

Y học Trung Hoa có một quá trình lâu dài, có cơ sở lý luận và có cách thức điều trị, bao gồm cả phương (方) lẫn pháp (法). Nhiều đặc điểm và quan niệm y khoa của Trung Hoa được xem là rất tiến bộ, về cả phép chữa lẫn cách bào chế thuốc. Ðông y cho rằng trị bệnh phải trị từ lúc bệnh chưa phát, mỗi cá nhân là một tiểu vũ trụ có những nét đặc thù và vì thế thuốc men liều lượng phải gia giảm tùy từng người, tùy từng lúc, và đối với mỗi con bệnh, người thầy thuốc phải đưa ra một chiến lược khác nhau, uyển chuyển linh động, lúc tiến lúc thoái, khi kinh khi quyền chẳng khác gì một viên tướng ngoài mặt trận. Người thầy thuốc lại không hành xử như một nghề chuyên môn, mà thường phải nắm vững tình trạng sinh hoạt và tâm tính bệnh nhân, nhiều khi phải ở chung với gia chủ một thời gian trước khi đưa ra một biện pháp chữa trị. Biện pháp đó có thể bao gồm nhiều cách thức, đổi cách ăn uống, tập luyện thân thể, quan niệm sống. Nhiều danh y vốn dĩ là đạo sĩ, tinh thông nhiều ngành bao gồm tam giáo cửu lưu. Hoa Ðà (華陀), một danh y đời Tam quốc cũng là người sáng tạo ra Ngũ Cầm Hí (五禽戲), một phương pháp tập luyện dựa theo động tác của năm loài vật. Mỗi thang thuốc là một tổng hợp cân đối dùng để điều chỉnh lại những mất thăng bằng, giúp cho con bệnh có đủ sức để đối kháng lại ngoại tà chứ không thay thế con bệnh làm nhiệm vụ phòng chống bệnh. Những quan niệm âm dương, khí huyết, tạng phủ, kinh lạc … không phải chỉ là một mớ tín niệm mơ hồ mà nhiều phần đã được kiểm chứng một cách khoa học. 

Thứ Bảy, 7 tháng 2, 2026

Thứ Sáu, 6 tháng 2, 2026

Thế giới thơ mộng Đinh Cường: Đi Vào Cõi Tạo Hình II _ Phan Tấn Hải



    Từ trái: Bìa sách Đi Vào Cõi Tại Hình II, 2025; Đinh Cường vẽ Bùi Giáng sơn dầu trên bìa 30x48cm, 1990; Đinh Cường vẽ Bửu Chỉ, sơn dầu trên giấy 45x51cm.  

 
Giải thích thế nào về một cảm giác lơ lửng, lâng lâng như say sau khi đọc tuyển tập  “Đi Vào Cõi Tạo Hình II” của họa sĩ Đinh Cường (1939-2016)? Khi tôi khép sách lại và vài ngày sau lại mở ra đọc lại, và rồi lại ngưng vài ngày rồi đọc lại. Tôi bâng khuâng. Tôi lạc lối. Như đang bước trên mây. Thế giới trong sách như dường tách biệt với cõi đời đầy những xung đột thế gian quanh tôi. Cuốn sách đưa độc giả vào một thế giới cực kỳ thơ mộng và rất riêng tư của Đinh Cường.

Từng trang sách “Đi Vào Cõi Tạo Hình II” là một cuộc đi dạo với Đinh Cường trong một cõi của thơ, của tranh, của tượng, của mỹ thuật và của tình bạn nghệ sĩ. Tuyển tập II dày 180 trang, in trên giấy đẹp, dày để giữ hình ảnh, màu sắc của các họa phẩm gần như nguyên vẹn ở mức tối đa.

Chúng ta có thể nhắc rằng, trước đó, tuyển tập “Đi Vào Cõi Tạo Hình” (có thể hiểu là tập I) ấn hành năm 2015 là 16 bài viết của Đinh Cường viết về 16 họa sĩ/điêu khắc gia thành danh trước 1954: Lê Phổ, Lê Văn Đệ, Mai Thử, Nguyễn Gia Trí, Tôn Thất Đào, Nguyễn Đỗ Cung, Điềm Phùng Thị, Trương Thị Thịnh, Tạ Tỵ, Văn Đen, Nguyễn Văn Phương, Võ Đình, Bùi Xuân Phái, Thái Tuấn, Duy Thanh, Ngọc Dũng.

Và bây giờ, trong những tuần lễ cuối năm 2025, tuyển tập “Đi Vào Cõi Tạo Hình II” được ấn hành, gồm nhiều bài viết Đinh Cường viết về các họa sĩ/điêu khắc, và các nhà thơ có họa phẩm: Lê Thành Nhơn, Nguyễn Trung, Đỗ Quang Em, Nguyên Khai, Nguyễn Phước, Trịnh Cung, Mai Chửng, Lê Tài Điển, Hoàng Ngọc Biên, Nguyễn Trọng Khôi, Rừng, Âu Như Thuy, Choé, Thanh Trí, Tôn Thất Văn, Tôn Nữ Kim Phượng, Bửu Chỉ, Hoàng Đăng Nhuận, Dương Đình Sang, Nguyễn Đình Thuần, Khánh Trường, Du Tử Lê, Văn Cao, Bùi Giáng, Trịnh Công Sơn... Trong đó, Đinh Cường kể chuyện nhà thơ Du Tử Lê cuối đời cầm bút vẽ, và về nhà thơ Bùi Giáng trong một cơn đột hứng đã tự vẽ chân dung.

Cuối sách là bài của ba người viết khác: Ngô Thế Vinh viết về họa sĩ Nghiêu Đề, Đỗ Long Vân viết giới thiệu bằng tiếng Pháp cho lần triển lãm tranh sơn dầu Đinh Cường 1965 - Bửu Y dịch Việt Ngữ, và bài Trịnh Công Sơn viết cho lần triển lãm tranh Đinh Cường tại Đại Học Duyên Hải 1974.

Bản thân tôi là nhà báo, không chuyên môn về các lý thuyết hội họa và thi ca, chỉ cảm nhận theo tự nhiên như một độc giả, và có những suy nghĩ không tìm được chữ đầy đủ để mô tả. Tuyển tập II là các bài Đinh Cường viết về những người cùng thế hệ của ông, có thể hơn hay kém ông vài tuổi, cùng trưởng thành và thành danh trong bầu không khí nghệ thuật của Miền Nam VN, và một số người, trong đó có ông, có cơ duyên ra hải ngoại định cư.

Đinh Cường viết rất gần với đời sống, tránh những chữ bí hiểm về các lý thuyết hội họa mà nhiều nhà phê bình ưa sử dụng (may mắn, Đinh Cường cũng có lúc phê bình, nhưng không dùng các chữ khô khan để chúng ta phải dò trong tự điển). Tuyển tập “Đi Vào Cõi Tạo Hình II” của Đinh Cường là một trong những tập sách hiếm hoi cho thấy rõ hành trình nội tâm của một họa sĩ Việt Nam và thế hệ nghệ sĩ đồng thời đã sống và sáng tác giữa nhiều biến động lịch sử của quê nhà, và một đời sống sáng tạo luôn hướng về cái đẹp thuần khiết.

Tuyển tập “Đi Vào Cõi Tạo Hình II” không chỉ là tập hợp bài viết về hội họa. Nhìn chung, sách này giống như thế giới của chữ, nét vẽ, và màu sắc trên trang giấy, nơi Đinh Cường ghi lại những suy tư, hồi ức, kỷ niệm và những rung động rất riêng khi đối diện với nghệ thuật. Đinh Cường viết về bằng hữu nghệ sĩ, về những bức tranh, những buổi triển lãm, những cuộc gặp gỡ không quên, và viết về một cõi tạo hình nhẹ nhàng, thơ mộng như một hơi thở thiền, với cặp mắt lặng lẽ quan sát – chỉ nơi đó, Đinh Cường mới thực sự thấy mình đang sống.

Con trai Đinh Cường là Đinh Trường Giang, thay mặt mẹ và hai em, khi ấn hành “Đi Vào Cõi Tạo Hình II” đã giải thích trong Lời Thưa:

 “Đây là những đoạn ghi của ba chúng tôi (như các đoạn ghi gọi là thơ) về cõi tạo hình, đã đăng trên các tạp chí, các trang mạng, không phải là sách chuyên môn có phân tích và nhận định mà chỉ thuần tình cảm chủ quan của tác giả với các họa sĩ đã từng gặp và tiếp xúc.

Tập II này viết về những họa sĩ cùng thời của ông từ 1957 đến 1966 thành lập Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam và vài bạn bè họa sĩ trẻ. Đáng tiếc là còn vài người ông chưa kịp viết bài trước khi qua đời, nên có thể xem đây là một công trình dang đở. Tuy nhiên chúng tôi vẫn muốn tập hợp các bài đã viết lại để in thành sách lưu giữ như một kỷ niệm.” (trang 7)

Đinh Cường là một nghệ sĩ đa tài, đa dạng. Chúng ta thấy họa phẩm của Đinh Cường vẽ theo phong cách trừu tượng, như tấm tranh dùng nơi trang bìa “Đi Vào Cõi Tạo Hình II”, như dường khác hoàn toàn với phong cách  vẽ chân dung theo nét đen trắng như họa phẩm Lê Thành Nhơn qua nét vẽ Đinh Cường (trang 18), hay phong cách vật liệu hỗn hợp mixed media với Chân dung Đỗ Quang Em qua nét vẽ Đinh Cường (trang 35), cũng sẽ khác với phong cách Đinh Cường vẽ Bửu Chỉ với sơn dầu trên giấy (trang 99), và cũng rất khác với bức tranh Đinh Cường vẽ Bùi Giáng với sơn dầu trên giấy (trang 135), và nhiều tranh với các phong cách biến đổi khác. Như thế, hẳn là Đinh Cường đã vẽ theo cảm hứng, mỗi tranh mỗi phong cách khác.

Nhiều năm trước khi có hai tuyển tập "Đi Vào Cõi Tạo Hình" (I và II) của Đinh Cường, độc giả hải ngoại cũng từng đọc một số sách về mỹ thuật và phê bình hội họa của Huỳnh Hữu Ủy, trong đó tác giả họ Huỳnh đã nổi bật với hai tác phẩm:

Nghệ thuật Tạo Hình Việt Nam Hiện Đại (VAALA xuất bản năm 2008)
Mỹ Thuật Việt Nam Ngày Xưa (NXB Văn Mới, 2014)

Tuy nhiên, chủ đề và văn phong Huỳnh Hữu Ủy khác với Đinh Cường. Và do vậy, cả hai là hai chân trời bổ túc cho nhau. Bản thân tôi có cơ duyên đọc cả hai người. Trong khi nhà phê bình Huỳnh Hữu Ủy viết có chỗ khó hiểu hơn, khi nghiên cứu và phân tích về lịch sử mỹ thuật và các lý thuyết hội họa, họa sĩ Đinh Cường viết dịu dàng và thơ mộng hơn, nhiều chất gần với Thiền hơn.
 
Bên cạnh vai trò là một họa sĩ, một nhà thơ, Đinh Cường cũng là chứng nhân của một thời kỳ đầy biến động. Những trang viết của ông giúp người đọc hiểu hơn về đời sống nghệ thuật miền Nam trước 1975 và cộng đồng nghệ sĩ Việt ở hải ngoại sau này. Đinh Cường không viết về nghệ thuật như một đối tượng nghiên cứu, mà viết về nghệ thuật như một phần đời mình, như hơi thở, như máu thịt.

Có một điểm nổi bật trong các trang sách Đinh Cường là chất thơ và trân trọng với nghệ thuật và cuộc đời. Bạn sẽ cảm được chất thơ này đã ngấm vào trang giấy và phả hương khi chúng ta đọc từng dòng chữ. Và chất thơ này được nói lên một cách trân trọng và yêu thương, như khi Đinh Cường từ Virginia nói về cuộc triển lãm tại Sài Gòn cuối năm 2010 và đầu năm 2011 của họa sĩ Nguyễn Trung, “Không về xem được tận mắt, nơi xa này tôi vẫn theo dõi tin tức, bởi vì theo tôi đây là cuộc triển lãm đáng chú ý nhất của người bạn mà tôi đã được biết qua mấy chặng đường anh đã đi trong hội họa... Tranh Nguyễn Trung từ bao giờ cũng làm tôi xúc động bởi tình yêu tuyệt đinh của nghệ thuật.” (trang 20)

Họa sĩ Đinh Cường cũng nói về ước mơ làm những công trình sáng tác lớn của bản thân và bằng hữu. Khi viết về nhà điêu khắc Lê Thành Nhơn -- người nổi tiếng với hai pho tượng đồng khổng lồ, tượng cụ Phan Bội Châu và tượng Quan Thế Âm ở Huế), Đinh Cường viết về nhà điêu khắc cùng tuổi và cùng khóa mỹ thuật này, “101 Nguyễn Du, hiện nay là một building cao tầng, có một galerie triển lãm tranh đẹp. Đi ngang qua, vẫn nhớ Lê Thành Nhơn, với đáng đi lều khều, hơi chồm tới trước, vẻ mặt đầy tư lự, cười nói đùa giỡn cùng bạn bè. Và bao giờ cũng trở lại với những ước mơ làm công việc lớn... Mộng chưa thành...”(trang 16)

Có những tình thân hiếm hoi trong giới họa sĩ thời đó: mỹ thuật miền Nam Việt Nam không có nhiều người, đếm đi đếm lại các họa sĩ nổi tiếng không hơn 30 người (tôi ước tính, có thể không chính xác). Họa sĩ Rừng là bạn xưng hô mày-tao với họa sĩ Đinh Cường. Có những chi tiết không nhiều người biết: họa sĩ Rừng từng đi lính VNCH, rồi đào ngũ, bị quân cảnh VNCH bắt đưa ra chiến trường làm lao công đào binh. Đầu tháng 4/1975, họa sĩ Rừng bị Bắc quân bắt làm tù binh ở Ban Mê Thuột (trang 70-71). Đó là một thời kỳ xuất hiện rất nhiều tài năng, vì bản thân tôi thời mới lớn là người say mê đọc các truyện ngắn do họa sĩ Rừng sáng tác, ký tên là Kinh Dương Vương.

Về nhà thơ Bùi Giáng, có một số chi tiết ít người biết về đời sống của thiên tài đầy chữ nghĩa này. Bùi Giáng cũng là một họa sĩ từng triển lãm tranh. Đinh Cường kể lại về Bùi Giáng, “Anh đã ở qua rất nhiều nơi, những năm 1960, đường Phan Thanh Giản, nhà cháy, về đường Trương Tấn Bửu, có lúc ở trong Đại học Vạn Hạnh. Thời kỳ này anh vẽ nhiều tranh bột màu trên giấy, có khi là bút chì sáp, nhiều nhất là bút bi. Đã triển lãm tranh bột màu lần duy nhất tại nhà sách Albert Portail (về sau là nhà sách Xuân Thu, đường Tự Do, Sài Gòn).” (trang 134)

Trong tuyển tập II, có một nữ họa sĩ rồi trở thành ni sư, nhưng lại không nghe giới hoạt động Phật giáo nói tới. Đó là họa sĩ Tôn Nữ Kim Phượng, trước khi trở thành Ni sư Thích Nữ Diệu Trang. Họa sĩ Đinh Cường để ra 8 trang viết về họa sĩ ni sư này:

Bây giờ Thích Nữ Diệu Trang đã nằm yên nghỉ dưới bóng tháp bên sân chùa Báo Quốc - Huế. Tôi có cơ duyên được thắp cây hương trước quan tài chị quàn ở chùa Diệu Hỷ bên Gia Hội có Thích Nữ Như Minh vào tháng 8 năm 2000 nhân mùa hè, từ Virginia về, lần nào cũng về thăm Huế, quê ngoại tôi ở đó và cũng còn vài người bạn cũ.

Tôi thật lúng túng trước tên gọi, Thích Nữ Diệu Trang, pháp danh Nguyên Nghi hay chỉ gọi thế danh Tôn Nữ Kim Phượng. Bởi ít ai biết dưới màu áo lam kia, dưới vóc dáng khoan thai đài các kia, dưới gương mặt nụ cười hiền kia là một tâm Bồ Tát với đôi bàn tay tài hoa còn phụng hiến cho Nghệ Thuật (tôi không thích dùng nữ họa sĩ, nữ văn sĩ, vì nghệ thuật khi đã thành danh là một tên gọi, không nam không nữ). Họa sĩ Tôn Nữ Kim Phượng, người bạn cùng thời học ở trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế, lúc trường còn tọa lạc trên đường Phan Đình Phùng, bên bờ sông Bến Ngự, những năm cuối 50 đầu 60...” (trang 88)

Thế rồi, tới thời kỳ sau 1975... họa sĩ Đinh Cường kể tiếp rằng vị ni sư này là người giúp các họa sĩ, “Hình ảnh Tôn Nữ Kim Phượng luôn bên mẹ, nhất là những tháng ngày sau tháng 4-1975, tôi thường lên thăm bác và chị ở chùa Già Lam, lúc còn Thầy Trí Thủ trụ trì. Nhớ thời gian khó nhất mà chị vn có những hộp màu nước Guitar của gia đình ở ngoại quốc gởi về thật quý, và chị đã chia sẻ cùng bạn bè để có màu vẽ tranh lụa kiếm sống.

Nhớ là Tôn Thất Văn (một họa sĩ vẽ tranh lụa giỏi, tốt nghiệp khóa đầu tiên Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế cùng với Nguyễn Thị Thanh Trí, Hoàng Thị Diệm Phương, Thái Hạc Oánh, Trần Thị Quỳnh Chi ...) quay quắt tìm một ống màu vàng chanh (jaune citron) khi bức tranh lụa lớn, dài do khách đặt, vẽ gần xong mà thiếu màu cần thiết ấy, tôi đã tìm xin Phượng đưa cho bạn... còn gì đẹp hơn cử chỉ ấy...” (trang 93-94)

Đinh Cường nhận định và đưa ra một đề nghị: “Tôn Nữ Kim Phượng với số lượng tranh vẽ không nhiều, nhưng đã để lại một thế giới hội họa cho riêng mình, hay nói như nhà phê bình nghệ thuật Thái Bá Vân: cái thế giới ở ngoài hội họa mới chính là hội họa. Thật vậy chăng, người họa sĩ như xa lạ ấy, với tâm hồn của một Thích Nữ như đã hóa thân, tôi nghĩ, chị đã để lại cho Huế, nơi chị sinh ra và lớn lên, một cây bông Phượng Vàng quý, hiếm - là những tác phẩm của chị sẽ được sưu tầm và lưu giữ trong Viện Bảo Tàng Mỹ Thuật Huế, nêu có, là một ước muốn chính đáng cho bộ mặt Văn hóa Huế. Viết về Tôn Nữ Kim Phượng là viết về một tiếng nói, một giọng cười đã tắt, mà vẫn còn âm vang mãi một lời kinh. Nghệ thuật như một lời kinh cứu khô. Và dáng dấp gầy cao, khoan thai đài các của Phượng vẫn còn in dấu trong lòng bạn bè...” (trang 94)

Một thiếu sót lớn tới bây giờ: chưa thấy tài liệu nào của Phật giáo nói về Ni sư Thích Nữ Diệu Trang, người nổi tiếng khi ngoài đời là họa sĩ Tôn Nữ Kim Phượng. Có phải vì Ni sư giữ hạnh ẩn tu sau khi thọ đại giới?

Có một điểm không được Đinh Cường (và cả Huỳnh Hữu Ủy) nhắc tới nhiều, có lẽ vì dễ gây ra đau đớn: đó là nỗi buồn chiến tranh thời đất nước còn chia cắt. Đó là nỗi buồn của một thế hệ nghệ sĩ bị chia đôi, khi bạn bè thân thiết — những người từng uống cà phê chung, làm thơ chung, mơ mộng chung — một hôm bỗng đứng ở hai phía của một cuộc nội chiến. Phải đọc kỹ lắm, mới thấy một vài tiếng thở dài của vài người trong thế hệ này. Tôi là người thế hệ đi sau, không hiểu hết, và chỉ đoán mơ hồ là thế, khi đọc về cái chết của nhà thơ Ngô Kha, hay chuyện họa sĩ Bửu Chỉ bị tù vì biểu tình thời kỳ trước 1975 và rồi cũng bị trù dập vài năm sau khi đất nước thống nhất.

Tuyển tập “Đi Vào Cõi Tạo Hình II” của Đinh Cường có quá nhiều thông tin cần đọc cho người quan tâm về sáng tác mỹ thuật và về các họa sĩ nổi tiếng ở Miền Nam VN trong gần một thế kỷ qua, từ lời kể của Đinh Cường, một chứng nhân văn hóa và lịch sử. Người điểm sách không thể ghi hết những điểm cần chú ý, như về hoàn cảnh nhạc sĩ Trịnh Công Sơn khi bước vào sáng tác hội họa, hay cái nhìn của nhà văn Ngô Thế Vinh về họa sĩ Nghiêu Đề (mà họ Ngô gọi là bạn thời tấm cám).

Tuyển tập này là một tác phẩm độc đáo, không chỉ nhờ ngòi bút thơ mộng của họa sĩ Đinh Cường, mà còn vì có quá nhiều chi tiết về các họa sĩ mà chúng ta không gặp nơi các sách khác.

Phan Tấn Hải
 06/02/2026

Thứ Năm, 22 tháng 1, 2026

CHIỀU TRÊN PHÁ TAM GIANG

Thơ Tô Thuỳ Yên

[ Bản dịch tiếng Pháp của Liễu Trương ]


1.
Chiếc trực thăng bay là mặt nước
Như cơn mộng nhanh.
Phá Tam Giang, phá Tam Giang,
Bờ bãi hỗn mang, dòng bát ngát,
Cát hôn mê, nước miệt mài trôi.
Ngó xuống cảm thương người lỡ bước,
Trời nước mông mênh, thân nhỏ nhoi.
Phá Tam Giang, phá Tam Giang,
Nhớ câu ca dao sầu vạn cổ.
Chiều dòn tan, nắng động nứt ran ran.
Trời thơm nước, thơm cây, thơm xác rạ,
Thơm cả thiết tha đời.

Thứ Ba, 20 tháng 1, 2026

Không thể để Sông Hậu biến mất trong im lặng

Tác giả: Phạm Phan Long, P.E.
Tháng Một 2026

Lời giới thiệu của Viet Ecology Press

KS Phạm Phan Long khám phá sông Hậu đã bị xóa mờ, thậm chí xóa bỏ trên các bản đồ của Mekong River Commission (MRC), đã viết và gởi thư báo cáo và yêu cầu MRC vẽ cả hai nhánh sông Mekong rõ ràng như nhau, cùng có mặt trên tất cả các bản đồ của họ; đến nay vẫn chưa được trả lời; do đó tác giả viết thêm tài liệu này gửi cho đại diện các nước trong MRC Joint Committee khuyến cáo họ đặt Mekong River Secretariat trước trách nhiệm giải thích và giải quyết sự việc này.

Lời giới thiệu của KS Nguyễn Đức Toản

Đây là một cảnh báo nghiêm túc và rất đáng suy ngẫm về tính chính xác khoa học và trung lập địa lý trong các sản phẩm bản đồ - dữ liệu của Mekong River Commission. Việc Sông Hậu (Bassac) - một nhánh phân lưu mang gần 50% lưu lượng, đóng vai trò then chốt về phù sa, đa dạng sinh học và chống xâm nhập mặn - bị làm mờ hoặc “biến mất” trên nhiều bản đồ gần đây không còn là lỗi kỹ thuật thuần túy, mà đã chạm đến chuẩn mực khoa học và trách nhiệm thể chế.

Việc đối chiếu chặt chẽ giữa bản đồ, trạm quan trắc và dữ liệu thủy văn đã cho thấy sự thiếu nhất quán trong biểu đạt không gian. Trong bối cảnh ĐBSCL chịu sức ép lớn từ biến đổi khí hậu và quy hoạch thượng nguồn, việc “im lặng hóa” một dòng sông là điều không thể xem nhẹ. Đây là lời nhắc rõ ràng rằng: minh bạch dữ liệu không gian chính là nền tảng của quản trị bền vững.

Nếu không lên tiếng kịp thời, việc “xóa mờ trên bản đồ” rất dễ dẫn đến xóa mờ trong chính sách và đầu tư.Đây là lời nhắc mạnh mẽ rằng: bản đồ không trung lập; nó định hình nhận thức, và nhận thức sẽ định hình số phận dòng sông.

Ủy hội sông Mekong (MRC), là cơ quan liên chính phủ điều phối quản lý bền vững giữa Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam. MRC là tổ chức quốc tế cần thiết để quản lý bền vững lưu vực hạ lưu sông Mekong.