Nguyễn Duy Chính
Lời nói đầu: Khi còn sinh tiền, mỗi khi trao đổi trên điện thoại anh bạn vong niên của tôi là Phạm Xuân Hy thường đề cập đến những tập tục của người Trung Hoa cách đây chưa lâu nhưng nay đã thành dĩ vãng. Cũng có những chuyện nhiều người biết như bó chân, hoạn quan … nhưng cũng có những điều cần một chút công phu tìm kiếm cho có đầu có đuôi. Nhiều khi chúng ta rằng đó chỉ là việc tự nhiên nhưng đi sâu cũng có những nguồn gốc của nó. Chuyện cái bím tóc sau lưng người Trung Hoa là một. Để tưởng nhớ, tôi viết một bài ngắn về tóc đuôi sam mà nhiều người chúng ta còn thấy khi xem những tranh vẽ chế giễu người Tàu.
***

Một nhóm người Trung Hoa đang ăn. Nguồn: Wikipedia
Khi người Mãn Châu chiếm được Trung Hoa họ bắt dân chúng phải thay đổi trang phục. Những ai chống lại sẽ bị coi là phản loạn và chịu tội tử hình. Trong lịch sử, người Trung Hoa búi tóc và tết thành một cục trên đỉnh đầu. Cái búi tó ấy cũng là tập quán của người Việt, được coi như quốc hồn quốc tuý. Thời người Pháp mới sang, việc cắt bỏ búi tóc theo Tây phương vẫn bị coi như một hành động bất hiếu.
Ở Trung Hoa, hàng ngàn thợ cạo đầu thắt đuôi sam cũng phản đối vì phải thay đổi nghề nghiệp. Trước đây họ chỉ cần dao cạo và lược gỗ, nay họ phải mua một bộ đồ nghề mới với giá cao, một chi tiêu mà họ coi là phí phạm. Trong nhiều tháng dân chúng phản đối việc cắt tóc và do đó những khu vực do chính quyền Dân Quốc kiểm soát nay vẫn còn rất đông người để đuôi sam. Chính quyền nay phải áp dụng biện pháp mạnh. Năm 1913, một số cơ quan và đoàn thể có tinh thần cấp tiến đã đưa ra quyết tâm cưỡng bách phải cắt bỏ mái tóc dài. Tại nhiều đô thị lớn, những đoàn thanh niên được đưa ra đường nếu thấy ai còn để đuôi sam thì sẽ lẻn tới cắt trộm mái tóc của họ. Nhiều thành phố có quan nha thiết lập trạm cắt tóc những ai chưa tuân lệnh. Nhiều chuyện cãi vã xảy ra nhất là những người bị cắt bất ngờ nên đã nguyền rủa: “Chúng mày cắt tóc của tao thì sẽ có người cắt đầu chúng mày”. Tuy nhiên phần lới chỉ biết khóc lóc chạy trốn mặc dù cũng có một số hung hăng chống cự lại.
Ở nước ta cũng có phong trào đổi mới cắt tóc ngắn vào đầu thế kỷ do những nhà nho có óc tiến bộ đề xướng nhưng thực ra cũng có tính ép buộc của chính quyền Pháp. Nguyễn Vỹ, một nhà văn không mấy nổi tiếng thời tiền chiến nhưng lại khá thành công khi ông chủ trương một bán nguyệt san với tên Phổ Thông ở Saigon trong nhiều năm. Phổ Thông là một tạp chí dành cho đại chúng tương tự như Selection của Pháp hay Reader’s Digest của Mỹ, cung cấp những kiến thức khá hấp dẫn. Trong số những mục thường xuyên do chính Nguyễn Vỹ đảm trách có một truyện dài, nửa tiểu thuyết, nửa hồi ký nhan đề Tuấn, Chàng Trai Nước Việt (chứng tích thời đại từ 1900 đến 1970) kể về những biến đổi xã hội vào đầu thế kỷ XX, khi người Pháp tuy mới chiếm Việt Nam trong khoảng 40 năm nhưng đã thiết lập được một bộ máy hành chánh khá chu đáo. Giai đoạn này cũng là thời kỳ chuyển giao từ Hán học sang Tây học và Quốc Ngữ đưa đến những biến động tâm lý và xã hội khi người dân phải từ bỏ cách thức, tập quán cũ để theo đuổi những hình thức mới mà người Pháp đem sang. Bắt buộc đầu tiên mà học trò phải tuân thủ là không còn được để tóc dài như cha mẹ, ông bà mà phải hớt tóc ngắn mới được nhập học. Nguyễn Vỹ đã miêu tả rất sống động cái cảnh một thanh niên chuyển từ búi tóc sang hớt ca rê.

… Trưa hôm ấy, chàng thanh niên Lê văn Thanh về nhà thưa với cha, là ông Xã Quý, về việc cúp tóc. Ông Xã không chịu. Ông đập bàn, đập ghế, la hét om sòm:
— Con có cha, như cái đầu có tóc. Theo phong tục nước An-Nam, con phải để tóc, ấy là để thờ Cha Mẹ, ấy là có hiếu. Cắt tóc đi cũng như là từ bỏ cha mẹ. Tao theo sách thánh hiền dạy’ lễ giáo từ xưa tới nay của nước An-Nam như thế. Tao đấy đã 50 tuổi, ông Nội bà Nội mầy đã quá vãng rồi, mà tao còn búi tóc, để giữ đạo làm con cho trọn chữ Hiếu. Huống chi ngày nay tao còn sống mà mầy lại cắt cái búi tóc bỏ đi sao được! Chiều mầy vô trường thưa với Quan Đốc-Học như thế.
Nói xong, ông Xã ngồi khóc ròng rã. Chàng con trai Lê văn Thanh, cũng khóc nức nở. Bà Xã, ở dưới bếp chạy lên nghe câu chuyện của chồng vừa nói, cũng ngồi xuống ngạch cửa, khóc hu hu. Ông Xã nói tiếp, với giọng tức tối:
— Làm con, có cái búi tóc ở trên đầu để thờ Cha kính Mẹ mà cắt bỏ đi, thì còn gì là Cha con, Mẹ con nữa !… Mầy mà nghe lời người ta cắt bỏ cái búi tóc, thì là tao nhảy xuống giếng tao tự tử !
Ông lại khóc to lên, hu ! hu ! hu !
Ông Xã khóc, bà Xã khóc, chàng thanh niên Lê văn Thanh cũng khóc, nhưng rốt cuộc rồi cái búi tóc trên đầu chàng cũng phải cắt bỏ đi, tóc phải cúp « carré », và Quan Đốc học trường Nhà Nước đã truyền lệnh như thế. Nhưng năm 1910, tận nơi tỉnh lỵ mà tôi đang nói đây — cũng như tại các tỉnh khác ở Trung Việt, chỉ mới có một vài người làm nghề hớt tóc mà thôi. Chú Bảy theo ghe nước mắm vào Đồng Nai học nghề cúp tóc trước đó một vài năm. (Lúc bây giờ, cho đến khoảng 1920, ở các tỉnh Trung Việt, người ta vẫn gọi Saigon là Đồng Nai. Danh từ « Saigon » chưa được thông dụng) Chú mua kéo, « toon-đơ », dao cạo, cũng ở tại Đồng Nai, đem về mở tiệm cúp tóc ở tỉnh lỵ. Nói là mở tiệm, nhưng chú chỉ thuê một xó hè của một tiệm buôn khách trú, đặt một cái bàn con, một chiếc ghế đẩu, và treo một tấm kiếng trên vách tường, thế là đủ cho chú hành nghề. Chú treo tấm vải trắng phía ngoài đường, trên vải chú viết bằng mực Tàu, một chữ Tây: « COIFFURE », và chua ở dưới hai chữ Hán (Thế Phát: Cắt tóc). Chữ Quốc ngữ vì chưa được truyền bá, ít người biết, nên chú thợ hớt tóc chỉ viết quảng cáo bằng chữ Hán và chữ Tây, mặc dầu chữ tây cũng chưa mấy người học đến. Chú đề chữ tây cho oai, bắt chước chữ tàu học lỏm trong Đồng Nai, và thỉnh thoảng chú nói với một vài bác lính tập: “ Tui làm cốp-phơ cho quan Công-Sứ”.
Vì vậy mà trong tỉnh, người ta gọi chú là « chú Bảy cốp phơ ».






