Thứ Hai, 5 tháng 10, 2026

Nhật Ký An Lộc: chiến tranh nhìn từ bàn mổ

 

Nguyễn Văn Tuấn

 

Cuộc chiến Quốc - Cộng Việt Nam đã kết thúc hơn nửa thế kỷ trước, nhưng dư âm của nó vẫn còn rất lâu trong ký ức của mọi người Việt Nam. 

 

Ngày 13/4/1972, quân đội Bắc Việt mở cuộc tấn công vào An Lộc, thuộc tỉnh lỵ Bình Long, cách Sài Gòn chỉ chừng 100 km về phía bắc. Quốc lộ 13 bị cắt. An Lộc bị bao vây. Pháo kích diễn ra gần như liên tục. Cuộc chiến kéo dài cả ba tháng trời, và sau đó, An Lộc gần như chỉ còn lại những đống gạch vụn. 

 

Những con số cho thấy mức độ khốc liệt của trận đánh. Theo một nghiên cứu của Mỹ, đã có khoảng 78,000 quả đạn pháo rơi xuống An Lộc trong ba tháng. Lược lượng Việt Nam Cộng Hoà phòng thủ An Lộc chịu khoảng 5,400 thương vong; trong đó có khoảng 2,300 người chết hoặc mất tích. Tổn thật của phía Bắc Việt khó xác định hơn vì không có công bố chánh thức, nhưng phía Mỹ ước tính rằng có hơn 10,000 người chết và 15,000 người bị thương. Số thường dân bị chết và bị thương không thể xác định, nhưng có hàng chục ngàn người trong tỉnh Bình Long phải bỏ nhà đi tị nạn. 

 

Những dữ liệu trên cho chúng ta biết quy mô của trận An Lộc. Nhưng những con số không kể được những câu chuyện đằng sau. Câu chuyện là trong thành phố bị bao vây, có một bệnh viện nhỏ. Và, trong bệnh viện đó, có một bác sĩ trẻ tên là Nguyễn Văn Quý. 

 

Nhật Ký An Lộc là câu chuyện về những ngày tháng ác liệt đó, do chính Bác sĩ Nguyễn Văn Quý ghi lại. 







Có nhiều cách và góc nhìn để kể lại một cuộc chiến. Người chỉ huy có thể nhìn chiến tranh qua bản đồ, phòng tuyến và tương quan lực lượng. Người lính nhớ những cuộc hành quân, những người đồng đội đã hy sinh và những lần mình thoát chết. Nhà sử học có thể nhìn chiến tranh qua tài liệu và những quyết định của các trận đánh. Còn với một bác sĩ quân y, chiến tranh hiện ra trong những thân thể bị thương, những người lính đang mất máu, những ca mổ phải thực hiện trong vài phút. 

 

Nhật Ký An Lộc của Bác sĩ Nguyễn Văn Quý là câu chuyện chiến tranh nhìn từ góc độ đó. 

 

Cuốn sách được xuất bản vào năm 2002 tại California và được Tập san Y sĩ Việt Nam - Canada và Việt Ecology Press tái bản năm 2026. Trong hơn 400 trang, tác giả kể lại những ngày tháng ông làm bác sĩ giải phẫu tại Bệnh viện Tiểu khu Bình Long, đặc biệt là những ngày An Lộc trở thành một chiến trường ác liệt vào năm 1972. Đây là một nhựt ký chiến tranh, một tài liệu về quân y, và cũng là câu chuyện của một bác sĩ trẻ phải tìm cách giữ sự sống trong một hoàn cảnh nguy hiểm trực chờ mỗi giây phút. 

 

Có lẽ tác giả đã nói khá rõ ý nghĩa mà ông muốn gởi lại. Ngay đầu ấn bản mới, ông đề tặng cuốn sách cho "một thế hệ tuổi trẻ đã đi qua chiến tranh, nhiều người không trở về". Ông gọi những trang sau đó là ký ức về một "cuộc chiến tương tàn" gởi lại cho những thế hệ mai sau. 

 

Chính cách nhìn đó làm cho Nhật Ký An Lộc đáng được đọc hơn nửa thế kỷ sau khi những sự kiện trong sách xảy ra. 

 

Từ trường y đến chiến trường 

 

Tác giả tốt nghiệp Đại học Y Khoa Sài Gòn năm 1967. Ông là con trai độc nhứt của một quả phụ, và ông có thể xin miễn quân dịch. Tuy nhiên, ông đã chọn con đường binh nghiệp. Năm 1968, ông gia nhập Khoá 10 Y Sĩ Trưng Tập. Sau một thời gian phục vụ tại Trung Đoàn 43, Sư Đoàn 18 Bộ Binh.  Trong thời gian phục vụ ông trực tiếp chứng kiến những thuơng vong ngoài chiến trường, và tự nhận thấy khả năng của một bác sĩ ở đơn vị tác chiến khá giới hạn. Phần lớn công việc lúc bấy giờ là sơ cứu, rồi chuyển thương. Ông xin học thêm giải phẫu và sau đó về Bệnh viện Tiểu Khu Bình Long. 

 

Ông đến Bình Long ngày 13/4/1971. Gần đúng một năm sau, chiến tranh về đến tận bệnh viện. Sau khi Lộc Ninh thất thủ vào đầu tháng 4/1972, lực lượng Bắc Việt tiếp tục tiến về An Lộc, trong khi Quốc lộ 13 phía nam thành phố bị cắt nhằm ngăn tiếp viện đường bộ. Các trận đánh tại An Lộc trở thành phần quan trọng của cuộc tổng tấn công vào năm 1972. 

 

Bối cảnh quân sự đó cần được biết để hiểu cuốn sách. Nhưng tác giả ít khi nhìn chiến trrường từ tầm chiến lược. Phạm vi quan sát của ông cụ thể hơn: khi một đợt tấn công xảy ra, điều ông trực tiếp thấy là số người bị thương đưa vào. Khi một trận pháo kích bắt đầu, vấn đề trước mắt là làm sao tiếp tục mổ, thuốc còn bao nhiêu, nước còn bao nhiêu, người nào cần được cứu trước. Và, từ đó, bệnh viện trở thành một chiến trường khác. 

 

Một bệnh viện trong thành phố bị vây 

 

Điều tạo cho Nhật Ký An Lộc một vị trí khá đặc thù trong những tác phẩm viết về chiến tranh Việt Nam là mức độ chi tiết về thực hành y khoa.

 

Tác giả Nguyễn Văn Quý viết về lựa thương, gây mê, vết thương bụng, vết thương ngực, gãy xương, nhiễm trùng, v.v. Ông cũng viết về những điều rất căn bản của một bệnh viện mà trong thời bình chúng ta coi là đương nhiên: điện, ước, dụng cụ vô trùng, chỉ may, thuốc men, nhân viên, và khả năng chuyển bệnh nhân lên tuyến trên. 

 

Nhưng ở An Lộc, những yếu tố trên trở thành vấn đề. Có một chi tiết làm tôi nhớ lâu là chuyện chỉ khâu. Khi hết loại chỉ cần thiết để đóng bụng, ông dùng những sợi nylon lấy từ dây cột bao cát, khử trùng rồi dùng cho bệnh nhân. Ông kể trường hợp Đại uý Nghi được khâu bằng loại nylon này, sau đó vết thương lành mà ông không ghi nhận nhiễm trùng. Ông đã sử dụng cách này cho thêm 3 trường hợp trước khi được tiếp tế chỉ may. 

 

Chi tiết có thể là nhỏ, nhưng nó nói lên khá nhiều về y khoa chiến trường. Trong phòng mổ hiện đại, bác sĩ làm việc trong một hệ thống được thiết kế để kiểm soát rủi ro. Ở An Lộc, người bác sĩ phải tự tạo ra hệ thống đó từ những gì có sẵn, vì họ không có nhiều lựa chọn. 

 

Cuối cuộc chiến, Nguyễn Văn Quý ghi rằng mình đã thực hiện phẫu thuật cho 254 trường hợp mà ông gọi là "đại giải phẫu". Trong đó, 6 bệnh nhân tử vong tại chỗ, còn kết quả của những bệnh nhân được chuyển đi thì ông không có điều kiện để theo dõi. Ông cũng thú nhận việc ghi chép bệnh án gần như không thể duy trì được vì pháo kích trở nên dữ dội. Có những ngày mục tiêu đơn giản là mổ cho xong rồi tìm chỗ trú ẩn. 

 

Ấn bản 2026 có một chi tiết cần lưu ý khi xem cuốn sách như một tư liệu y khoa chiến trường. Trong phần phỏng vấn cuối sách, tác giải giải thích rằng con số 254 thực chất là tổng số ca phẫu thuật được ghi nhận, gồm cả đại phẫu và tiểu phẫu. Sự đính chánh này đáng giữ lại, vì nó cho thấy khoảng cách hơn nửa thế kỷ giữa biến cố và ký ức, đồng thời nhắc người đọc phân biệt giữa số liệu ghi trong hoàn cảnh chiến trường và cách diễn giải sau này. 

 

Tuy nhiên, dù gọi những trường hợp đó là gì, con số vẫn gợi ra một thực tế khó hình dung đối với người làm y tế thời bình. Mỗi ca là một con người cụ thể, một quyết định cần được đưa ra trong điều kiện thông tin, thời gian và phương tiện đều thiếu thốn trầm trọng. 

 

Khi người bên kia chiến tuyến trở thành bệnh nhân 

 

Theo tôi, chương "Người tù binh" là một trong những phần quan trọng nhứt của cuốn sách. Nếu chỉ chọn một câu chuyện để nói về con người Nguyễn Văn Quý, tôi sẽ chọn câu chuyện này. 

 

Hai tù binh bị thương được đưa vào bệnh viện. Một phụ nữ khoảng 23 tuổi bị thương ở bụng, và một thanh niên khoảng 21 tuổi bị gãy xương đùi. Nguyễn Văn Quý mổ cho cả hai. Ông mô tả giản dị:

 

"Tôi đã mổ cho hai người này, săn sóc họ cũng giống như những người dân khác, không phân biệt thù hay bạn".

 

Sau mổ, hai tù binh bị còng tay vào thành giường và có nhân viên an ninh canh giữ. Điều gây chú ý là Nguyễn Văn Quý đã dành khá nhiều dòng để nghĩ về cảm giác đau và tê mà cái còng có thể gây ra. Ông nhớ lại một bệnh nhân từ thời sinh viên từng bị cố định tay trong lúc truyền dịch và suy ra sự khó chịu mà những người tù binh phải chịu. Những ngày sau đó, ông nhận thấy thái độ dè dặt của họ dần thay đổi khi thấy bác sĩ và y tá chăm sóc cho họ giống như những bệnh nhân khác. Ở một đoạn khác, ông viết: "Tôi sẽ cố gắng trong khả năng của tôi đề cứu sống họ, cố giữ cho họ được toàn vẹn thân thể". 

 

Cả hai đều bình phục, họ cảm ơn ông và e kíp đã cứu sống mình. Ông viết rằng "Đây là tiếng nói ‘cám ơn’ đầu tiên của người nữ tù binh tôi nhận được từ khi cô ta nằm bệnh viện. Thật khác hẳn thái độ nghi kỵ và đề phòng lúc ban đầu."

 

Câu chuyện tiếp tục với một quan sát nhân văn. Những bệnh nhân khác trong trại ngoại khoa biết người phụ nữ là tù binh, nhưng tác giả không thấy thái độ thù ghét gì cả, Từ đó, ông viết rằng ngoài chiến trường hai bên có thể bắn nhau, nhưng khi một người bị thương bước vào bệnh viện thì "mọi người chỉ là bệnh nhân thôi". Ông nhắc đến việc họ cùng là người Việt, cùng ngôn ngữ, cùng phong tục, và cho rằng phần lớn những người đang trực tiếp chịu đựng cuộc chiến đều mong có một cuộc sống bình an. Từ góc nhìn đó, ông xác định y sĩ và y tá sẽ chữa trị "không phân biệt ta hay địch trên phương diện y khoa". Đọc Nhật Ký An Lộc, tôi nghĩ tính nhân văn của tác giả hiện rõ nhứt ở đây. Nó không được trình bày như một bài giảng về y đức, mà chỉ đơn giản qua những việc làm cụ thể.  

 

Một con người biết sợ 

 

Một chi tiết khác trong cuốn sách làm tôi chú ý là tác giả không cố gắng tạo ra một hình ảnh của một 'người hùng' trong thời chiến. Ngược lại, ông kể những lần chạy tìm hầm ẩn náo khi pháo rơi, những lần thoát chết vì tình cờ, những lo âu khi có một tiếng nổ qúa gần. Khi được hỏi có sợ hay không, câu trả lời được ghi rất gọn: "có chứ". 

 

Có lẽ chính sự thừa nhận cái sợ đó làm cho lòng can đảm dễ hiểu hơn. Can đảm ở đây không phải là trạng thái không biết sợ, mà là khả năng tiếp tục làm việc trong khi vẫn biết mình có thể chết bất cứ lúc nào. 

 

Tác giả còn có óc hài hước và khả năng tự chế giễu. Khi mới hành quân, ông kể chuyện mình còn ngây thơ đến mức nhìn thấy một cây phong lan đẹp giữa rừng và dự tính lúc trở về sẽ ghé lấy. Người lính đi cùng phải nhắc rằng đoàn quân lúc về chắc chắn sẽ đi một con đường khác. Những trang viết không phải chỉ có những thương vong, mà còn có những bữa ăn, chuyện trò bạn bè, những câu nói đùa và nỗi nhớ gia đình và những khoảnh khắc mà chiến tranh chưa lấy đi được. Những chuyện như thế xuất hiện xen giữa thương vong và pháo kích, tạo ra một nhịp rất đời thường. 

 

Một văn phong ít có ý thức viết văn 

 

Tác giả tự nhận rằng cách viết của ông có phần "lộn xộn". Ông giải thích rằng những sự kiện đang xảy ra thường kéo ông về những ký ức cũ, rồi từ đó ông lại trở về với hiện tại. Ông có thể kể về một ca mổ, rồi chuyển sang chuyện kiếm thức ăn; từ tiếng pháo nhắc đến một người quen; một thương binh lại nhớ về kỷ niệm khi còn là sinh viên. Tức là quá khứ và hiện tại cứ đan xen lẫn nhau trong những đoạn văn một cách "tự nhiên không gò ép". 

 

Văn chương của Nguyễn Văn Quý ít trau chuốt, giống như người lính viết thư về nhà trên ba lô vậy. Có những đoạn dài, những cuộc đối thoại được kể gần như nguyên vẹn, có những chi tiết tưởng như không cần thiết. Nhưng cảm giác chung là người viết đang kể lại những điều ông thấy hơn là nghĩ cách tạo ra ấn tượng cho người đọc. 

 

Một điểm quan trọng khác là hoàn cảnh hình thành bản thảo. Tác giả cho biết ông bắt đầu viết ngay tại An Lộc năm 1972 vì không biết mình có sống sót hay không. Ông cũng muốn gia đình biết những gì đã xảy ra khi ông chết. Khi chiến sự trở nên dữ dội, có lúc ông phải ngưng viết hai hoặc ba tuần vì quá bận chăm sóc thương binh. Sau này ông mới đánh máy lại bản thảo được gia đình giữ. 

 

Do đó, nếu đọc cuốn nhật ký như một người sử liệu, cần nhận ra những lớp thời gian. Có những quan sát được ghi giữa biến cố 1972; có lớp biên tập khi sách xuất bản năm 2002. Và, trong lần tái bản 2026 còn có lời tựa, bài giới thệu và phỏng vấn nhìn lại sau hơn nửa thế kỷ.  Những lớp thời gian đó có giá trị riêng, nhưng chúng nên được phân biệt khi dùng các chứng từ trong sách để nghiên cứu lịch sử. 

 

Ba cách nhìn về chiến tranh 

 

Đọc Nhật Ký An Lộc khiến tôi liên tưởng đến Mùa Hè Đỏ Lửa của Phan Nhật Nam và Nhật ký Đặng Thùy Trâm. 

 

Mùa Hè Đỏ Lửa là một trong những tác phẩm ký sự chiến trường nổi tiếng của miền Nam về cuộc tổng tấn công năm 1972. Phan Nhật Nam là một người lính và nhà văn quân đội. Mùa Hè Đỏ Lửa được viết khi chiến trường còn chưa nguội, bao quát nhiều mặt trận của năm 1972, trong đó có An Lộc, và về sau chính nhan đề cuốn sách gần như trở thành tên gọi của cả mùa chiến tranh đó. 

 

Văn của Phan Nhật Nam dữ dội, giàu hình ảnh, mang nhịp điệu của chiến trường, với những đơn vị quân đội, những trận đánh, cái chết và sự tan hoang của cả một vùng đất. Khi viết về An Lộc, ông nhìn thành phố như một chiến trường mà sự sống và cái chết diễn ra trên một quy mô gần như vượt khỏi sức tưởng tượng của con người. Nguyễn Văn Quý nhìn cũng một An Lộc từ một khoảng cách gần hơn nhiều. Ông không nhìn qua bản đồ hành quân hay đội hình tác chiến, mà qua những người bị thương được khiêng vào bệnh viện. Nếu Mùa Hè Đỏ Lửa cho chúng ta thấy An Lộc từ chiến trường, thì Nhật Ký An Lộc cho chúng ta thấy chiến trường từ bàn mổ. Hai cuốn sách vì vậy bổ sung cho nhau một cách tự nhiên. 

 

Đặng Thùy Trâm và Nguyễn Văn Quý gần như cùng thế hệ, cùng là bác sĩ, nhưng phục vụ ở hai chiến tuyến. Bà Trâm tốt nghiệp Đại học Y Hà Nội năm 1966, vào Quảng Ngãi và phụ trách bệnh xá Đức Phổ cho đến khi qua đời vào năm 1970. Nhật ký Đặng Thùy Trâm ghi lại những ca cấp cứu, sự thiếu thốn, cái chết của đồng đội, nhưng cũng dành rất nhiều chỗ cho tình cảm, lý tưởng, cô đơn và những suy tư của một người phụ nữ trẻ. Nguyễn Văn Quý ít trữ tình hơn; ông viết nhiều về vết thương, mổ xẻ, chỉ khâu, thuốc men, tản thương và những chuyện rất cụ thể của một bệnh viện bị vây. 

 

Nhưng có một điểm hai người bác sĩ gặp nhau: trước một người bị thương, bổn phận của người thầy thuốc là cứu người. Với Nguyễn Văn Quý, nguyên tắc đó được thử thách đặc biệt khi bệnh nhân là người lính phía bên kia. Ông đã mổ và chăm sóc cho họ “không phân biệt thù hay bạn”, và sau đó viết rằng khi vào bệnh viện thì “mọi người chỉ là bệnh nhân thôi”. Hai bác sĩ đứng ở hai chiến tuyến khác nhau, nhưng nghề y đưa họ về cùng một điểm: bảo vệ sự sống trong khi chung quanh họ là một cuộc chiến đang hủy hoại sự sống.

 

Viết đến đây, tôi không thể không nghĩ đến một nghịch cảnh đau lòng xảy ra chỉ 3 năm sau 1975. Một số hồi ký của quân nhân Việt Nam Cộng Hòa và một số công trình sử học ghi lại rằng, sau khi Tổng Y Viện Cộng Hòa ở Sài Gòn được tiếp quản ngày 30/4/1975, nhiều thương bệnh binh VNCH đang điều trị đã phải rời bệnh viện, trong đó có những người còn bị thương nặng. Các tài liệu chánh thức trong nước thuật lại việc tiếp quản theo một cách khác, nhấn mạnh việc tổ chức thuốc men và thực phẩm cho thương bệnh binh. Sự khác biệt giữa các nguồn tự nó cũng nói lên một vấn đề lớn hơn của ký ức chiến tranh: cùng một biến cố, nhưng những người ở hai phía có thể mang theo những ký ức rất khác nhau.

 

Chính vì vậy, câu “mọi người chỉ là bệnh nhân thôi” của Nguyễn Văn Quý càng đáng suy nghĩ. Trong chiến tranh, người ta có thể gọi nhau là địch. Nhưng trong bệnh viện, người đang đau đớn trước mặt người bác sĩ chỉ nên có một danh xưng: bệnh nhân.

 

Sau hơn nửa thế kỷ 

 

Trận An Lộc đã lùi vào lịch sử hơn nửa thế kỷ, và cuộc chiến cũng đã kết thúc từ lâu. Nhưng chiến tranh có một đời sống dài hơn tiếng súng. Nó còn lại trong ký ức của những người sống sót, trong những gia đình mất người thân, trong những câu chuyện được kể lại, và cả trong những câu chuyện không được phép kể.

 

Trong hơn nửa thế kỷ qua, lịch sử cuộc chiến tại Việt Nam phần lớn được kể từ quan điểm của "bên thắng cuộc". Điều đó có thể hiểu được về mặt chánh trị, nhưng nó tạo ra một khoảng trống về mặt lịch sử. Hàng triệu người Việt Nam đã sống trong Việt Nam Cộng Hòa, đã đi học, làm việc, yêu thương, lập gia đình, phục vụ trong quân đội, bị thương, chết và mất mát trong cuộc chiến ấy. Họ cũng là một phần của lịch sử Việt Nam. Nếu tiếng nói của họ vắng mặt, bức tranh mà chúng ta truyền lại cho những thế hệ sau sẽ không thể đầy đủ. 

 

Ở ý nghĩa đó, Nhật Ký An Lộc là một chứng từ đáng quý. Nó không phải là “sự thật cuối cùng” về trận An Lộc, vì không một nhựt ký cá nhân nào có thể làm được điều đó. Nguyễn Văn Quý viết từ vị trí của một bác sĩ quân y Việt Nam Cộng Hòa, với những niềm tin, giới hạn và cảm xúc của người trong cuộc. Chính vì vậy, cuốn sách này có giá trị như là một chứng từ. Muốn đến gần sự thật, chúng ta cần đặt nhiều mảnh ghép với nhau và cạnh nhau. 

 

Đọc một chứng từ của phía bên kia không có nghĩa là phải đồng ý với mọi nhận định của người viết. Nó chỉ đòi hỏi chúng ta thừa nhận một điều tưởng như rất đơn giản: người bên kia cũng đã sống, đã đau khổ, đã yêu thương, đã mất mát, và cũng có quyền kể lại câu chuyện của mình.

 

Đó là lý do tôi nghĩ Nhật Ký An Lộc nên có một chỗ trên giá sách của mỗi gia đình Việt Nam. Trên giá sách đó có thể có Nhật ký Đặng Thùy Trâm, Mùa Hè Đỏ Lửa, và những cuốn sách viết từ nhiều phía khác nhau của cuộc chiến. Không phải để con cháu chúng ta tiếp tục những tranh chấp của cha ông, mà để chúng hiểu rằng lịch sử Việt Nam rộng hơn bất cứ một câu chuyện chánh thức nào.

 

Nguyễn Văn Quý mở đầu cuốn sách bằng lời tưởng niệm “một thế hệ tuổi trẻ đã đi qua chiến tranh, nhiều người không trở về”, và muốn gởi lại ký ức về một “cuộc chiến tương tàn” cho những thế hệ mai sau. Tôi nghĩ sau hơn nửa thế kỷ, đó cũng là cách tốt nhứt để đọc cuốn sách này. 

 

Tiếng súng ở An Lộc đã im từ lâu. Những người từng cầm súng ở hai phía rồi cũng lần lượt ra đi. Điều còn lại là ký ức. Nhưng ký ức chỉ có thể trở thành lịch sử khi những tiếng nói khác nhau được quyền hiện diện. Nhật Ký An Lộc là một tiếng nói như thế, và đó là lý do cuốn sách này cần được đọc, cần được giữ lại, và cần được trao từ thế hệ này sang thế hệ khác.

 

 

Nguyễn Văn Tuấn 

Sydney, tháng 9 / 2026

 

 

___________

 

Tác giả Nguyễn Văn Tuấn là Giáo sư xuất sắc về y học chính xác thuộc Đại học Công nghệ Sydney (UTS) và Giáo sư y khoa thuộc Đại học New South Wales, Viện sĩ Viện Hàn lâm Y học Úc, Học giả của American Society for Bone and Mineral Research. Ông từng là một thuyền nhân, vượt biển đến Thái Lan vào đầu năm 1981, và được định cư ở Úc vào đầu năm 1982. Ông có nhiều đóng góp quan trọng cho chuyên ngành loãng xương toàn cầu và được Nữ hoàng Elizabeth Đệ Nhị trao tặng Huân chương Australia vào năm 2022. Ông là tác giả cuốn hồi ức Kangaroo Dreams (Nxb Quill Hawk, 2025) kể lại hành trình 45 năm định cư ở nước ngoài. 

 

Thứ Ba, 29 tháng 9, 2026

Thay cho Kết Từ: Cuộc Phỏng Vấn

21 CÂU HỎI CỦA BS NGÔ THẾ VINH 

VỚI BS NGUYỄN VĂN QUÝ

Dự án tái bản tác phẩm Nhật Ký An Lộc của BS Nguyễn Văn Quý, 24 năm sau lần xuất bản đầu tiên năm 2002, đồng thời mở ra một hướng đi xa hơn: chuẩn bị cho một ấn bản Anh ngữ tại một Nhà xuất bản Đại học.

Cuộc phỏng vấn này là một bước chuẩn bị cho Dự Án Tổng Thể của ấn bản tiếng Anh.

Tựa sách dự kiến:
AN LỘC DIARY / NHẬT KÝ AN LỘC

A South Vietnamese Military Physician’s Eyewitness Account of the 1972 Siege

Một bác sĩ giải phẫu miền Nam Việt Nam trong vòng vây, 1972

Tác giả: Bác sĩ Nguyễn Văn Quý
Chủ biên: Bác sĩ Ngô Thế Vinh
Dịch giả: Sẽ tuyển chọn
Người viết dẫn nhập lịch sử: Sẽ tuyển chọn
Hình thức dự kiến: Ấn bản Anh ngữ học thuật có chú giải
Lĩnh vực: Nghiên cứu Chiến tranh Việt Nam, Nghiên cứu Đông Nam Á, Quân y, Nhân văn y học, Chiến tranh và xã hội, Hồi ký và tư liệu gốc


Bác Sĩ Nguyễn Văn Quý và phu nhân, bà Quách Thị Minh, người ghi chép cuộc phỏng vấn. [Ảnh gia đình, tháng 09/ 2026]                                                                                                                                                                    


TẦM NHÌN VÀ MỤC ĐÍCH

Dự án không chỉ là dịch Nhật Ký An Lộc từ tiếng Việt sang tiếng Anh. Mục tiêu rộng hơn là xác lập nhật ký thời chiến của Nguyễn Văn Quý như một tư liệu gốc có kiểm chứng, góp phần vào nghiên cứu quốc tế về Chiến tranh Việt Nam.

Sau đây là phần trả lời các câu hỏi của BS Nguyễn Văn Quý, nguyên vẹn ở dạng bản thảo, hoàn toàn không hiệu đính hay cắt xén.

BS Ngô Thế Vinh, 09/2026


TÓM TẮT DỰ ÁN PHỎNG VẤN BS NGUYỄN VĂN QUÝ

(Chuẩn bị cho ấn bản Anh ngữ có chú giải của “Nhật Ký An Lộc”)

Người thực hiện: BS Ngô Thế Vinh

Mục tiêu: Thu thập lịch sử truyền khẩu (oral history), xác minh sử liệu, thiết lập nguồn gốc bản thảo (chain of custody) và tái dựng bối cảnh y khoa chiến trường.

NỘI DUNG 21 CÂU HỎI PHỎNG VẤN

I. LỊCH SỬ BẢN THẢO & SỰ KIỆN

Câu 1–8

1. Thời điểm, địa điểm, lý do bắt đầu viết nhật ký và ý định ban đầu: dành cho gia đình hay làm tài liệu lịch sử?

Ngay từ đầu trận đánh, tôi đã cảm thấy đây là một trận chiến lớn. Tôi quyết định ghi chép lại mọi việc, phòng trường hợp nếu không sống sót trở về thì người thân trong gia đình biết được những gì đã xảy ra và những gì tôi đã làm.

2. Hình thức bản thảo gốc năm 1972: sổ, giấy rời, loại bút, nơi viết; có bị hư hại không?

Tôi viết vào một cuốn vở học sinh bằng bút bi Bic. Nơi viết thường là vào ban đêm, dưới gầm giường trong phòng ngủ để tránh pháo kích. Rất may mắn là phòng ngủ của tôi không bị trúng pháo kích trong thời gian đầu và mỗi lần di chuyển tôi đều mang nó theo. Có thể nói nhờ bom đạn “tránh” tôi nên bản thảo cũng may mắn được nguyên lành.

3. Bản thảo gốc năm 1972 còn không? Ai giữ? Đâu là bản sao sớm nhất để làm base text?

Sau khi rời An Lộc về lại Sài Gòn, tôi đã đánh máy lại toàn bộ với những chỉnh sửa cần thiết để người đọc thấy dễ hiểu hơn. Vì bản chép tay ban đầu chỉ là những nét ghi vội vã, viết ngoáy các ý chính, không đầu không đuôi nên sau khi hoàn thành bản đánh máy, tôi thấy không cần thiết giữ lại bản nháp tay nữa.

Năm 1979, khi vượt biển ra đi, tôi hoàn toàn đi tay trắng. Rất may mắn là đến năm 1991, cô em gái tôi khi sang Mỹ xuất cảnh theo diện đoàn tụ gia đình đã mang theo được bản thảo đánh máy này cùng với bộ phim slides.

4. Hành trình bản thảo và hình ảnh rời Việt Nam qua các mốc 1975, 1979 và khi nhận lại?

Sau biến cố 1975 và kể cả sau khi tôi vượt biển năm 1979, bản thảo đánh máy và các phim slides vẫn được mẹ và em gái tôi giữ tại nhà ở Việt Nam. Đến năm 1991, khi em gái tôi sang California theo diện gia đình bảo lãnh, cô ấy mới trao lại cho tôi.

5. Mức độ chỉnh sửa/thêm bớt về tên người, ngày tháng, suy ngẫm, chính trị khi xuất bản năm 2002 tại California?

Lúc viết năm 1972, thấy gì tôi ghi nấy, có cả những kỷ niệm riêng tư nảy ra lúc đó, ghi rất tự nhiên chứ không gò ép. Sau này khi có chương trình Microsoft Word, tôi đánh máy lại thì sắp xếp lại cho bớt lộn xộn, bỏ bớt những đoạn điệp ý và thêm chi tiết rõ ràng hơn cho người đọc…

Còn phần Lời Tựa, Lời Mở Đầu có mấy đoạn kể chuyện trước khi đến An Lộc và chuyện thăm lại chiến trường sau này, hay chương cuối lúc về phép và sau khi giã từ Bình Long... đều là “hồi ký”, tôi viết thêm sau này trên máy tính, chứ không phải nhật ký nguyên bản năm 1972.

6. Vai trò biên tập của NXB Văn Nghệ và Từ Mẫn Võ Thắng Tiết năm 2002; có còn lưu tư liệu/bản thảo sửa đổi không?

Khi giao bản thảo cho NXB Văn Nghệ, tôi chỉ đề nghị họ đổi tựa sách từ “Bệnh Viện Tiểu Khu Bình Long” thành “Nhật Ký An Lộc: 86 ngày của một bác sĩ giải phẫu tại mặt trận” theo lời đề nghị của BS Ngô Thế Vinh.

Với sự tin tưởng nơi nhà xuất bản qua lời giới thiệu của BS Vinh và công việc rất bận rộn tại phòng mạch lúc đó, tôi đã không kiểm tra lại xem bản thảo có được sửa chữa hay thay đổi gì không. Đến khi nhận sách đã in để chuẩn bị cho buổi ra mắt, tôi mới thấy tên tôi đã được sửa từ “Quý” thành “Quí”. Khi tôi phàn nàn, ông Võ Thắng Tiết giải thích rằng nhà văn Nguyễn Hiến Lê luôn viết theo quy tắc chính tả đó. Vì sách đã in xong nên đành chịu. Mãi đến khi bản vi tính được gõ lại gần đây, tên tôi mới được sửa lại.

Tôi không nhớ NXB có trả lại bản thảo hay không. Tôi có giữ một bản sao, nhưng sau khi sách in xong vài năm thì cũng thất lạc hay bỏ đi, vì tôi chưa hề nghĩ rằng sẽ có ngày tài liệu này được hỏi đến.

7. Anh cho biết có những thời gian chiến sự quá dữ dội khiến anh không thể viết trong hai hoặc ba tuần. Những khoảng trống ấy nằm vào khoảng thời gian nào?

Trong Lời Tựa (Về Nhật Ký Này) tôi có viết: “Những ngày đầu của trận đánh tương đối tôi còn có thì giờ để viết. Sau đó trận chiến trở nên gay cấn, nguy hiểm, sống chết không biết lúc nào, vì bệnh viện đã ở ngay sát tuyến đầu. Hơn nữa vì quá bận rộn săn sóc thương binh nên tôi không có thì giờ viết hàng ngày được. Có khi tôi phải gián đoạn tới hai, ba tuần.”

Ngẫm lại tôi thấy chi tiết “gián đoạn hai, ba tuần” có lẽ không đúng lắm.

Ngày vui bao giờ cũng qua mau. Ngược lại, giữa cái cảnh địa ngục trần gian ở An Lộc ngày ấy, mỗi ngày đối với chúng tôi dài hơn 24 tiếng nhiều, bởi sự mong đợi “một ánh sáng nơi cuối đường hầm”; chỉ một vài ngày không viết mà cứ tưởng chừng như đã ngưng cả tuần.

Ngoài chuyện rất bận rộn vì thương binh quá nhiều với những ca mổ liên tục và khi phải di chuyển phòng mổ sang Bộ Chỉ Huy dưới hầm ngầm vì bệnh viện đã bị hư hoại bởi pháo kích, còn một nguyên nhân tâm lý rất lớn: có những lúc chán nản và căng thẳng tột độ giữa ranh giới sống chết khiến tôi không còn tâm trí đâu để ghi chép.

8. Cách tái lập trình tự sự kiện sau những gián đoạn: trí nhớ, ghi chú, lịch, hồ sơ bệnh viện...?

Hầu hết là dựa trên các mảnh ghi chú ngắn ghi vội lúc đó kết hợp với hồi tưởng của trí nhớ sau này. Riêng danh sách và số lượng ca mổ thì có một ông Thượng sĩ giữ sổ, ghi chép lại tên tuổi, cấp bậc của từng bệnh nhân mỗi ngày.


II. Y KHOA & THỰC ĐỊA BỆNH VIỆN BÌNH LONG

Câu 9–14

9. Quy mô Bệnh viện Bình Long trước trận đánh: giường, bác sĩ, máy gây mê, X-ray, thuốc, máu...?

Bệnh viện Tiểu khu Bình Long lúc đó có chừng 103 giường, nhưng bác sĩ điều trị thì vỏn vẹn chỉ có 3 người: anh Lê Hữu Chí (bạn cùng khóa với tôi) lo bên Nội khoa; anh Nguyễn Phúc phụ trách Sản phụ khoa, kiêm luôn Trưởng Ty Y tế; còn tôi thì gánh bên Ngoại khoa.

Ngoài ra còn có một bác sĩ quân y Mỹ là David Risch, thuộc đoàn MILPHAP 10, cùng phụ với tôi bên Ngoại khoa. Nhưng đúng lúc trận chiến bùng nổ thì anh Risch lại đang nghỉ phép.

Lúc mất điện thì mấy máy móc như X-quang coi như vô dụng. Việc gây mê hoàn toàn làm bằng tay, do mấy y tá đảm nhiệm chứ chẳng có máy móc hỗ trợ gì. Thuốc men cần thiết như kháng sinh Penicillin hay thuốc giảm đau thì cũng tạm đủ xài. Còn máu thì lúc cần cấp cứu là lại phải hô hào mọi người ra hiến trực tiếp tại chỗ.

10. Sự thay đổi của bệnh viện khi bị bao vây: lượng thương binh đỉnh điểm, bố trí chỗ nằm, tình trạng pháo kích?

Tôi không còn nhớ chính xác con số thương binh đỉnh điểm trong một ngày. Khi bệnh viện hoàn toàn quá tải và hết giường, tất cả thương bệnh binh lẫn thường dân phải nằm la liệt ngoài hành lang.

Tình trạng pháo kích diễn ra liên tục và dữ dội. Dù phòng mổ may mắn không bị trúng pháo trực tiếp, nhưng sức chấn động từ các quả đạn pháo rơi gần đó nhiều lúc làm rụng cả bụi đất và thạch cao từ trần nhà xuống, ngay trong lúc chúng tôi đang tiến hành phẫu thuật.

11. Nguồn gốc con số 254 cuộc đại giải phẫu và định nghĩa “đại giải phẫu” thời đó?

Con số 254 thực chất là tổng số tất cả các ca phẫu thuật được ghi nhận, bao gồm cả đại phẫu lẫn tiểu phẫu.

Trong điều kiện chiến trường lúc bấy giờ, “đại giải phẫu” được định nghĩa là những ca phẫu thuật phức tạp đòi hỏi phải gây mê toàn thân, mổ ngực, mổ bụng, hoặc cắt lọc và đoạn chi (cắt bỏ tay chân).

12. Phân loại 254 ca mổ: vết thương bụng, ngực, chi, bỏng... và ca bệnh nhớ nhất sau hơn 50 năm?

Hơn nửa thế kỷ trôi qua rồi, tôi không nhớ nổi chi tiết từng loại vết thương hay chính xác bao nhiêu ca bụng, ngực, đầu, mạch máu, rồi ca nào do mảnh pháo, ca nào do đạn nhọn. Nhưng ám ảnh nhất trong đầu tôi đến tận bây giờ vẫn là những ca mổ đặc biệt về kỹ thuật, khi phải xoay xở giữa những tổn thương cực kỳ phức tạp trong khi phòng mổ thiếu thốn đủ thứ, từ ánh sáng cho tới đồ khử trùng.

Ca mổ làm tôi nhớ đời nhất là lần đầu tiên mổ nối động mạch cánh tay cho một người lính trẻ. Tôi không bao giờ quên được ánh mắt van nài và lời cầu khẩn. Rơm rớm nước mắt, anh rưng rưng nói:

“Bác sĩ ơi, xin bác sĩ ráng giữ cái tay cho em, đừng cắt... Bác sĩ mà cắt tay em thì chắc em chết mất, em còn tới sáu đứa con nhỏ ở nhà...”

Thực sự lúc đó hy vọng mong manh lắm, vì vết thương bị lâu rồi, quá mất 6 tiếng đồng hồ. Nhưng thật may mắn, lần mổ đó thành công êm đẹp.

Với tôi, mổ bụng cứu sống một mạng người tôi cũng quý, nhưng cảm giác không vui sướng bằng việc nối thành công cái động mạch để cứu lại nguyên một phần thân thể cho bệnh nhân. Vì kết quả nó diễn ra ngay trước mắt: bàn tay đang tái héo, lạnh ngắt tự nhiên hồng hào và ấm dần lên ngay trên bàn mổ, cảm giác đó thật tuyệt vời!

13. Quy trình phân loại bệnh nhân (triage) và các quyết định y khoa/đạo đức khó khăn?

Khi nhân lực và các phương tiện y tế như máu, oxy đều cạn kiệt, mà thời gian mổ thì có hạn, việc phải quyết định ưu tiên mổ cho ai thực sự là những lựa chọn “sinh tử” vô cùng khó khăn đối với người thầy thuốc.

Nhiều lúc, giữa ranh giới sống chết mong manh đó, chẳng còn sách vở hay quy trình nào hướng dẫn nổi nữa, người bác sĩ đành phải dựa vào cảm tính và linh tính (intuition) của chính mình để đưa ra quyết định.

14. Việc điều trị cho thương binh phía bên kia, tinh thần Y đức và Lời thề Hippocrates?

Về nguyên tắc trung lập y khoa (Medical Neutrality): trước vết thương và ranh giới giữa sự sống với cái chết, chúng tôi chỉ nhìn thấy bệnh nhân chứ không còn khái niệm bạn-thù.

Đứng trước thương binh phía bên kia, người bác sĩ chỉ đơn thuần thực thi Lời thề Hippocrates và bổn phận cứu người.


III. BỐI CẢNH, CON NGƯỜI & DI SẢN

Câu 15–21

15. Nguồn tin quân sự thời điểm đó: radio, cố vấn Mỹ, bệnh nhân... so với thực tế được biết sau này?

Khi bệnh viện hoàn toàn bị cô lập, tôi không nắm được nhiều thông tin quân sự toàn cục. Dù có nghe được đài BBC, nhưng thời điểm đó “Mùa hè đỏ lửa” diễn ra đồng loạt nhiều trận đánh lớn trên toàn quốc, nên thông tin riêng về chiến trường An Lộc cũng rất hạn chế.

16. Mảnh ký ức/thời điểm tin rằng An Lộc sẽ thất thủ và nỗi sợ lớn nhất?

Nỗi lo sợ lớn nhất của tôi không phải là cái chết thông thường, mà là cảm giác bất lực khi phương tiện y tế cạn kiệt không thể cứu chữa thương binh; hoặc nỗi sợ chính bản thân mình bị thương mà không có ai cứu chữa, vì tôi là bác sĩ giải phẫu duy nhất tại bệnh viện.

17. Đào tạo Y khoa Sài Gòn đã chuẩn bị được gì và không chuẩn bị được gì cho y khoa chiến trường?

Thực tế tàn khốc của một cuộc chiến tranh quy mô lớn là điều không một trường y hay sách vở nào có thể dự báo trước.

Trường Y khoa Sài Gòn chủ yếu trang bị kiến thức y khoa căn bản, chưa thể chuẩn bị nhiều cho y khoa chiến trường tàn khốc, nơi việc sơ cứu thông thường chỉ dừng ở mức băng bó và di tản thương binh như công việc của một y tá.

Toàn bộ kỹ năng và kinh nghiệm phẫu thuật chiến trường thực tế mà tôi có được đều nhờ vào một năm thụ huấn chuyên môn giải phẫu dã chiến tại Tổng Y viện Cộng Hòa.

18. Tri ân những con người lặng lẽ giúp bệnh viện tồn tại: y tá, tải thương, người cho máu, linh mục...?

Đó là những y tá, y công, người phụ gây mê, anh em tải thương, những người lặng lẽ dọn dẹp, đi tìm từng nguồn nước, từng cây nến, hay giúp chôn cất người tử thương...

Họ chính là những người đã giữ cho “nhịp đập” của bệnh viện tiếp tục duy trì, dù tên tuổi của họ không hề xuất hiện trong bất kỳ bản báo cáo chiến sự nào.

19. Tư liệu hình ảnh/slides: ai chụp, hoàn cảnh, bản gốc và các chứng từ liên quan để lập Archive?

Tất cả hình ảnh tư liệu trong cuốn nhật ký này đều được chụp bằng chiếc máy ảnh Canon cá nhân và sử dụng phim slides (dương bản). Trừ những bức ảnh có mặt tôi, các tấm ảnh còn lại đều do tự tay tôi bấm máy.

Năm 1972, khi từ An Lộc trở về Sài Gòn, tôi có hai cuộn phim slide chụp tại chiến trường. Vì không tin tưởng chất lượng rửa phim màu slide của các tiệm ảnh ở Sài Gòn lúc đó, tôi đã nhờ cô em gái (đang làm kế toán cho Văn phòng Cố vấn Quân sự Mỹ - US DAO) gửi hai cuộn phim này qua hệ thống PX (Post Exchange) sang Hawaii để tráng và rửa.

Đến năm 2002, khi chuẩn bị xuất bản sách, tôi chọn lọc những tấm slide rõ nét, không trùng lặp để rửa ra ảnh giấy láng. Sau đó, các bức ảnh này được in ra bằng máy photocopy màu để có khoảng trống bên dưới cho phần chú thích bằng chữ đánh máy.

Hiện tại, các hình in trên giấy và bản photocopies màu vẫn được giữ. Riêng các khay phim slide gốc thì không nhớ cất ở đâu.

20. Anh có nhắc tới mấy chi tiết không chính xác của bài báo TIME, June 26, 1972. Những chi tiết không đúng đó là gì?


...

[nguồn: TIME, “A Record of Sheer Endurance,” June 26, 1972, pp. 25–26]

Báo Time viết "An Lộc gần như đã bị bao vây từ khi cuộc tấn công của Miền Bắc Việt Nam bắt đầu vào ngày 30 tháng 3". Thật ra Ngày 30/3/1972 là ngày mở màn chính thức Chiến dịch Mùa Hè năm 1972 trên toàn lãnh thổ Việt Nam . Chỉ sau khi chiếm được Lộc Ninh ngày 7/4/1972, quân Bắc Việt mới liên tục pháo kích dữ dội trước khi bộ binh và xe tăng bắt đầu mở đợt tấn công đầu tiên để vây hãm thị xã ngày 13/4/1972.

Con số tổn thất 1.000 người chết trong báo cáo Time chỉ là con số ước tính tạm thời tại chỗ. Trên thực tế tổng số thường dân thiệt mạng do pháo kích và giao tranh tại khu vực An Lộc trong cả chiến dịch lớn hơn con số đó nhiều, chưa kể những người bị thương.

Khi phóng viên báo TIME vào An Lộc, phòng mổ dã chiến đã phải dời sang hầm ngầm (bunker) của Bộ Chỉ Huy rồi. Thành ra họ chỉ thấy một phòng mổ tương đối an toàn...  Họ đã không thấy được cảnh nguy hiểm trước đó: bệnh viện đã phải hứng chịu những trận mưa pháo kích liên tục mấy tuần đầu, mất sạch điện nước, thương binh và các xác chết tràn ngập, các trại bệnh và phòng mổ bị pháo sập hoàn toàn phải ngưng hoạt động...

21. Thông điệp gửi độc giả tương lai, năm 2030, và nội dung sẽ viết nếu bổ sung một trang cuối?

Trực tiếp chứng kiến chiến tranh, tôi mới hiểu rõ hơn cái sức tàn phá khủng khiếp của nó. Nó không chỉ húc đổ nhà cửa, cày xới phố phường, mà nghiệt ngã nhất là nó cướp mất tuổi thơ, hoài bão và mạng sống của bao nhiêu người trẻ. Càng về sau, vũ khí càng hiện đại thì sự mất mát lại càng rộng lớn.

Bởi vậy, tôi luôn nghĩ hòa bình chưa bao giờ là điều nghiễm nhiên, mà là thứ cần được vun đắp từ sự thấu hiểu và lòng bao dung của mỗi con người.

Mong các bạn dù có khác nhau về quan điểm, ngôn ngữ hay niềm tin, cũng đừng vội biến nhau thành thù nghịch. Khi có bất đồng, nếu mình chịu khó ngồi lại, lắng nghe nhau một chút trước khi phán xét, thì mọi thứ đã khác đi nhiều lắm. Đừng để những lời kích động hay định kiến làm lòng mình khép lại.

Nói về hòa bình nghe thì to tát, nhưng tôi thấy nó bắt đầu ngay từ những việc rất nhỏ mỗi ngày: một chút nhường nhịn người chung quanh, một lời nói ôn hòa, một bàn tay đưa ra giúp người yếu thế. Những điều tử tế nhỏ bé đó, cộng lại, sẽ giữ cho thế giới này bớt đi những mâu thuẫn.

Các bạn trẻ năm 2030 là những người nắm giữ tương lai. Mong các bạn dùng tri thức và công nghệ để kéo con người lại gần nhau hơn, chứ không phải để tạo thêm khoảng cách; dùng sự can đảm để bảo vệ sự sống và những điều tử tế.

Những đau thương của chiến tranh, thế hệ chúng tôi trót mang rồi, chỉ mong nó dừng lại ở đó. Mong sao các bạn sau này ai cũng được sống những ngày tháng thật bình an, tự do và tử tế với nhau.


BS Nguyễn Văn Quý
Ghi chép: Quách Thị Minh
Diamond Bar, California
Tháng 09/2026


Thứ Sáu, 25 tháng 9, 2026

LỜI GIỚI THIỆU "NHẬT KÝ AN LỘC" CỦA BS NGUYỄN VĂN QUÝ


Một Y Sĩ Tiền Tuyến giữa 86 ngày đêm lửa đạn

 

BS NGÔ THẾ VINH


Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ Mùa Hè Đỏ Lửa 1972.

Thời gian đủ dài để những chiến trường năm xưa trở thành địa danh trong quân sử: Kontum, An Lộc, Quảng Trị. Những bản đồ hành quân đã ngả màu, những đơn vị tham chiến đã giải thể, nhiều người lính của cả hai phía không còn nữa. Nhưng chiến tranh, nếu chỉ được nhớ bằng những mũi tên đỏ xanh trên bản đồ, bằng số xe tăng bị bắn cháy hay những con số thương vong, thì vẫn còn thiếu một phần rất quan trọng: số phận con người ở bên trong cuộc chiến ấy.




Nhật Ký An Lộc của Bác sĩ Nguyễn Văn Quý giữ lại cho chúng ta phần ký ức đó.


Tôi được đọc cuốn sách này từ trước năm 2002 dạng bản thảo khi anh Từ Mẫn Võ Thắng Tiết, Giám đốc Nhà xuất bản Văn Nghệ California gửi cho tôi và cho biết đang chuẩn bị xuất bản tác phẩm này.  Trước hết không phải như đọc một tác phẩm quân sử. Tôi đã đọc Nhật Ký An Lộc từ tâm thế của một người cùng thế hệ, cùng bước ra từ một trường Y khoa Sài Gòn, và cũng từng khoác áo lính và hiểu rằng đối với một người thầy thuốc trong quân đội, có một thời điểm mà khoảng cách giữa giảng đường và chiến trường chỉ còn được tính bằng vài dặm đường.


Và ở An Lộc năm 1972, với Nguyễn Văn Quý, khoảng cách ấy gần như không còn nữa.


TỪ ĐẠI HỌC Y KHOA SÀI GÒN ĐẾN AN LỘC

Nguyễn Văn Quý tốt nghiệp Đại học Y khoa Sài Gòn năm 1967, là con trai độc nhất trong 

một gia đình mà mẹ là quả phụ và em gái. Lẽ ra được miễn quân dịch, Quý vẫn tình nguyện 

gia nhập Khóa 10 Y Sĩ Trưng Tập năm 1968. Ban đầu, anh phục vụ trong một Trung đoàn Bộ 

binh. Sau mấy cuộc hành quân và đụng trận, chứng kiến tổn thất thương vong, anh nhận ra 

mình không thể làm được nhiều giữa trận địa, nên đã xin theo học khoá Giải Phẫu Dã chiến 

tại Tổng Y Viện Cộng Hoà. Một năm sau, anh tốt nghiệp và chọn về phục vụ tại Bệnh viện 

Tiểu khu Bình Long vì nơi này gần gia đình.

Anh tới Bình Long ngày 13 tháng 4 năm 1971.

Gần đúng một năm sau, chiến tranh tìm tới tận cửa bệnh viện.

Tháng 4 năm 1972, cuộc Tổng Công Kích Mùa Hè bắt đầu. Sau khi Lộc Ninh thất thủ, An 

Lộc trở thành mục tiêu của những cuộc tấn công dữ dội. Quốc lộ 13 bị cắt. Thành phố bị vây. 

Tiếp tế chủ yếu trông vào không vận. Pháo kích diễn ra ngày đêm. Quân nhân và thường dân 

thương vong ngày một nhiều.

Bệnh viện Bình Long từ một bệnh viện tỉnh nhỏ với trang bị thật thô sơ, bỗng trở thành một 

bệnh viện tiền tuyến.

Nguyễn Văn Quý từ một bác sĩ giải phẫu trở thành một Y Sĩ Tiền Tuyến đúng theo nghĩa 

trọn vẹn và khắc nghiệt nhất của danh xưng ấy.

Đó cũng là điểm khiến Nhật Ký An Lộc có một vị trí riêng.

Đã có nhiều sách viết về An Lộc từ góc nhìn của các đơn vị tác chiến, của những cấp chỉ huy, 

của các phóng viên chiến trường. Nhưng Nguyễn Văn Quý nhìn trận đánh từ một nơi khác: 

bàn mổ.

Ở đó, bản đồ hành quân được thay bằng những thân thể đầy thương tích.

Ở đó, một cuộc tấn công không được đo bằng số chiến xa xuất hiện ngoài phòng tuyến, mà 

bằng số thường dân và thương binh được khiêng vào bệnh viện.

Và ở đó, mỗi phút đều có thể là khoảng cách giữa sống và chết.


NHẬT KÝ ĐƯỢC VIẾT KHI CHƯA BIẾT NGÀY MAI

Có một khác biệt căn bản giữa nhật ký và hồi ký.

Người viết hồi ký đã biết kết thúc của câu chuyện. Người viết nhật ký thì không.

Nguyễn Văn Quý ghi lại những ngày An Lộc khi anh đang sống trong biến cố ấy. Anh không 

biết trận đánh sẽ kéo dài bao lâu. Không biết thành phố có đứng vững hay không. Và cũng 

không biết chính mình có còn sống để đọc lại những dòng đang viết.

Theo lời tác giả, lúc đầu anh còn có thể ghi chép khá đều. Nhưng khi chiến trận ngày càng 

khốc liệt, thương binh tràn vào bệnh viện, công việc giải phẫu liên tục, có những khoảng thời 

gian anh không còn thì giờ cầm bút.

Những khoảng trống ấy không phải là khuyết điểm của cuốn nhật ký.

Ngược lại, chúng là dấu vết trung thực của chiến tranh.

Có những ngày không thể viết được, bởi vì người bác sĩ phải dành từng giờ, từng phút cho 

những người đang chờ được cứu sống.

Ba mươi năm sau, tập nhật ký mới được xuất bản thành sách tại California năm 2002. 

Khoảng cách ba thập niên ấy cho phép tác giả bổ sung và sắp xếp một số dữ kiện, nhưng 

phần cốt lõi vẫn mang sức nóng của những ghi chép tại chỗ.

Và điều đáng chú ý hơn nữa: Nguyễn Văn Quý ban đầu không viết với ý nghĩ mình đang để 

lại một tài liệu lịch sử.

Anh viết cho gia đình.

Anh nghĩ rằng nếu mình chết ở An Lộc, mẹ và các em sau này ít nhất sẽ biết anh đã sống 

những ngày cuối cùng như thế nào.

Từ một động cơ rất riêng tư ấy, lịch sử đã giữ lại được một chứng từ.


254 CUỘC GIẢI PHẪU LỚN

Trong những con số của Nhật Ký An Lộc, có một con số khiến tôi dừng lại rất lâu:

254 cuộc giải phẫu lớn.

Nguyễn Văn Quý ghi nhận trong thời gian trận An Lộc, Anh đã thực hiện 254 trường hợp giải 

phẫu lớn, với sáu trường hợp tử vong tại chỗ; còn những thương binh sau mổ được di tản đi 

nơi khác thì anh không thể theo dõi được kết quả.

Với một bác sĩ, con số 254 không đơn thuần là một thống kê.

Mỗi ca là một con người.

Một vết thương bụng.

Một lồng ngực bị xuyên thủng.

Một cánh tay hay một cẳng chân không còn có thể giữ lại.

Một người lính mất quá nhiều máu.

Một người dân vừa được khiêng ra từ một căn nhà trúng pháo.

Và trước mỗi bệnh nhân là một chuỗi quyết định mà người bác sĩ phải đưa ra trong vài phút, 

đôi khi vài giây, với phương tiện hết sức giới hạn.

Ở một bệnh viện dân sự thời bình, bác sĩ giải phẫu có phòng mổ, ánh sáng, dụng cụ, ngân 

hàng máu, thuốc men, ê-kíp gây mê và các chuyên khoa hỗ trợ.

Ở An Lộc, tất cả những điều ấy có thể thiếu.

Chỉ có thương binh thì không thiếu.

Đọc những trang ấy, một người đã học và hành nghề y sẽ hiểu thêm sức nặng của hai chữ giải 

phẫu trong hoàn cảnh chiến trường.

Không còn là một ca mổ lý tưởng như trong sách giáo khoa.

Đó là y khoa của lựa thương.

Ai phải mổ ngay?

Ai có thể chờ?

Phần chân tay nào còn cứu được?

Khi nào một phần của thân thể phải cắt đi để cứu mạng?

Lượng huyết thanh ít ỏi còn lại dành cho ai?

Đó là những câu hỏi không một sinh viên y khoa nào muốn gặp, nhưng người Y Sĩ Tiền 

Tuyến có thể phải trả lời hàng ngày.


TRUYỀN THỐNG Y SĨ TIỀN TUYẾN

Nguyễn Văn Quý không phải một trường hợp đơn độc.

Anh thuộc về một thế hệ bác sĩ miền Nam mà chiến tranh đã đưa từ giảng đường vào quân 

đội.

Sau khi tốt nghiệp, nhiều bác sĩ trẻ gia nhập các khóa Y Sĩ Trưng Tập, rồi được đưa về các 

quân y viện, bệnh viện tiểu khu, sư đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn hay những đơn vị tác chiến 

tổng trừ bị.

Họ có mặt từ Đồng Bằng Cửu Long tới Cao nguyên, từ miền Đông Nam phần tới vùng giới 

tuyến.

Có người làm việc trong những quân y viện lớn.

Có người sống với một đơn vị ngoài mặt trận, mang theo một túi y cụ nhỏ hơn rất nhiều so 

với nhu cầu của những thương tích mà họ sắp phải đối diện.

Họ là một thành phần của Quân Y Việt Nam Cộng Hòa, nhưng trước hết họ vẫn là những 

người thầy thuốc.

Đó là một nét cần được nhắc lại khi nói về truyền thống Y Sĩ Tiền Tuyến.

Người bác sĩ mặc quân phục, có cấp bậc và đơn vị. Nhưng khi một thương binh được đặt 

trước mặt mình, bổn phận y khoa vượt lên trên những phân chia khác.

Trong Nhật Ký An Lộc, bệnh nhân không chỉ có quân nhân Việt Nam Cộng Hòa. Còn có 

thường dân, người già, phụ nữ, trẻ em, và cả những người lính phía bên kia khi họ trở thành 

thương binh.

Một người đang chảy máu trên bàn mổ không còn là một khẩu hiệu chính trị.

Đó là một bệnh nhân.

Tôi nghĩ đây chính là phần đẹp nhất của truyền thống Quân Y: giữa một cuộc chiến mà 

nhiệm vụ của người lính là chiến đấu, nhiệm vụ của người thầy thuốc vẫn là cứu người.

Hai bổn phận ấy cùng tồn tại trong một bộ quân phục.


LÒNG CAN ĐẢM KHÔNG CẦN ĐƯỢC NÓI RA 

Điều tôi quý ở Nguyễn Văn Quý là anh không viết để dựng cho mình một tượng đài.

Trong sách có sợ hãi.

Có mệt mỏi.

Có lo âu.

Có những giây phút con người rất bình thường trước cái chết.

Và chính điều ấy làm cuốn sách đáng tin hơn.

Can đảm không phải là không biết sợ.

Người bác sĩ nghe tiếng pháo vẫn biết sợ như bất cứ ai. Nhưng khi thương binh được khiêng 

vào, anh vẫn trở lại bàn mổ.

Không cần một câu tuyên bố nào khác.

Có lẽ hình ảnh tiêu biểu nhất về Nguyễn Văn Quý ở An Lộc không phải hình ảnh một người 

cầm súng, mà là một bác sĩ cúi xuống một bệnh nhân trong khi bên ngoài pháo vẫn rơi.

Ở đó, lòng can đảm không mang hình thức của một cuộc xung phong.

Nó là sự ở lại.

Ở lại với bệnh viện.

Ở lại với thương binh.

Ở lại với trách nhiệm của một người thầy thuốc khi chính mạng sống của mình cũng không 

được bảo đảm.


MỘT CHỨNG TỪ Y KHOA VÀ MỘT CHỨNG TỪ NHÂN BẢN

Đọc Nhật Ký An Lộc hơn nửa thế kỷ sau, chúng ta có thể đọc cuốn sách trên nhiều tầng.

Đó là một tài liệu về trận An Lộc.

Đó là một chứng từ về đời sống của một thành phố bị vây hãm.

Đó là một tài liệu hiếm về hoạt động y tế và giải phẫu trong điều kiện chiến tranh.

Nhưng đối với tôi, giá trị lâu dài hơn cả vẫn là tính cách nhân bản.

Chiến tranh thường biến con người thành những con số.

Bao nhiêu chết.

Bao nhiêu bị thương.

Bao nhiêu mất tích.

Bao nhiêu tù binh.

Nhưng người bác sĩ không được phép nhìn bệnh nhân như một con số.

Trước mắt anh là một khuôn mặt.

Một cái tên.

Một mạch đập đang yếu dần.

Một huyết áp đang tụt xuống.

Một sinh mạng mà mình phải tìm cách giữ lại.

Vì vậy, nếu người lính ngoài chiến hào phải chiến đấu để giữ An Lộc, thì những người trong 

bệnh viện cũng có một mặt trận khác.

Mỗi sinh mạng cứu được là một phần đất của sự sống được giành lại từ chiến tranh.


ĐàHƠN NỬA THẾ KỶ SAU

Thế hệ chúng tôi nay đã đi rất xa khỏi tuổi hai mươi, ba mươi của những năm chiến tranh.

Nhiều bạn đồng môn đã mất.

Nhiều đồng đội không còn.

Những người từng sống sót qua An Lộc năm 1972 nay cũng ngày một ít đi.

Bởi vậy, việc tái bản Nhật Ký An Lộc không chỉ là đưa trở lại lưu hành một cuốn sách đã xuất 

bản từ năm 2002.

Đó còn là một hành động gìn giữ ký ức.

Ký ức ấy không cần được tô đậm thêm bằng những mỹ từ.

Những gì Nguyễn Văn Quý đã ghi lại đủ sức tự nói.

Và cũng không nên đọc cuốn sách này chỉ để tìm thêm những lý lẽ cho những tranh luận 

thắng thua kéo dài từ một cuộc chiến đã kết thúc hơn nửa thế kỷ.

Hãy đọc nó để hiểu một thế hệ.

Một thế hệ sinh viên y khoa vừa rời giảng đường đã mặc quân phục.

Một thế hệ bác sĩ chưa kịp có một phòng mạch riêng đã có một đơn vị.

Một thế hệ học cách cứu người trong khi chung quanh là chiến tranh.

Trong thế hệ ấy có Nguyễn Văn Quý.

Và trong 86 ngày đêm ở An Lộc, anh đã sống trọn vẹn căn cước của một Y Sĩ Tiền Tuyến.

Khi gấp lại những trang cuối của Nhật Ký An Lộc, điều còn lại trong tôi không phải tiếng đại 

bác, cũng không phải những bản đồ hành quân.

Tôi nghĩ tới một căn phòng mổ nhỏ giữa thành phố bị vây khổn.

Ngoài kia, chiến tranh vẫn đang tìm cách lấy đi mạng sống.

Bên trong, một người bác sĩ vẫn đang tìm cách giữ lại từng mạng người.

Hai sức mạnh đối nghịch ấy gặp nhau trên một bàn mổ.

Và có lẽ không có hình ảnh nào nói rõ hơn ý nghĩa của nghề y giữa chiến tranh.

Người lính có thể được lệnh rời một vị trí.

Nhưng người thầy thuốc không thể rời một thương binh đang cần mình.

Đó là Nguyễn Văn Quý ở An Lộc năm 1972.

Đó cũng là một nét đẹp cần được ghi nhớ trong truyền thống Y Sĩ Tiền Tuyến, Quân Y Việt 

Nam Cộng Hòa.

Và đó là lý do, hơn nửa thế kỷ sau, Nhật Ký An Lộc vẫn cần được tái bản, lưu giữ và trao lại 

cho những thế hệ mai sau.


Hướng tới một ấn bản Anh ngữ học thuật

Lần tái bản 2026 này đồng thời mở ra một hướng đi kế tiếp: chuẩn bị ấn bản Anh ngữ của 

Nhật Ký An Lộc, nhằm đưa một chứng từ Việt Nam từ chiến trường An Lộc vào không 

gian nghiên cứu quốc tế. Trong tiến trình ấy, sự trao đổi và đóng góp của các học giả về 

Chiến tranh Việt Nam, lịch sử Đông Nam Á và quân y sẽ được trân trọng đón nhận.

Với dẫn nhập lịch sử, niên biểu, bản đồ, tư liệu, chú giải và thư mục chọn lọc, ấn bản tương 

lai hy vọng góp thêm một nguồn tư liệu trực tiếp của người Việt cho nghiên cứu về chiến 

tranh, y học và trải nghiệm con người.


BS Ngô Thế Vinh  

Long Beach, tháng 9/ 2026