Thứ Hai, 22 tháng 6, 2026

MAN DI HOÁ BIÊN GIỚI PHÍA NAM TRUNG HOA ĐỜI MINH _ Nguyễn Duy Chính dịch

Việt Nam là một tỉnh ly khai hay một khu vực chưa khai hoá

Nguyên tác: De-civilizing Ming China’s Southern Border: Vietnam as Lost Province or Barbarian Culture

Kathlene Baldanza


Đối với giới nho sĩ của các triều đại Trung Hoa trước đây, thung lũng sông Hồng và các vùng phụ cận được nhớ tới như một nghìn năm do Trung Hoa kiểm soát (111 TCN đến 939 SCN) vẫn còn thấm đẫm dù rằng người Việt đã giành được độc lập trong nhiều thế kỷ rồi. Họ vẫn nhìn Việt Nam bằng câu mở đầu “An Nam 安南 trước kia được gọi là Giao Chỉ 交趾. Trước đời Đường, họ bị Trung Hoa cai trị” như để nhắc lại thời kỳ gốc gác vốn đã chinh phục họ.[1]Vì chưng cả Giao Chỉ lẫn An Nam đều là tên gọi khu vực sinh sống của người Việt, những tên đó khơi dậy thời kỳ mà Trung Hoa kiểm soát cơ cấu chính trị vùng đất ngày nay là bắc Việt Nam.

Trong suốt mười thế kỷ bị áp bức dài đằng đẵng không phải là không có những vụ chống đối. Cuộc nổi dậy huy hoàng nhất là của hai chị em họ Trưng, Trưng Trắc 徵側 và Trưng Nhị 徵貳, người đã đứng lên chống lại các quan lại cai trị của nhà Hán vào năm 40 CN. Ba năm sau, tướng nhà Hán là Mã Viện 馬援 dẹp được cuộc khởi nghĩa, xử tử hai chị em và gửi thủ cấp của họ về kinh đô. Theo những nguồn sau này, Mã Viện đã dựng những cột đồng để đánh dấu biên giới phía nam của đế quốc Trung Hoa. Những cột đồng này là biểu tượng mạnh mẽ mặc dù các chi tiêt về vị trí, số cột được dựng, và cả việc có hay không cũng không bao giờ được xác định.[2] Tuy nhiên các cột đồng ấy đều được cả Trung Hoa lẫn Việt Nam coi là thực, và được đánh dấu trên bản đồ. Cũng lạ lùng thay, những dấu tích biên giới ấy, đúng ra phải rõ rệt và cố định thì lại di chuyển lúc nơi này, lúc khi khác.

Nếu Mã Viện dựng cột đồng để đánh dấu biên giới phía nam của đế quốc Hán thì những cột đó phải có vị trí đâu đó gần Huế, hiện nay là ở miền trung Việt Nam. Quả thực, một trong những nguồn sớm nhất đề cập đến những cột đồng này, bộ Tấn Thư của Trung Hoa vào thế kỷ thứ VII, đặt vị trí cột đồng ở Nhật Nam 日南 là khu vực kiểm soát tận cùng ở phía nam của nhà Hán[3]. Tuy nhiên đến cuối thế kỷ thứ XV thì những cột đồng lại nhảy lên phía bắc, gần nơi biên giới giữa Trung Hoa và Việt Nam ngày nay. Một bộ bản đồ do triều đình Việt Nam biên soạn năm 1490 là Hồng Đức Bản Đồ thì vẽ những cột đồng đó ở vùng duyên hải Việt Nam và Trung Hoa gần Móng Cái ngày nay[4]. Vị trí này trùng khớp với bản đồ Trung Hoa vẽ năm 1551 trong Giao Lê Tiễu Bình Sự Lược 交黎勦平事略 [5].







Giao Lê Tiễu Bình Sự Lược

(Tủ sách NDC)





Hồng Đức Bản Đồ 

Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2026

Song Thao _ Ký ức Sài Gòn

Giao lộ Tổng Đốc Phương (Châu Văn Liêm) và Hồng Bàng trước năm 1975 – Ảnh tư liệu, via Báo Tuổi Trẻ 

May mắn hơn là những nhân viên của Đài Mẹ Việt Nam. Họ được di tản có bài bản. Nhà văn Ngô Thế Vinh kể lại: “Tuần lễ trước 30 tháng 4, 1975, nhân viên Đài Mẹ Việt Nam và những cây viết cộng tác đã được Mỹ lên kế hoạch di tản khỏi Việt Nam – để tránh bị trả thù. Trước ngày lên tàu ra đảo Phú Quốc, nhà văn Võ Phiến tới thăm tòa soạn Bách Khoa, nơi vùng “xôi đậu” có Võ Phiến ngồi chung với Vũ Hạnh; cũng là nơi mà Võ Phiến đã gắn bó suốt 18 năm cùng với tuổi thọ của tờ báo. Anh Lê Ngộ Châu chủ nhiệm Bách Khoa kể lại: Võ Phiến thì phải đi, nhưng linh cảm không có ngày về, vẻ mặt buồn thảm, anh chỉ ngồi khóc lặng lẽ không nói nổi lời giã từ và rồi đứng dậy bước ra khỏi toà soạn. Trước một ngày mất Sài Gòn, thì hầu như toàn bộ nhân viên Đài Mẹ Việt Nam trong đó có gia đình Võ Phiến, Lê Tất Điều, Viên Linh, Tuý Hồng, Thanh Nam từ Phú Quốc đã được đưa lên con tàu lớn Challenger đậu sẵn ngoài khơi. Khi bờ biển Phú Quốc xa mờ trong tầm mắt, lần này thì Lê Tất Điều thấy Võ Phiến khóc”.

Vũ Khắc Khoan, Nghiêm Xuân Hồng, Mặc Đỗ cùng hội tụ với nhóm Mẹ Việt Nam trên đảo Guam. Tôi chợt nhớ tới câu ca dao: Gió đưa cây cải về trời / Rau răm ở lại chịu nhiểu đắng cay”. Chẳng biết có phải là một thứ “sấm” không? Những” rau răm” bị bầm nát chết trong tù có Hiếu Chân, Nguyễn Hoạt, Hoàng Vĩnh Lộc, Nguyễn Mạnh Côn, Phạm văn Sơn, Trần văn Tuyên, Trần Việt Sơn, Vũ Ngọc Các, Nguyễn Tuấn Phát, Dương Hùng Cường. Chết sau khi ra tù có Hồ Hữu Tường, Vũ Hoàng Chương. Sống xa rời cây viết có Dương Nghiễm Mậu làm sơn mài, Lê Xuyên bán thuốc lá lẻ trên lề đường, Trần Lê Nguyễn bán báo, Nguyễn Mộng Giác làm mì sợi, Trần Hoài Thư bán cà-rem dạo.

Trái: Cảnh hỗn loạn tại Đại sứ quán Mỹ Sài Gòn ngày 29/4/1975, người dân trèo tường vào trong, cố gắng tiếp cận các trực thăng sơ tán khi những người Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam.Photo: AP/Tư liệu, via National Museum of American DiplomacyPhải: Người tị nạn Nam Việt Nam cập bến trên một tàu hải quân Mỹ trong Chiến dịch Frequent Wind. Source: U.S. Marines in Japan Homepagewiki commons

Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2026

Nhân ngày Môi trường Thế giới _ World Environment Day June 5, 2026

Thư ngỏ gửi Liên Hiệp Quốc 

Của Mạng lưới Người dân Thái Lan Bảo vệ  

Các dòng sông Kok, Sai, Ruak, Mekong, Salween và Kraburi


 
                                                      Logo of World Environment Day 2026


KS Phạm Phan Long, VEF dịch

5-6-2026

Lời giới thiệu: Nhân Ngày Môi trường Thế giới, ngày 5 tháng 6, Mạng lưới Người dân Bảo vệ các dòng sông Kok, Sai, Ruak, Mekong, Salween và Kraburi, đã gửi thư ngỏ tới Liên Hiệp Quốc, cảnh báo về những tác động môi trường nghiêm trọng do hoạt động khai thác khoáng sản ở thượng nguồn các con sông trong khu vực.

Người dân Thái Lan ngày càng nhận thức rõ rằng họ đang phải gánh chịu những hệ lụy từ các dự án khai thác phục vụ lợi ích kinh tế cho giới đầu tư, nhưng gây tổn hại lâu dài cho môi trường và nguồn nước của họ. Nếu tình trạng ô nhiễm này không được kiểm soát, hậu quả sẽ không chỉ dừng lại ở một đất nước, mà có thể lan rộng trên toàn lưu vực các dòng sông xuyên biên giới ở Đông Nam Á kể cả Việt Nam.

Vì vậy, người Việt Nam cần quan tâm và theo dõi chất lượng nguồn nước của sông Mekong-Cửu Long, sông Mã, sông Chu, và sông Lam vì chúng bắt nguồn từ Trung Quốc, Myanmar và Lào. Đây cũng là khu vực sở hữu trữ lượng đất hiếm rất lớn ngoài Trung Quốc, khiến cuộc chạy đua khai thác tài nguyên ngày càng quyết liệt, kéo theo những hệ lụy về môi trường, có thể ảnh hưởng đến hàng triệu người dân trong khu vực. Sau đây là bản dịch bức thư ngỏ:


                                                                     ***

Chủ đề: Kêu gọi Liên Hiệp Quốc thừa nhận rằng, các cộng đồng lưu vực sông trong khu vực đang phải gánh chịu những tổn thất nặng nề, trở thành các “vùng hy sinh” của quá trình chuyển đổi năng lượng toàn cầu, và khẩn cấp hành động để bảo vệ công bằng môi trường, cũng như quyền con người.


Kính gửi: Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc

Nhân Ngày Môi trường Thế giới, chúng tôi – Mạng lưới Người dân Bảo vệ các dòng sông Kok, Sai, Ruak, Mekong, Salween và Kraburi – muốn cất lên tiếng nói đại diện cho các cộng đồng vùng biên giới đang phải gánh chịu những cái giá về môi trường, sức khỏe và an ninh sinh kế, để thế giới có thể chuyển dịch sang năng lượng sạch một cách công bằng.


Trong bối cảnh chuyển đổi năng lượng toàn cầu, một số cộng đồng đang bị đẩy vào tình thế trở thành những “vùng hy sinh” của nền kinh tế xanh. Trong khi người dân tại các đô thị lớn và các quốc gia công nghiệp phát triển được hưởng lợi từ pin, xe điện và các công nghệ năng lượng sạch, thì các cộng đồng vùng biên giới lại phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm kim loại nặng trong nguồn nước sông, chuỗi thức ăn và môi trường sống; điều này ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, lối sống và các thế hệ tương lai của họ.


Kể từ khi công bố kết quả kiểm nghiệm chất lượng nước và trầm tích vào năm 2025, tình trạng ô nhiễm kim loại nặng đã được phát hiện tại các dòng sông Kok, Sai, Ruak, Mekong và Salween, cũng như tại các lưu vực sông khác có liên kết với các khu vực khai thác khoáng sản ở thượng nguồn. Những tác động này không chỉ giới hạn ở chất lượng nước mà còn ảnh hưởng đến trầm tích, các loài thủy sinh, cây trồng và sự phơi nhiễm hàng ngày của người dân địa phương đối với các chất độc hại. Nỗi bất an về sự an toàn của nguồn nước và thực phẩm đã trở thành thực tế mà các cộng đồng phải đối mặt mỗi ngày.


Về bản chất, cuộc khủng hoảng này là vấn đề ô nhiễm xuyên biên giới, bởi lẽ nhiều cộng đồng bị ảnh hưởng nằm ở một quốc gia, trong khi các nguồn gây ô nhiễm lại nằm ở quốc gia khác, hoặc tại những khu vực mà nhà nước không thể kiểm soát và thực thi pháp luật một cách hiệu quả. Hệ quả là người dân bị ảnh hưởng buộc phải trông chờ vào sự hợp tác quốc tế – vốn thường chậm trễ và không thể theo kịp những thiệt hại đã xảy ra.

Chúng tôi không phủ nhận sự cần thiết của quá trình chuyển đổi sang năng lượng sạch. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi đó phải bảo đảm tính công bằng và không để ai bị bỏ lại phía sau. Việc cắt giảm khí thải nhà kính không được phép đánh đổi bằng sự mất mát về tài nguyên nước, sức khỏe và các quyền cơ bản của cộng đồng vùng biên giới. Việc đẩy gánh nặng ô nhiễm sang những nhóm người có ít quyền thương lượng nhất, không thể được coi là một quá trình chuyển đổi công bằng.


Hơn nữa, người dân sống ở khu vực thượng nguồn tại Myanmar – nơi diễn ra các hoạt động khai thác khoáng sản – còn phải đối mặt với tình cảnh ngặt nghèo hơn nữa. Trong bối cảnh xung đột và năng lực quản trị còn hạn chế, họ hầu như không có cơ hội tiếp cận các dịch vụ giám sát môi trường, chăm sóc y tế, các biện pháp khắc phục hậu quả, hay thậm chí là những không gian an toàn để lên tiếng và đòi lại công lý.

Thực trạng về những bất công đan xen này – bao gồm bất công về môi trường, khi các cộng đồng vùng biên giới phải gánh chịu hậu quả ô nhiễm thay cho người tiêu dùng ở hạ nguồn và các chủ thể nắm quyền lực ở cuối chuỗi cung ứng, trong khi nhiều người bị ảnh hưởng, không thể tiếp cận các cơ chế thực thi công lý hay các kênh giải quyết khiếu nại hiệu quả – đòi hỏi phải có sự nhìn nhận và hành động khẩn trương.

Thứ Ba, 26 tháng 5, 2026

DIỄN VĂN XUẤT TRƯỜNG LỄ TỐT NGHIỆP ĐẦU TIÊN 19.12.1970

SỨ MẠNG ĐẠI HỌC

Viện Đại Học Cần Thơ _ Ngọn Hải Đăng Miền Tây 

GS ĐỖ BÁ KHÊ


      GS Đỗ Bá Khê, là Diễn giả chính đọc bài diễn văn "Xuất Trường" khoá tốt nghiệp đầu tiên 19.12.1970 của Viện Đại Học Cần Thơ, khi ấy ông là Thứ trưởng Bộ Văn Hoá Giáo Dục Việt Nam Cộng Hoà. 
                                                                          

      Ánh Nguyệt, nguyên là luật sư Toà Thượng Thẩm Sài Gòn. Sau 1975, Chị định cư tại Pháp, là phóng viên cho Đài RFI, trong suốt hơn hai thập niên làm việc cho RFI, có thể nói Chị là người có sự hiểu biết sâu rộng và mối quan tâm đặc biệt về con Sông Mekông và Đồng Bằng Sông Cửu Long, qua các bài nhận định và phỏng vấn các học giả và chuyên gia trong lưu vực, trong đó có thể kể "buổi trò chuyện" với GS Đỗ Bá Khê năm 2004, chỉ một năm trước khi ngày GS Khê qua đời. "Sứ Mạng Đại Học" - là một trong số những bài viết, "xưa và nay"  mà GS Đỗ Bá Khê gửi cho PV Ánh Nguyệt trước buổi phỏng vấn để "tỏ tâm tư của thầy."  Trong một tấm carte nhỏ gửi cho tôi, GS Đỗ Bá Khê viết: "Tôi vẫn tin ở tương lai của Đại Học Cần Thơ", và trong đó có cả một chi tiết rất riêng tư thú vị là "Bến Ninh Kiều* là do Anh Hai tôi hình thành khi làm Tỉnh Trưởng tại đó... Mong rồi ra, người viết sẽ tìm lại được phần thu âm buổi trò chuyện của GS Đỗ Bá Khê và phóng viên Ánh Nguyệt, để có thề đi cùng với bài viết này. 


* Đỗ Bá Khê MP3 : 
buổi trò chuyện" với GS Đỗ Bá Khê năm 2004

                                                              *   
                                                                   
      Trước cao trào cầu học của thanh niên Việt Nam và sự phát triển mạnh mẽ đại học hiện nay, tôi xin trình bày một vài ý kiến về đại học. Cũng trong một bầu không khí trang nghiêm đầy triển vọng như hôm nay nhưng tại một quốc gia khác, diễn giả có nhận xét rằng:

      “Tại tất cả các quốc gia trên thế giới, cũ hoặc mới, mạnh hay yếu, độc tài hay dân chủ”, ngày nay trường đại học mọc lên để thỏa mãn nhu cầu đại học dường như là vô tận.

      Một cường quốc như Hoa Kỳ có khả năng thâu nhận hơn 43% thanh niên trong tuổi đại học, trung bình mỗi tuần lễ có 1 đại học mọc lên, thế mà cũng không đáp ứng hết nhu cầu. Tại các nước đang mở mang, sự khao khát đại học lại càng khẩn yếu hơn. Như ở miền Nam Việt Nam này, từ một con số không, nay có 3 đại học công, 4 đại học tư, lại còn một số đại học khác đang trong thời kỳ phôi thai. 

      Nền đại học miền Nam chỉ khởi điểm từ năm 1946. Nếu kể từ năm 1946 tới nay, sĩ số đại học tăng 1.200%, cao đẳng kỹ thuật tăng 1.500%, nhưng ngưỡng cửa đại học cũng còn quá hẹp đối với làn sóng sinh viên cuộn trào từ trung học dâng lên. Đó là một trong những “nguy cơ giáo dục quốc tế”.

      Vì áp lực từ dưới vọng lên nên biện pháp giản dị là mở thêm đại học để thỏa mãn nhu cầu hiếu học. Nhưng cũng như các nước đang vươn mình, nước ta vấp phải vào một trở ngại thứ hai, đó là sự khan hiếm tài lực và nhân lực tối thiểu để thành lập và điều hành một đại học. 

     Lợi tức quốc gia chưa đủ để thi hành giáo dục tiểu học cưỡng bách như Hiến định, cũng như quá thiếu thốn để mở mang trung học đến nỗi 2/3 học sinh phải ghi tên tại các tư thục, đừng nói chi đến đại học là một công trình rất đắt giá.

      Tài chính eo hẹp có thể ít nguy cơ hơn là khuyết điểm nhân sự. Một số đại học tư  đã giải quyết vấn đề tài chánh bằng cách thu học phí cao để thêm vào phần trợ cấp của chính phủ cùng các tài nguyên khác để trang trải chi phí điều hành. Nhưng nhân lực hiện nay là một vấn đề nan giải. Có giảng đường tiện nghi, có phòng thí nghiệm trang bị đầy đủ mà thiếu bộ óc điều khiển thì vô dụng! Bất đắc dĩ, một số giáo sư phải trở thành lưu động để giúp các đại học bạn.

      Khi thành lập một đại học phải định rõ sứ mệnh của nó trong thực tế nào?
Sứ mệnh thông thường của đại học là truyền đạt và bồi đắp sự hiểu biết. Nói một cách khác, hai tác dụng cổ điển của đại học là giảng dạy để mở rộng kiến thức và khảo cứu để tìm hiểu Sự Thật. 

Thứ Bảy, 23 tháng 5, 2026

Đổi mới phục hồi Đại học cộng đồng Tiền Giang




                                 [Nguồn ảnh: Hội Ái hữu Petrus Trương Vĩnh Ký, Úc Châu] 


Đỗ Bá Khê 

18 May 1998


      Lời Giới Thiệu: Sau bài “Kỷ Yếu Kỷ Niệm 60 Năm Thành Lập Viện Đại Học Cần Thơ với Viện Trưởng sáng lập là GS Phạm Hoàng Hộ và tiếp nối là GS Viện Trưởng Nguyễn Duy Xuân, tưởng cũng cần nhắc đến một tên tuổi khác là Giáo sư Đỗ Bá Khê [thầy đã từng là dậy tôi môn Vật lý năm Lý Hoá Sinh / PCB], cũng trong "think tank" của Giáo sư Phạm Hoàng Hộ, đến từ Đại học Khoa học Sài Gòn. Và cách đây 56 năm, trong bài diễn văn “xuất trường” khoá tốt nghiệp đầu tiên của Viện Đại Học Cần Thơ, GS Đỗ Bá Khê đã có một tầm nhìn rất xa về vai trò của Viện Đại Học này đối với tương lai vùng Đồng Bằng Châu Thổ:

“Ngày nay (19/12/1970) trong Thời Đại Khoa Học Kỹ Thuật, các tỉnh ĐBSCL đang trông chờ nơi ánh sáng soi đường của Viện Đại Học Cần Thơ và ước mơ một chân trời mới, tô điểm bằng những cành lúa vàng nặng trĩu, những mảnh vườn hoa quả oằn cây, dân cư thơ thới, một cộng đồng trù phú trong một xã hội công bằng.”

      Giáo sư Đỗ Bá Khê cũng là Thứ Trưởng Bộ Giáo Dục VNCH, người khai sinh ra hệ thống Đại học Cộng đồng [ĐHCĐ] tại Miền Nam trước 1975, theo mô hình Community College Concept của Mỹ, với đin hình là Đại học Cộng đồng Tiền Giang thành lập năm 1971 tại Mỹ Tho, tiếp theo là ĐHCĐ Duyên hải tại Nha Trang… nhưng rồi sau 1975, cùng chung số phận của cả một hệ thống giáo dục tốt đẹp Miền Nam bị sụp đổ, mô hình Đại học Cộng đồng cũng đã hoàn toàn bị chế độ mới làm cho biến thể, và mất hết ý nghĩa tâm nguyện ban đầu của người khai sinh sáng lập.                                                                             


                                            thư tay của GS Đỗ Bá Khê 

                                            viết từ Thành phố Concord, California ngày 29.05.2002. 


      Những năm về sau này, cho dù đã phải sống xa quê nhà, nhưng tấm lòng GS Đỗ Bá Khê vẫn cứ luôn đau đáu hướng về “tương lai ĐBSCL, vai trò của Đại Học Cần Thơ và cả một mạng lưới Đại Học Cộng Đồng trong việc Phát triển Giáo dục không chỉ vùng Đồng Bằng Châu Thổ mà trên quy mô của cả nước. GS Đỗ Bá Khê thì nay cũng đã mất.  [tư liệu Ngô Thế Vinh].


*


Đại học cộng đồng được thành lập trước 1975


      Đại học Cộng đồng (ĐHCĐ) Tiền Giang (TG) nằm trong hệ thống ĐHCĐ được thành lập tại Miền Nam năm 1971 với vin tượng hòa bình, trong kế hoạch tái thiết hậu chiến và sau một cuộc nghiên cứu và trình bày sâu rộng trong dân chúng, nhứt là ở địa phương.


      Khởi điểm là một cuộc nghiên cứu vào năm 1969 (giữa lúc hòa đàm diễn ra ở Paris) để kết thúc bằng một luận án tiến sĩ trình tại University of Southern California năm 1970, tựa đề:  The Community Junior College Concept: A Study of Its Relevance to Postwar Reconstruction in Vietnam (Đại học Cộng đồng: Nghiên cứu Sự Phù hợp của Nó với Cuộc Tái thiết Hậu chiến).


      Luận án nầy rất may mắn được sự tán thành của Chánh phủ Việt Nam Cộng hòa, nht là Bộ Giáo dục. Vì quan niệm ĐHCĐ quá mới m, nên được phổ biến rộng rãi qua báo chí, hệ thống truyền thông, và giải thích cặn kẽ tại thủ đô Sài Gòn trong các cuộc hội thảo, như ở Viện Quốc gia Hành chánh, Trường Cao đẳng Quốc phòng, Hội Việt Mỹ, điều trần tại Quốc hội, cùng tại địa phương trong các buổi nói chuyện, như Mỹ Tho, Nha Trang. Tại địa phương, trong thành phần tham dự có rất đông quân nhân, vì một vai trò quan trọng của ĐHCĐ là thực hiện các chương trình cố vấn, giáo dục và huấn nghệ thích nghi với sự giúp đ hằng vạn quân nhân sắp giải ngũ, khi chiến tranh chấm dứt, để trở lại đi sống dân sự cùng với gia đình trong cảnh thái bình mà ai cũng mong mi.

Thứ Ba, 19 tháng 5, 2026

Giới thiệu Kỷ Yếu Kỷ Niệm 60 Năm Thành Lập Viện Đại Học Cần Thơ

KỶ YẾU KỶ NIỆM 60 NĂM THÀNH LẬP

VIỆN ĐẠI HỌC CẦN THƠ (1966-2026)

Photo by Hai Trầu Lương Thư Trung

BAN BIÊN TẬP:
Chủ biên: Hoàng Quốc Trung. Email: quocrungquan1937@gmail.com
Biên tập, trình bày: Trần Bang Thạch. Email: tranbt21@gmail.com

CÁC TÁC GIẢ CÙNG LÀM NÊN KỶ YẾU NÀY:
Dương Huệ Ái – Lê Nhân Ái – Vương Thị Nguyệt Ánh – GS Nguyễn Văn Bá – Vương Cao Biền – Ký giả Vương Đức Bình – Nguyễn Văn Chữ, PhD – Lê Dung – Huỳnh Hữu Hạnh – Phạm Bá Hoa – BS Phạm Văn Hoàng – Nguyễn Thị Huệ – Trương Nhị Kiều – Lê Trúc Khanh – GS Nguyễn Thanh Liêm – LS Cẩm Linh Nguyễn Rogers – Đốc sự Nguyễn Bá Lộc – Phan Lương Minh – Phước Minh Mong – Nguyễn Trung Nam – Trần Minh Ngọc – Võ Ngọc Nguyên – Hồng Phan – Đan Quế Phong – Thanh Phong – N.V.P – GS Nguyễn Trung Quân – Trần Ngọc Sáu – Mrs. Võ Kim Sơn, PhD – Trần Bang Thạch – Huyền Vân Thanh – Lê Nguyên Thắng – Ngày Xưa Trần Thị – Mai Thị Thanh Tùng – Quách Ngọc Thư – Ngọc Nhãn D. Trần – Hai Trầu – Hoàng Quốc Trung – Lê Minh Tươi – Nguyễn Văn Trường – HV – Lê Học Lãnh Vân – BS Ngô Thế Vinh – Triệu Huỳnh Võ

Trò chuyện với nhà thơ Trang Châu

Trần Thị Nguyệt Mai:  Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh?

Trang Châu:  Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi.

Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975.

Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.

Chụp ở Đà Lạt năm 1956-57, khi học tú tài 2 ở lycée Yersin. – Hình bên trái: từ trái sang: Trang Châu  là người thứ 4. – Hình bên phải: Hàng đứng (từ trái sang): Trang Châu  là người thứ 3

Trang Châu  đứng trên tàu Mary của Médecins du Monde đi cứu người vượt biển, năm 1988.