Thứ Hai, 2 tháng 11, 2026

Winning in the shadows:

 

Sections
The story of a ‘secret’ annual literary prize in Vietnam

 
The ceremony for the 2017 Văn Việt literary prize. (Supplied)

At the 10th Viet Literature Prize in 2024, which was open to Vietnamese-language writers around the world, a collection of poems by a young poet won the unanimous backing of the five-member jury: literary critic Lý Đợi, writer and Facebooker Thái Hạo, poet Ý Nhi, poet and painter Giáng Vân, and novelist Nguyễn Đức Tùng. The collection was named winner in the poetry category.

Yet unlike the winners in the other categories of that edition (prose, criticism, translation and the chairman’s special award), neither the poet nor the winning collection was revealed.

On the prize’s official website, the organizers said they would announce the winner’s name “at an appropriate time.”

Two years on, the author and the poems remain a mystery to the public.

The secrecy is not without reason. The organizers learned hard lessons early on. The caution dates back to 2018, when a young winner was harassed by police after accepting the prize. In 2022, another young winner was dissuaded by police from attending the award ceremony in Hồ Chí Minh City. On his way to the airport, he was reportedly beaten by strangers in front of police officers, for no apparent reason, and missed his flight and the ceremony. Since then, the organizers have decided to withhold the names of young winners who are living inside Vietnam to keep them safe.

“To avoid disadvantaging talented writers, and to avoid leaving gaps in the prize’s record, the award-winning authors whose names are being temporarily withheld will be announced by Văn Việt at an ‘appropriate time,’” says Nguyễn Viện, a writer based in Hồ Chí Minh City and a member of the jury of the poetry category.

The prize was officially launched in 2016 by the Independent Writers Club, or Văn Việt for short, a collective established in 2014 by 61 intellectuals led by the eminent writer Nguyên Ngọc, a former colonel and former deputy of the National Assembly. It has never received recognition from the Vietnamese government.

Despite the constitutionally guaranteed freedom of association, Vietnam does not allow fully independent nongovernment organization. While the motto “Independence — Freedom — Happiness” has headed Vietnam’s official documents since 1945, the government grows wary of “independence” when anyone outside the state claims it. A legally recognized collective must be affiliated with a state agency and, once approved, needs permission for every single project. Yet Nguyên Ngọc and his colleagues have refused to compromise their autonomy, undeterred by shrinking civil liberties. They have founded the collective without registration, published banned books on their own website, brought politically sensitive news stories to public attention, raised their own funds, held annual awards and connected with Vietnamese-language writers and enthusiasts overseas. Staying unauthorized, however, does not mean enjoying unfettered freedom. Despite risks, the group continues its work true to their slogan, “for a free and humane Vietnamese literature,” to prevent literary talents from fading into oblivion. 

Chiến thắng trong bóng tối

Câu chuyện về một giải thưởng văn học thường niên ‘bí mật’ tại Việt Nam

Hướng Thiện, Mekong Indepentdent 1.11.2026

Văn Việt dịch và chú thích,  Thứ Ba, 3 tháng 11, 2026


Trao Giải Văn Việt năm 2017

Tại Giải thưởng Văn học Việt lần thứ 10 vào năm 2024 – giải thưởng mở cửa cho các cây bút tiếng Việt trên toàn thế giới – một chùm thơ của một nhà thơ trẻ đã giành được sự ủng hộ tuyệt đối từ hội đồng xét giải 5 thành viên: nhà phê bình văn học Lý Đợi, nhà văn kiêm người dùng Facebook Thái Hạo, nhà thơ Ý Nhi, nhà thơ kiêm họa sĩ Giáng Vân, và tiểu thuyết gia Nguyễn Đức Tùng. Chùm thơ này đã được đoạt giải ở hạng mục thơ ca.

Tuy nhiên, không giống như những người chiến thắng ở các hạng mục khác trong năm đó (văn xuôi, phê bình, dịch thuật và giải thưởng đặc biệt của chủ tịch), cả tác giả lẫn tập thơ đoạt giải đều không được tiết lộ.

Trên trang web chính thức của giải thưởng, ban tổ chức cho biết họ sẽ công bố tên người chiến thắng “vào thời điểm thích hợp”.

Hai năm trôi qua, tác giả và những bài thơ ấy vẫn là một bí ẩn đối với công chúng.

Sự che giấu này không phải là không có lý do. Ban tổ chức đã rút ra những bài học xương máu từ sớm. Sự thận trọng bắt đầu từ năm 2018, khi một nhà văn trẻ đoạt giải bị công an quấy rối sau khi nhận giải. Đến năm 2022, một người chiến thắng trẻ tuổi khác đã bị công an khuyên không tham dự lễ trao giải tại Thành phố Hồ Chí Minh. Trên đường ra sân bay, anh được cho là đã bị những kẻ lạ mặt hành hung không vì lý do gì rõ ràng ngay trước mặt công an, khiến anh lỡ chuyến bay và bỏ lỡ lễ trao giải. Kể từ đó, ban tổ chức quyết định giữ kín tên của những người đoạt giải trẻ tuổi[1] đang sống trong nước để giữ an toàn cho họ. 

THE NEW CLASS AND RED CRONY CAPITALISM

 From Milovan Djilas (1957) to Vietnam (2026)

 

Cover of Milovan Djilas’s The New Class: An Analysis of the Communist System, first published in 1957. Shown here is the Harcourt/HBJ American edition.

 

Ngo The Vinh

Essay | October 31, 2026

ABSTRACT

 

This essay examines the emergence of politically and economically privileged strata in Vietnam through the theoretical lens of Milovan Djilas’s The New Class (1957), against the backdrop of the transition from a centrally planned economy to a market economy following the Đổi Mới economic reforms of 1986.

Drawing on scholarship on Vietnam’s political economy and data on economic growth, income distribution, and wealth concentration, the essay analyzes the contrast between economic development and the unequal distribution of its benefits. It also emphasizes that economic inequality, by itself, is insufficient to establish the existence or influence of a politically privileged class.

On this basis, the essay explores the relationship between public authority and private interests, particularly the phenomenon of red crony capitalism, while raising questions about institutional transparency and accountability in Vietnam’s economic development.

 

KEYWORDS

 

New Class; Milovan Djilas; Red Crony Capitalism; Vietnam; Đổi Mới (Economic Reforms); Political Power and Economic Interests; Wealth Inequality; Accountability.

 

INTRODUCTION

 

In The New Class: An Analysis of the Communist System (1957), Milovan Djilas, a former Yugoslav communist leader, identified a fundamental paradox: a system committed to building a classless society could nevertheless produce a new privileged stratum that monopolized political authority and controlled economic resources.

Nearly seven decades later, Vietnam presents a question worthy of investigation: after forty years of Đổi Mới (1986–2026), does the concentration of political power, together with privileged access to land, public assets, and economic opportunities, reflect the emergence of a stratum sharing characteristics of the New Class described by Djilas?

Answering this question requires moving beyond political assertions and relying on verifiable evidence and political-economic research. The central issue is not merely who owns assets, but who has the authority to allocate national resources, who benefits from those decisions, and what mechanisms ensure transparency and public accountability.

This is also a book I read more than once during my early university years, a period of youthful aspirations and questions about society’s future.

 

The photograph accompanying “Hoover Acquires Milovan Djilas Literary Archives” shows Milovan Djilas (1911–1995), author of The New Class, on the left, and William “Bill” Jovanovich (1920–2001), Djilas’s friend and the publisher at Harcourt Brace Jovanovich, on the right. Taken at Princeton University in spring 1968; courtesy of Aleksa Djilas, historian and son of Milovan Djilas. 

Thứ Sáu, 30 tháng 10, 2026

GIAI CẤP MỚI VÀ TƯ BẢN ĐỎ

  

Từ Milovan Djilas (1957) đến Việt Nam (2026) 

 

Bìa sách The New Class: An Analysis of the Communist System (Giai Cấp Mới: Phân Tích Hệ Thống Cộng Sản) của Milovan Djilas, xuất bản lần đầu năm 1957. Hình trên là ấn bản của Harcourt/HBJ, Hoa Kỳ.


Ngô Thế Vinh 

Tiểu luận | 31 Tháng 10 năm 2026

 

TÓM TẮT / ABSTRACT

Bài viết khảo sát sự hình thành tầng lớp đặc quyền chính trị và kinh tế tại Việt Nam dưới góc nhìn lý thuyết Giai cấp mới (The New Class, 1957) của Milovan Djilas, trong bối cảnh chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường sau Đổi Mới năm 1986.

Dựa trên các công trình nghiên cứu về kinh tế chính trị Việt Nam, cùng những số liệu về tăng trưởng, phân phối thu nhập và tập trung tài sản, bài viết phân tích sự tương phản giữa thành tựu phát triển kinh tế và tình trạng phân phối không đồng đều những thành quả ấy. Đồng thời, bài viết nhấn mạnh rằng bất bình đẳng kinh tế, tự nó, chưa đủ để chứng minh sự tồn tại hoặc tác động của một giai cấp đặc quyền chính trị.

Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát mối quan hệ giữa quyền lực công và lợi ích tư, đặc biệt qua hiện tượng tư bản đỏ bè cánh (red crony capitalism), đồng thời đặt ra những vấn đề về tính minh bạch thể chế và trách nhiệm giải trình trong tiến trình phát triển kinh tế Việt Nam.

 

TỪ KHÓA / KEYWORDS

Giai cấp mới (New Class); Milovan Djilas; Tư bản đỏ bè cánh (Red Crony Capitalism); Việt Nam (Vietnam); Đổi Mới (Economic Reforms); Quyền lực chính trị và lợi ích kinh tế (Political Power and Economic Interests); Bất bình đẳng tài sản (Wealth Inequality); Trách nhiệm giải trình (Accountability).

 

LỜI DẪN NHẬP

Trong The New Class: An Analysis of the Communist System (1957), Milovan Djilas, cựu lãnh đạo cộng sản Nam Tư, đã chỉ ra một nghịch lý căn bản: một hệ thống chủ trương xây dựng xã hội không giai cấp vẫn có thể sản sinh một tầng lớp đặc quyền mới, nắm giữ quyền lực chính trị và chi phối các nguồn lực kinh tế.

Gần bảy thập niên sau, thực tế Việt Nam đặt ra một câu hỏi đáng khảo sát: sau bốn mươi năm Đổi Mới (1986–2026), liệu sự tập trung quyền lực chính trị, cùng những đặc quyền trong tiếp cận đất đai, tài sản công và cơ hội kinh tế, có phản ánh sự hình thành một tầng lớp mang những đặc điểm của Giai cấp mới mà Djilas từng mô tả?

Để trả lời, cần vượt ra ngoài những nhận định mang tính chính trị, dựa trên các chứng cứ thực tế và những nghiên cứu kinh tế chính trị có thể kiểm chứng. Vấn đề cốt lõi không chỉ là ai nắm giữ tài sản, mà còn là ai có quyền quyết định việc phân bổ nguồn lực quốc gia, ai được hưởng lợi từ những quyết định ấy, và những cơ chế nào bảo đảm tính minh bạch cùng trách nhiệm giải trình trước xã hội.

Đây cũng là một cuốn sách mà người viết đã hơn một lần đọc trong những năm đầu đại học, giữa một thời tuổi trẻ nhiều khát vọng và những câu hỏi về tương lai xã hội.

*



Bức ảnh trong bài 
“Hoover Acquires Milovan Djilas Literary Archives” có hai nhân vật, bên trái: Milovan Djilas (1911–1995), tác giả The New Class, bên phải: William “Bill” Jovanovich (1920–2001), người bạn của Djilas, nhà xuất bản Harcourt Brace Jovanovich. Ảnh chụp tại Princeton University, mùa xuân năm 1968, do Aleksa Djilas, sử gia và cũng là con trai của Milovan Djilas, cung cấp.

*

MILOVAN DJILAS: TIỂU SỬ TÓM LƯỢC

Milovan Djilas (12/6/1911 – 20/4/1995) là nhà cách mạng, chính khách, nhà văn và nhà tư tưởng chính trị người Nam Tư, sinh tại Montenegro. Ông từng thuộc nhóm bốn lãnh đạo cao cấp nhất của Đảng Cộng sản Nam Tư, bên cạnh Josip Broz Tito, Edvard Kardelj và Aleksandar Ranković, trước khi trở thành một trong những nhân vật bất đồng chính kiến nổi bật của thế giới cộng sản thời Chiến tranh Lạnh.

Gia nhập Đảng Cộng sản Nam Tư năm 1932, Djilas tham gia phong trào kháng chiến chống phát xít trong Thế chiến thứ hai và trở thành cộng sự thân cận của Tito. Sau chiến tranh, ông giữ nhiều chức vụ quan trọng, trong đó có Chủ tịch Quốc hội Nam Tư (1953–1954).

Từ đầu thập niên 1950, Djilas ngày càng bất đồng với giới lãnh đạo cộng sản. Những bài viết năm 1953–1954 phê phán đặc quyền của tầng lớp cầm quyền và đề nghị mở rộng tự do chính trị đã dẫn đến việc ông bị loại khỏi ban lãnh đạo năm 1954.

Năm 1957, tác phẩm nổi tiếng nhất của ông, The New Class: An Analysis of the Communist System (Giai cấp mới: Phân tích hệ thống cộng sản), được xuất bản tại Hoa Kỳ. Cuốn sách đánh dấu bước chuyển quan trọng của Djilas từ một nhà lãnh đạo cộng sản trở thành một nhà phê bình có ảnh hưởng lớn đối với chính hệ thống mà ông từng góp phần xây dựng.

Trải qua nhiều đợt tù đày, với tổng thời gian bị giam giữ khoảng chín năm, Djilas được trả tự do năm 1966. Ông tiếp tục viết và phê phán chế độ độc đảng cho đến cuối đời. Ông mất tại Belgrade ngày 20/4/1995, hưởng thọ 83 tuổi.

 

I. MILOVAN DJILAS VÀ KHÁI NIỆM GIAI CẤP MỚI 

Cuốn sách đã gây tiếng vang lớn, không chỉ vì những luận điểm phê bình hệ thống chính trị cộng sản, mà còn vì tác giả từng giữ vị trí quan trọng ngay trong cơ cấu lãnh đạo của hệ thống ấy. 

Djilas đặt ra một câu hỏi căn bản: nếu một cuộc cách mạng chủ trương xóa bỏ sự phân chia giai cấp, vì sao sau khi giành được chính quyền lại có thể hình thành một tầng lớp được hưởng những ưu thế đặc biệt về chính trị, kinh tế và đời sống? Câu hỏi ấy vẫn còn sức gợi mở khi nhìn lại bốn mươi năm Đổi Mới, bắt đầu từ năm 1986 tại Việt Nam, nơi nền kinh tế thị trường phát triển trong khuôn khổ một hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. 

Nam Tư thời Djilas là một hệ thống xã hội chủ nghĩa với nền kinh tế chủ yếu do nhà nước quản lý. Việt Nam ngày nay đã có một khu vực kinh tế tư nhân, đầu tư quốc tế, thị trường tài chính và sự xuất hiện những doanh nghiệp lớn. Chính trong bối cảnh ấy, câu hỏi đặt ra là liệu có đang hình thành một tầng lớp có ưu thế đặc biệt nhờ sự kết hợp giữa quyền lực chính trị và khả năng tiếp cận các nguồn lực kinh tế. 

Khi Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và giữ vai trò quyết định trong phân bổ nhiều nguồn lực quan trọng, vấn đề minh bạch và trách nhiệm giải trình càng cần được quan tâm: ai thực sự có quyền quyết định, ai được hưởng lợi và những cơ chế nào có thể bảo đảm sự công bằng? 

Luận điểm chính của Djilas là trong một hệ thống cộng sản, tầng lớp quan chức đảng và nhà nước có thể trở thành một giai cấp nắm quyền chi phối, dù trên danh nghĩa không sở hữu nhà máy hay ruộng đất theo cách của các nhà tư bản cổ điển. Quyền sở hữu pháp lý thuộc về nhà nước, nhưng quyền bổ nhiệm, điều hành, phân phối và sử dụng tài nguyên lại tập trung vào những người có vị trí trong bộ máy quyền lực. 

 

Djilas đặc biệt chú ý đến khoảng cách giữa lý tưởng bình đẳng được tuyên bố và những ưu đãi trong thực tế dành cho người giữ chức vụ trong hệ thống chính trị. Ông không chỉ bàn về tiền bạc. Nhà ở, phương tiện đi lại, cơ hội học hành, điều kiện chăm sóc sức khỏe, khả năng thăng tiến của con cái, quyền tiếp cận thông tin và những ưu thế khác đều có thể trở thành biểu hiện của địa vị xã hội. 

 

Những ưu thế ấy không nhất thiết được ghi nhận thành quyền sở hữu cá nhân. Chúng có thể tồn tại thông qua một hệ thống phân phối dựa trên chức vụ, quan hệ và sự trung thành chính trị. Một đóng góp quan trọng của Djilas là giúp người đọc phân biệt ba vấn đề: tài sản đứng tên ai; ai thực sự quyết định việc sử dụng tài sản; và cuối cùng, ai được hưởng lợi từ những quyết định đó. Một tài sản được xác định là thuộc sở hữu toàn dân vẫn có thể được sử dụng theo hướng ưu tiên lợi ích của một nhóm nhỏ nếu thiếu những cơ chế kiểm tra độc lập, tính minh bạch và trách nhiệm giải trình (transparency and accountability).

 

Bài viết không chủ trương đồng nhất tầng lớp lãnh đạo chính trị Việt Nam hiện nay với mô hình giai cấp mới của Djilas năm 1957. Tuy nhiên, những đặc quyền trong việc kiểm soát và phân bổ nguồn lực kinh tế, cùng các trường hợp lạm dụng quyền lực đã được xét xử, cho thấy những cơ chế đáng khảo sát về sự chuyển hóa quyền lực chính trị thành lợi ích kinh tế. Vấn đề đặt ra không chỉ là sự tồn tại của những cá nhân tham nhũng, mà còn là liệu những điều kiện thể chế có tạo thuận lợi cho sự hình thành và duy trì một tầng lớp đặc quyền kinh tế hay không. 

Thứ Năm, 29 tháng 10, 2026

Viện bảo tàng người Việt tại Melbourne Úc châu

 

Điều nhiều bạn trẻ 

có thể chưa biết về những năm sau 1975



NGUYỄN VĂN TUẤN 

Hôm nay lViện Bảo Tàng Người Việt Tự Do Úc Châu (Vietnamese Museum Australia) tại Melbourne đã chính thức khánh thành vào Thứ Bảy, ngày 17 tháng 10 năm 2026, Người Việt ở đây đã trông chờ vào một viện bảo tàng như thế này lâu lắm rồi, và nay thành hiện thực.

Đây là viện bảo tàng đầu tiên tại Úc để kể lại những câu chuyện của người tị nạn Việt Nam tại Úc. Thiết kế Viện bảo tàng, theo tôi, là tinh tế. Nó phản ảnh 4 biểu tượng: sóng biển, đất đỏ, tre Việt Nam, và bọc trăm trứng.

Nhân dịp này, tôi muốn chia sẻ một phần lịch sử mà nhiều bạn trẻ, cả ở hải ngoại lẫn trong nước, chưa từng được nghe đầy đủ.


Viện bảo tàng người Việt tại Úc (Vietnamese Museum Australia hay VMA) khánh thành ngày 17/10/2026. Đây là một giấc mơ của người Việt tại Úc thành sự thật. Công trình này tốn hơn 20 triệu đôla. Thiết kế phản ảnh 4 ý: (1) Sóng biển (Towering Waves): Tượng trưng cho hành trình vượt biển, những hiểm nguy, mất mát và hi vọng tìm đến tự do. Những đường nét uốn lượn trong kiến trúc gợi lại hình ảnh sóng biển. (2) Đất đỏ Úc: Những sắc đỏ nâu và màu đất ấm tượng trưng cho nước Úc, vùng đất đã đón nhận người Việt tị nạn và mở ra một cuộc sống mới. (3) Tre Việt Nam: Hình ảnh tre được thể hiện qua các yếu tố mặt đứng, gợi lên quê hương, sức chịu đựng, tinh thần đoàn kết và khả năng thích nghi của người Việt. (4) Bọc trăm trứng: Lấy cảm hứng từ truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ, được thể hiện như một chiếc vương miện vàng trên đỉnh công trình, tượng trưng cho nguồn gốc chung và sự đoàn kết của cộng đồng Việt Nam.

Bảo tàng này không chỉ dành cho thế hệ đã ra đi. Nó dành cho con cháu chúng ta, để các em biết cha ông mình đã đến Úc trong hoàn cảnh nào, đã vượt qua những khó khăn ra sao, và đã đóng góp gì cho đất nước đã dang tay đón nhận mình.


Chuyện gì đã xảy ra

Cuộc chiến 2 thập niên kết thúc vào cuối tháng Tư năm 1975.

Từ năm 1975 đến giữa thập niên 1990, hơn 1 triệu người đã rời Việt Nam. Khoảng 800.000 người ra đi bằng đường biển, và số còn lại đi bằng đường bộ qua Cam Bốt sang Thái Lan.

Số vượt biển, họ đi trên những chiếc ghe đánh cá nhỏ, vốn chỉ đóng cho đi sông hay ven bờ, không phải để vượt đại dương. Thế giới gọi họ là “boat people” hay “thuyền nhân”. Boat People trở thành một thuật ngữ trong các từ điển tiếng Anh.

Tại sao họ ra đi

Phần lớn thuyền nhân ra đi không phải vì lí do kinh tế. Họ ra đi vì bản thân và gia đình bị trù dập vì quá khứ.

Sau năm 1975, hàng trăm ngàn cựu quân nhân, công chức, giáo chức và chức sắc tôn giáo bị đưa vào các trại cải tạo. Nhiều người ở trong đó nhiều năm, có người không bao giờ trở về.

Gia đình họ bị đánh giá theo lí lịch, và con em có lí lịch “không tốt” thường bị từ chối vào đại học hay mất cơ hội việc làm.

Nhiều gia đình bị tịch thu nhà cửa, tài sản hoặc phải đi vùng kinh tế mới.

Trong những năm 1978–79, người Việt gốc Hoa cũng chịu áp lực nặng nề phải rời đi.

Với nhiều bậc cha mẹ, biển cả là một rủi ro khủng khiếp, nhưng ở lại nghĩa là con cái họ không có tương lai.

Cái giá kinh hoàng

Không ai biết chính xác bao nhiêu người đã bỏ mình trên biển Đông. Cao ủy Tị nạn Liên Hợp Quốc (UNHCR) ước tính từ 200,000 đến 400,000 người đã chết trên biển Đông; một số nhà nghiên cứu cho rằng con số còn cao hơn.

Họ chết vì bão tố, vì đói khát, vì những chiếc ghe quá tải bị chìm. Trong vịnh Thái Lan, hải tặc tấn công ghe tị nạn hết lần này đến lần khác, cướp bóc, giết người, bắt cóc phụ nữ và trẻ em gái. Cho đến ngày hôm nay, nhiều gia đình vẫn không biết người thân mình (hàng trăm ngàn người) nằm lại nơi đâu.

Thế giới đã phản ứng ra sao

Tháng 7 năm 1979, Liên Hợp Quốc tổ chức một hội nghị quốc tế tại Geneva. Các quốc gia đồng ý tiếp nhận người tị nạn từ các trại khắp Đông Nam Á.

Sau đó, Chương trình Ra đi có Trật tự (ODP) được thiết lập để mọi người có thể ra đi hợp pháp thay vì liều mạng trên biển. Một thỏa thuận thứ hai năm 1989 khép lại giai đoạn trại tị nạn trong thập niên 1990.

Úc đã tiếp nhận hơn 100,000 người tị nạn Việt Nam trong những năm đó. Chiếc ghe nhỏ đầu tiên cập bến Darwin vào tháng 4 năm 1976. Ngày nay, hơn 250,000 người Úc sanh ra tại Việt Nam hoặc có gốc Việt.

Họ hoà nhập vào xã hội Úc và làm đủ ngành nghề: kĩ sư, bác sĩ, giáo viên, nhà khoa học, thợ lành nghề, chủ doanh nghiệp và nghị sĩ. Họ làm giàu cho Úc bằng nhiều cách khác nhau.

Thứ Ba, 27 tháng 10, 2026

LANG THANG NGHÌN DẶM _ NT KHÁNH MINH

Việt Ecology Press trân trọng giới thiệu

 

LANG THANG NGHÌN DẶM Tập 2

 

NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH

 

VĂN HỌC PRESS xuất bản, 2026


 

 

LỜI GIỚI THIỆU

 

Lang Thang Nghìn Dặm Tập 2: Một thời của

thơ mộng, ly tán

Phan Tấn Hải

 

Tác phẩm Lang Thang Nghìn Dặm Tập 2 của Nguyễn Thị Khánh Minh một lần nữa cho thấy sức làm việc không ngừng nghỉ và tâm hồn cực kỳ thơ mộng của tác giả, nơi ngòi bút của chị hiển lộ sự trân trọng vẻ đẹp ngôn ngữ Việt qua các bài tản văn về nhiều tác giả và tác phẩm. 

 

Nơi sách này, chúng ta sẽ đọc qua mắt nhìn của Nguyễn Thị Khánh Minh (NTKM) về các tác giả:

 

-- Đỗ Hồng Ngọc, một chàng Đỗ Nghê làm thơ rất "tinh nghịch, mộc mạc, giản dị, đằm thắm, cảm động" 


-- và là một người viết về Thiền để mời độc giả "chậm lại, nghe tiếng trái tim, cho ta năng lực để thấm thía được hết những đau khổ và hạnh phúc, mới tu học được bốn tâm vô lượng";


-- Ngô Thế Vinh, qua Mặt Trận Ở Sài Gòn, nơi NTKM viết là "Chữ của Ngô Thế Vinh là chữ sống. Văn Ngô Thế Vinh đầm đẫm cái đẹp bi thương đến não nùng. Đẹp, đến từ cảm xúc trung thực, ở tình tự nhân bản, ở trái tim nhân ái, ở sự hiểu biết sáng suốt, sâu sắc và trầm tĩnh";

 

-- Đặng Mai Lan, người "đã dẫn tôi vào một cõi hư hư thực thực với bóng đêm, với tiếng thầm của nước mắt chảy trên gò má, với tiếng sương rơi, tiếng dế gõ khuya, tiếng cười rúc rích trong lá, với tiếng chuông tình yêu lao xao tàng cây";

 

-- Trịnh Y Thư, người viết "trữ tình mà không thiếu ánh sáng lóng lánh của trí tuệ. Có đủ cả hai như thế là do Trịnh Y Thư vừa có tâm hồn nhạy cảm của nhà thơ vừa có nội lực dồi dào của tri thức";

 

-- Đặng Thơ Thơ, người ghi lại "một hiện tại chứa đựng vẻ đẹp của miên viễn, vẻ đẹp tâm linh của thiên nhiên, của đồ vật, nhìn thấy được qua hơi thở của sự sống, chẳng phải nhà văn đã lôi ra cho chúng ta thấy cái đẹp thường hằng trong mong manh? Đó là tuệ giác về vô thường";

 

-- Trần Mộng Tú, người có dòng thơ ghi lại "Sự cảm thụ thời gian được thể hiện hết sức hồn nhiên, tự nhiên, nên nó hết sức trẻ, cho dù sau nó là ẩn ý sự tàn phai";

 

-- Nguyên Yên, người viết "bình luận ký tên thật Nina Hòa Bình Lê với cái nhìn sắc bén, can đảm và nhân ái, người đọc còn được biết đến Thơ của cô, với bút danh Nguyên Yên. Một tiếng thơ gây ngạc nhiên bởi ý tưởng, hình ảnh độc đáo, giản dị, mạnh mẽ, trữ tình";

 

-- Cao Vị Khanh, người "không ngại xát thêm muối vào vết thương, để khơi gợi lòng biết ơn, để lưu giữ gốc rễ, để nhắc nhớ và để bao dung với hận thù, tạo nên một dòng thơ bi tráng trong mạch thơ lưu vong. Đấy là bóng của nhà thơ Cao Vị Khanh, ẩn hiện trên dặm dài con chữ";

 

-- Lê Giang Trần, qua thi tập Trạm Người Quá Bước, "là nỗi lưu đày của thân phận ly hương, và nỗi trôi giạt phận Người. Thế ra nhà thơ, cũng như triệu người Việt tha phương chịu tới hai lần lưu vong. Cái lưu vong nguyên thủy kiếp người. Cái lưu vong của nghiệp, phần Việt Nam";

 

-- Nguyễn Đức Cường, một nhà thơ "ngẩn ngơ bởi tiếng vọng của chợt thấy, và, lặng yên bình an trong tiếng thầm thì, Ta Xa Nhau Thành Thơ. Một hành trình khởi đi từ cảm thức hiện sinh, và nơi đến của cảm thức tâm linh. Một cuộc hóa thân nhiệm mầu ở cuối cuộc hành trình, để người thơ gặp lại tiếng khóc đầu tiên và nấm mồ nên thơ của khói sương mộng huyễn";

 

-- Phan Tấn Hải, người viết truyện "hư hư thực thực, thời gian thì phi tuyến tính, cái hấp dẫn là bắt đầu từ mấu chốt thực, rồi lan man vào mơ, rồi tan như ảnh ảo, đó là không khí của hiện thực huyễn ảo... Như mùi hương ẩn mật, như vạt nắng sớm trong lời kinh Pháp Cú";

 

-- Khế Iêm, người làm thơ đã "thấu cảm được hiệu quả cùng sự bất lực của lời đối với ý tưởng và cảm xúc của mình, sự tích lũy kinh nghiệm ấy khiến dặm trường của ngôn ngữ thơ là cuộc thể nghiệm chữ không ngừng. Ngôn ngữ thơ Khế Iêm là một hành trình theo đuổi, tìm tòi...";

 

 

Phần 2 của tuyển tập được Nguyễn Thị Khánh Minh đặt nhan đề là Tâm Hương, nơi chị ghi lại suy nghĩ và các bài thơ chị tặng các bạn văn đã rời cõi này, trong đó có Nguyễn Tôn Nhan (rời cõi này năm 2010), Trương Thìn (2012), Nguyễn Xuân Hoàng (2014), Phùng Nguyễn (2015), Đinh Cường (2016), Du Tử Lê (2019), Nguyễn Lương Vỵ (2021), Huỳnh Ngọc Chiến (2021), Cung Tiến (2022), Lê Thiết Cương (2015).

 

Và đặc biệt là lời Nguyễn Thị Khánh Minh ghi lại một kỷ niệm năm 2009 khi chị được hội kiến cố Hòa Thượng Tuệ Sỹ, người đã ra đi năm 2023. Nhà thơ nữ họ Nguyễn kể rằng cơ duyên này là sau buổi ra mắt tập thơ Bùa Hương của chị tại quán cà phê Du Miên, lúc đó in chỉ với 50 ấn bản do Ý Thức Bản Thảo ấn hành 2009. Nhà thơ Lữ Kiều sau đó đưa nhà thơ đến chùa Già Lam để hội kiến Thầy Tuệ Sỹ.

 

Nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh ghi lại, trích: "Rồi, chúng tôi được nghe và thấy Sư ngồi đàn, một Thiền Sư gõ trên phím những nốt nhạc âm vang lời kinh hồi hướng, một Nhà Thơ gõ trên phím những nốt nhạc của tâm hồn, Sư ngồi đó, Sư đang ở đó, như vừa mới đến, như vừa ra đi trong âm ba tiếng nhạc ôi, Như Lai đâu có đi có đến… Không gian thời gian như nhập lại một dòng trôi vi diệu… Năm tháng vẫn như nụ cười trong mộng… Thời gian tiếng dương cầm, như đang đọng từng hạt vàng trong nắng Già Lam. Đó Ngày Mộng của tôi. Ngày mộng khởi duyên cho bao thiện lành trong từng bước tu hướng về Người..."

 

Độc giả sẽ tìm thấy giá trị văn học trong tuyển tập Lang Thang Nghìn Dặm Tập 2 qua những dòng chữ thơ mộng của Nguyễn Thị Khánh Minh, sẽ cảm nhận những buồn vui của các tác giả trong một thời sáng tác đầy ly tán, và sẽ nghe được những âm vang lịch sử -- như khi tự thấy mình đang ngồi trong tiếng đàn của Thầy Tuệ Sỹ.

 

Từng dòng chữ của Nguyễn Thị Khánh Minh là cả một khung trời thơ mộng rất mực hy hữu, nơi chúng ta sẽ ngưng lại ở nhiều trang để suy nghĩ: vì sao các dòng văn xuôi của phê bình văn học trong ngòi bút của chị lại có sức mạnh của thi ca như thế. Hy hữu. Cực kỳ hy hữu.  

 

@@@

 

Sách có bán trên BARNES & NOBLE

358 trang, bìa mềm, 6”x 9”, giá bán: US$30.00

Xin bấm vào đường dẫn sau:

 

Lang thang nghin dam 2 | Barnes & Noble®

 

Từ tìm kiếm: lang thang nghin dam 2, nguyen thi khanh minh

 

Văn Học Press

22 Agostino, Irvine, CA 92614 USA • vmail: +1-949-981-3978

email: vanhocpress@gmail.com • Facebook: Van Hoc Press 


 

 

 

Thứ Hai, 26 tháng 10, 2026

Cầu đi bộ Lá Dừa Nước:

 từ kí ức miền Tây đến tình bạn Việt – Úc

NGUYỄN VĂN TUẤN


Giữa lòng Sài Gòn hiện đại, một tàu lá quê nhà. Một công trình mang dấu ấn năng lực Việt Nam, với sự đồng hành của nước Úc (mà báo chí Việt Nam chưa nhắc đến).

Từ Quận Tư (nay là phường Xóm Chiếu), tôi gần như ngày nào cũng có dịp đi ngang qua nơi đang xây dựng cây cầu đi bộ nối Bến Bạch Đằng với Thủ Thiêm. Tôi đã xem qua bản vẽ thiết kế, biết cây cầu lấy cảm hứng từ hình dáng lá dừa nước, nhưng thú thiệt, vẫn chưa hình dung được khi bắc qua sông Sài Gòn, nó sẽ trông ra sao.

Cho đến ngày 21/10, khi nhịp chánh của cây cầu chánh thức hợp long, nhìn hình cây cầu hiện ra giữa dòng sông, tôi mới cảm nhận được hết vẻ đẹp của ý tưởng đó.

Với tôi, cây cầu đẹp không chỉ vì đường nét kiến trúc, mà còn vì một lí do rất riêng tư: giữa lòng Sài Gòn hiện đại, tôi chợt nhìn thấy một hình ảnh thân thương của quê nhà.

Đó là cái lá dừa nước.


Cây dừa nước miệt quê miền Tây

Lá dừa nước và kí ức tuổi thơ

Ai từng lớn lên ở miệt quê miền Tây chắc không xa lạ gì với cây dừa nước. Nó mọc ven sông, ven rạch, bám vào những bãi bùn, lặng lẽ sống qua bao mùa nước lớn, nước ròng. Nó không kiêu sa như những loài cây cảnh. Nó cũng chẳng cao lớn như cây dừa trên cạn. Nó cứ âm thầm hiện diện trong đời sống của người dân quê tôi, từ đời này sang đời khác.

Nhà ba má tôi xây nằm bên bờ sông. Thành ra, tuổi thơ tôi gắn với con nước, với những bụi dừa nước, với những buổi lội bùn bắt cá bống gần mùa Tết. Hồi đó, tôi đâu có nghĩ gì nhiều về cây dừa nước. Nó ở đó, tự nhiên như dòng sông trước nhà, như tiếng mái chèo khua nước, như những buổi chiều quê yên ả.

Chỉ đến khi đi xa, rồi có tuổi, tôi mới hiểu rằng có những thứ lúc sống bên cạnh, mình thấy quá bình thường, nhưng khi ngoảnh lại, chúng bỗng trở thành một phần rất sâu trong kí ức.

Cây dừa nước đối với tôi là một thứ như vậy. Trong cuốn hồi ức “Giấc mơ Kangaroo”, tôi từng nhắc đến hình ảnh lá dừa nước như một phần kí ức quê nhà.

Và hôm nay, nhìn cây cầu đang thành hình giữa sông Sài Gòn, những kí ức đó lại ùa về, gần gũi và rõ ràng hơn bao giờ hết.

Tôi nhớ những bụi dừa nước bám chặt vào bờ sông, chịu đựng dòng nước lớn ròng, giữ cho đất không bị cuốn trôi. Tôi nhớ những trái dừa nước với phần cơm mềm mềm, dẻo dẻo, vị ngọt thanh rất riêng, thứ quà quê giản dị mà ăn một lần là nhớ hoài.

Nhưng có lẽ tôi nhớ nhất vẫn là những tàu lá dừa nước.

Ngày xưa ở quê, người ta dùng lá dừa nước để lợp nhà. Những mái lá đơn sơ đã che nắng, che mưa cho biết bao gia đình miền Tây.

Nghĩ cho cùng, chiếc lá dừa nước tuy bình dị mà có ý nghĩa biết bao. Nó che chở con người, như chính vùng đất quê hương đã nuôi dưỡng bao thế hệ lớn lên. Có lẽ vì vậy mà tôi đặc biệt thích ý tưởng chọn hình dáng lá dừa nước làm cảm hứng cho cây cầu đi bộ này.

Giữa những tòa cao ốc, những công trình kiến trúc hiện đại và một Sài Gòn luôn hướng về phía trước, một lá dừa nước bỗng được nâng lên thành một biểu tượng kiến trúc mới. Điều đó khiến tôi vừa thích thú, vừa có chút xúc động.



Phối cảnh cầu đi bộ qua sông Sài Gòn hình tượng lá dừa nước – Ảnh: Liên danh Chodai – Takashi Niwa Architects và Chodai Kisojiban Việt Nam

Nhịp cầu thể hiện năng lực Việt Nam

Ý tưởng lấy hình lá dừa nước thiết kế hình dáng cây cầu là từ công ty Kiến trúc Niwa (Nhật Bản – Việt Nam).

Đằng sau hình dáng mềm mại của chiếc lá dừa nước là một công trình kĩ thuật đầy thử thách. Và tất cả đều do người Việt thiết kế, chế tạo và lắp ráp. Tập đoàn đứng đằng sau là Đại Dũng, có trụ sở ở phường Tân Sơn Hoà [1].

Thử tưởng tượng một kết cấu thép 3400 tấn, dài 187 mét. Nó phải di chuyển bằng đường sông suốt 124 km. Rồi khi tới nơi nó phải được nâng lên và đưa vào đúng vị trí giữa hai bờ, trong điều kiện con nước lớn ròng, dòng chảy thay đổi và tàu thuyền qua lại thường xuyên. Chỉ cần một sai sót nhỏ trong tính toán hoặc phối hợp cũng có thể ảnh hưởng đến cả quá trình thi công.

Đó không phải là chuyện đơn giản. Ngay cả ở các nước có công nghệ tiên tiến như Úc, khi tôi hỏi các giáo sư chuyên về engineering ở đây, họ đều nói đó là một kì công.

Cây cầu này được khởi công vào cuối tháng 3/2025. Đến ngày 21/10/2026, tức chỉ chừng 19 tháng sau, nhịp chánh đã được hợp long. Nghe nói đến Tết này người dân (có tôi) sẽ được đi bộ trên cây cầu.



Nhịp chánh của cây cầu lá dừa nước (chưa biết tên chánh thức là gì) hợp long ngày 21/10/2026. Hình của Tập đoàn Đại Dũng. 

Một dự án lớn như vậy mà chỉ làm trong vòng 3 năm. Tốc độ này cũng đáng kinh ngạc. Ở Úc tôi, chỉ một cây cầu đi bộ đơn giản qua một đại lộ thôi mà mất 2 năm trời (chẳng hiểu sao họ làm lâu như thế).

Cây cầu lá dừa nước này, theo tôi, là một điểm son đáng tự hào của năng lực kĩ thuật, sự khéo léo, và bản lãnh của người Việt thực hiện những công trình phức tạp. Nếu có điều kiện và giúp đỡ từ nước ngoài [3] thì người Việt có thể làm những công trình như ở các nước tiên tiến thôi.

Có một thời, khi nói đến công nghiệp Việt Nam, người ta thường nghĩ đến gia công, lắp ráp hoặc những công việc sử dụng nhiều lao động. Nhưng những công trình như thế này cho thấy một hình ảnh khác: những tập đoàn như Đại Dũng đã có thể đảm nhận những kết cấu thép lớn, những công đoạn chế tạo và lắp đặt khó, với yêu cầu kĩ thuật ngày càng cao. Xin có lời khen các kĩ sư và công nhân Việt Nam.

Nhịp cầu Úc – Việt

Có một câu chuyện khác đằng sau cây cầu này mà tôi đặc biệt quan tâm. Đó là sự đóng góp của nước Úc. Báo chí Việt Nam (những bài tôi đọc) không hề nhắc đến vai trò của Úc trong công trình lịch sử này.

Cây cầu này là do tập đoàn Nutifood tài trợ. Không rõ nhà nước có đóng góp đồng nào? Một doanh nghiệp tư nhân sẵn sàng bỏ ra 1000 tỉ đồng (khoảng 40 triệu USD) để đóng góp một công trình phục vụ cộng đồng là điều rất đáng ghi nhận.

Theo thông cáo báo chí của Toà Đại Sứ Úc [2] tại Việt Nam thì tháng 5/2026, thì tôi hiểu là Nutifood vay 800 tỉ đồng từ Ngân hàng HSBC Việt Nam để tài trợ cho cây cầu. Nhưng để vay tiền thì cần phải có cơ quan bảo trợ, và trong trường hợp này cơ quan bảo trợ là Chánh phủ Úc, thông qua Cơ quan Tài chánh Xuất cảng Úc (Export Finance Australia, EFA).

EFA bảo lãnh 90% khoản tiền vay (tức 720 tỉ đồng). EFA chỉ bảo lãnh chứ không tài trợ. Nhờ EFA đứng ra bảo lãnh 90%, rủi ro của HSBC giảm đi đáng kể, giúp việc huy động vốn của Nutifood thuận lợi hơn.

Nói ngắn gọn: HSBC cung cấp tiền, Nutifood có trách nhiệm trả nợ, còn Úc đứng ra chia sẻ phần lớn rủi ro cho HSBC.

Nói một cách dễ hiểu, Úc góp phần tạo điều kiện về tài chánh, còn người Việt Nam đem trí thông minh, tay nghề và công sức của mình để biến ý tưởng thành hiện thực.

Là một công dân Úc có cội nguồn Việt Nam, tôi có một niềm vui rất riêng. Tôi vui vì đất nước nơi mình đang sanh sống đã góp phần vào một công trình đẹp của quê nhà.

Mai này, khi cây cầu hoàn tất, tôi nhứt định sẽ đi bộ qua đó. Có lẽ tôi sẽ dừng lại giữa cầu, nhìn dòng sông Sài Gòn huyền thoại, nhìn những tòa nhà cao tầng ở hai bên bờ, và nghĩ đến con sông nhỏ trước nhà ba má tôi ở miền Tây ngày xưa.

Nghĩ cũng thú vị. Một tàu lá dừa nước bình dị, vốn chỉ quen với những dòng sông, con rạch miền Tây, nay lại trở thành hình ảnh của một công trình hiện đại giữa lòng Sài Gòn. Ngày xưa, lá dừa nước che nắng che mưa cho những mái nhà nghèo, còn hôm nay, hình dáng chiếc lá ấy vươn qua sông, nối đôi bờ của một thành phố hiện đại. Thành ra, một cách riêng tư, cây cầu này giống như một nhịp cầu nối kí ức quê nhà với hiện tại, và nối hai đất nước mà tôi đều gọi là quê hương.


NGUYỄN VĂN TUẤN 

Sydney, tháng 10, 2026

______

[1] https://daidung.com/cau-di-bo-qua-song-sai-gon-hop-long-thanh-cong-sau-8-gio-thi-cong/

[2] https://vietnam.embassy.gov.au/hnoi/MR260519.html

[3] Trong thông cáo của Đại Dũng [1] có ghi rõ những đơn vị đã góp phần vào công trình này:


“Với mong muốn dành tặng TP.HCM một công trình có giá trị kiến trúc đặc sắc, chất lượng và bền vững theo thời gian, Nutifood – đơn vị tài trợ 100% kinh phí xây dựng cầu đi bộ qua sông Sài Gòn – đã mời những tên tuổi uy tín, giàu kinh nghiệm trong nước và quốc tế cùng tham gia thực hiện dự án. Đây đều là những đơn vị từng ghi dấu ấn tại nhiều công trình quy mô lớn, có yêu cầu cao về kỹ thuật và kiến trúc.

Nổi bật ở khâu tư vấn thiết kế là liên danh Công ty TNHH Chodai & Kiso-Jiban Việt Nam, Công ty TNHH Chodai và Công ty TNHH Kiến trúc Niwa – tác giả phương án kiến trúc hình lá dừa nước được TP.HCM lựa chọn năm 2023. Được Nutifood mời tiếp tục đảm nhiệm tư vấn khảo sát và thiết kế bản vẽ thi công, liên danh chuyển hóa ý tưởng kiến trúc độc đáo thành những giải pháp kỹ thuật chi tiết. Các thành viên liên danh có kinh nghiệm từ những dự án nổi tiếng như cầu Nhật Tân, cầu Cần Thơ và cầu Akashi Kaikyo (Nhật Bản).

Ban Quản lý dự án Mỹ Thuận đảm nhiệm tư vấn quản lý dự án, với kinh nghiệm từ các công trình cầu Mỹ Thuận, cầu Cần Thơ. Công tác tư vấn giám sát do Liên danh Công ty Cổ phần Tư vấn thiết kế giao thông vận tải phía Nam và Chi nhánh Công ty TNHH Tư vấn và Xây dựng Đại học Giao thông vận tải thực hiện.

Ở khâu thi công, Tổng công ty Xây dựng số 1 – CTCP (CC1) đảm nhiệm xây dựng cầu dẫn và đường đầu cầu ở hai bờ sông, từng ghi dấu ấn với công trình cầu Thủ Thiêm, cầu Đồng Nai… Công ty Cổ phần Tập đoàn Đạt Phương phụ trách thi công cầu chính, với kinh nghiệm từ các dự án cầu Mỹ Thuận 2, cầu Ba Son…. Trong khi đó, Tập đoàn Đại Dũng đảm nhiệm cung cấp, chế tạo và lắp đặt kết cấu vòm thép chính, từng tham gia các công trình tại hơn 60 quốc gia, trong đó có sân vận động Lusail (Qatar) và đường hầm xuyên biển Fehmarnbelt (châu Âu).“

_ TB: Sau khi post bài này, tôi nhận được thêm thông như sau: 

Thông tin từ một bạn làm trong Vietranstimex: 

“Trong bài viết Anh có nhắc đến ý kiến của chuyên gia về engineering, nói rằng việc vận chuyển và hợp long cây cầu này là một kỳ tích – em rất vui và có một chút tự hào – vì người tạo ra “kỳ tích” nho nhỏ đó chính là Vietranstimex – một Cty 100% Việt nam. Em từng là CEO của Vietranstimex và hiện nay vẫn đang là Thành viên HĐQT.

Tụi em chính là người đã nghiên cứu, tính toán và thực hiện công việc này.

Em không định khoe khoang, chỉ mong muốn được bổ sung một chút thông tin tới Anh thôi ạ.“

Thông tin từ Nutifood:

“1. Thiết kế ý tưởng: liên danh Chodai – Niwa : giải nhất thi tuyển kiến trúc do sở QHKT tổ chức.

2. Xây dựng cơ chế đầu tư tư nhân tặng/cho công trình công cộng: Nutifood và Tp. HCM do sở GTVT và Nutifood phối hợp. Rất phức tạp do đầu tư bằng vốn tư nhân trên đất công => rất khó xác lập ai là chủ đầu tư, đầu tư theo luật nào. Công đoạn này mất gần 2 năm.

3. Khảo sát địa chất, địa hình địa vật: Tedi South.

4. Thiết kế FS (tiền khả thi): liên danh Chodai (VN) và Niwa.

5. Tư vấn thẩm tra: Trường ĐH GTVT CSII: UTC2.

6. Quản lý dự án: PMU Mỹ Thuận.

7. Thiết kế chi tiết: Chodai VN (trong đó thí nghiệm hầm gió 2 giai đoạn: Đan Mạch và Mỹ).

8. Tư vấn giám sát: liên danh Tedi South + UTC2.

9. Thi công cầu dẫn: liên danh CC1 (móng, trụ, cầu betong) và Đại Dũng (bản cầu thép).

10. Thi công cầu chính: Liên danh Đạt Phương và Đại Dũng.

– Đạt Phương: móng mố trụ, cầu thang xoắn, thang máy, bể nước… và các công đoạn hoàn thiện mặt cầu.

– Đại Dũng: bản mặt cầu thép, lan can và vòm chính.

Phần vòm chính thì:

+ gia công chế tạo: Đại Dũng

+ vận chuyển vòm chính và hợp long Viettransimex phụ trách chính, và lắp hiện trường do Lilama phụ trách mối nối chính (2 thầu phụ của Đại Dũng).

Vòm chính dài 191m

11. Chiếu sáng mỹ thuật, nhạc nước: Navitek.

12. Công trình phụ trợ (Nhà chờ, nhà wc), công viên 2 đầu cầu: Winland (Đất Thắng).

Quản lý toàn bộ: Ban dự án Nutifood.

Vốn tổng: gần 1.200 tỷ (bao gồm công trình phụ trợ, công viên và chiếu sáng mỹ thuật) Nutifood đầu tư 100%, làm xong sẽ có hợp đồng tặng toàn bộ công trình cho Tp. HCM, không đòi hỏi bất kỳ quyền lợi nào.

Nguồn vốn: trích từ lợi nhuận và chi phí marketing hàng năm.

Vốn đầu tư cho cây cầu này không được miễn thuế.

Việc vay vốn từ HSBC là vay vốn kinh doanh thông thường và chính phủ Úc bảo trợ khoản vay là có nhưng vay cho công trình này là không đúng và để Úc bảo trợ thì NTF phải có những điều kiện nhất định đối ứng lại, chứ ko phải bảo trợ miễn phí.”