Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2026

VŨ HOÀNG CHƯƠNG


ta còn để lại gì không

Văn HọcPress
22 Agostino, Irvine, CA 92614 USA • vmail: +1-949-981-3978
email: vanhocpress@gmail.com • Facebook: Van Hoc Press

PR 08/25/2026
SÁCH MỚI

Trân trọng giới thiệu:
VŨ HOÀNG CHƯƠNG
TA CÒN ĐỂ LẠI GÌ KHÔNG

Cuộc đời & Những tác phẩm tiêu biểu của
Thi sĩ Vũ Hoàng Chương

Nhóm biên soạn:

TRẦN HUY BÍCH • TRẦN MẠNH TOÀN •
TRẦN NGỌC KHÔI • NGUYỄN NGỌC DUNG •
PHẠM THỊ LỆ-HƯƠNG

VĂN HỌC PRESS xuất bản, 2026

LỜI MỞ ĐẦU

Thi sĩ Vũ Hoàng Chương là một tác giả quan trọng, đã để lại cho chúng ta một số lượng tác phẩm rất lớn. Thơ ông chứa nhiều ý kín đáo, lại thêm cách diễn tả hàm súc, nên nhiều bài, nhiều câu thuộc loại “không dễ hiểu.” Là một người uyên bác và chịu ảnh hưởng của Hán học từ rất sớm, ông đã dùng khá nhiều điển tích và cũng hay trích dẫn thơ văn cổ khi sáng tác. Những điển tích, thơ văn cổ ấy, nếu không được phân giải ra, sẽ khiến nhiều người đọc, nhất là người ở thế hệ trẻ, khó nắm vững chủ ý của tác giả.

Cho tới nay, bên cạnh một số bài viết riêng lẻ mang tính cách ước đoán hoặc với nhận định có phần nào chủ quan của người viết, chưa có một cuốn biên khảo nghiêm túc nào về Vũ Hoàng Chương. Cùng mấy người bạn, cũng là cựu môn sinh của cố thi sĩ, và một số thân hữu yêu thơ, nhận ra giá trị đáng trân trọng trong di sản nhà thơ Vũ Hoàng Chương để lại, chúng tôi cảm thấy sự cần thiết của một cuốn sách viết một cách nghiêm túc, để góp phần vào việc trình bày, nhằm giúp một số thi phẩm nhà thơ để lại có thể được hiểu dễ hơn. Muốn được như thế, cần tuần tự tóm lược lại cuộc đời của tác giả, chú ý đến những biến cố và giao tiếp quan trọng, lồng trong khung cảnh của đất nước và với bối cảnh thế giới, những dữ kiện đã tạo ảnh hưởng lên cuộc đời và tác phẩm của ông. 

Xét đại cương, cuộc đời Vũ Hoàng Chương có thể chia làm hai giai đoạn: Từ nhỏ tới mùa hè năm 1954, tức 39 năm đầu khi ông ở miền Bắc; và từ tháng 8 năm 1954 tới tháng 9 năm 1976 khi ông qua đời, tức 22 năm sau ở miền Nam. Hai chương chủ yếu trong sách, Chương I và Chương V, được dành cho mục đích ấy. Trong cuộc đời thi sĩ Vũ Hoàng Chương có ba sự kiện đáng được chú ý một cách đặc biệt, là nguyên nhân đưa tới một số lượng tác phẩm đặc sắc và rất đáng kể của ông: mối “duyên thơ nợ kịch” với nữ kịch sĩ Tuyết Khanh, tình tri âm với nữ sĩ Ngân Giang, và việc giao tiếp với một số văn thi sĩ Âu Châu, khiến một số thơ ông được dịch ra ngoại ngữ, cùng ít bài đặc sắc ông làm cho một nữ thi sĩ trẻ tuổi của nước Bỉ, Ysabel Baes mà ông gọi tắt là Ysa. Các chương II, III, và IV được dành cho mục đích này.

Số lượng thi phẩm Vũ Hoàng Chương để lại rất phong phú. Ngoài hơn 20 thi tập đã xuất bản (một số bài được in lại), ông còn nhiều bài thơ đăng trên các báo và tạp chí, chưa được in vào thi tập nào. Phần phân tích nội dung chúng tôi trình bày ở đây mới chỉ là một phần rất nhỏ trong thi nghiệp của ông. Chúng tôi quan niệm tập sách này mới chỉ là bước khởi đầu, mong ước sẽ hữu ích phần nào cho những nghiên cứu đầy đủ và thấu đáo hơn về sau. Với tập sách này, tôn chỉ của chúng tôi là chính xác. Nhiều sự kiện được kiểm chứng bằng nhiều nguồn tài liệu khác nhau. Mỗi khi dẫn thơ Vũ Hoàng Chương, chúng tôi cố gắng nói rõ câu ấy được trích từ bài nào, và được in lần đầu trong thi tập hay trên báo, tạp chí nào.

Khi thực hiện tập sách này, chúng tôi đã được nhờ công trình của một số người đi trước, chẳng hạn bài viết rất công phu của chị Phạm Thị Nhung, giáo sư trường nữ Trung học Gia Long, về mối tình giữa nhà thơ họ Vũ với người yêu đầu đời.  Một số bài phổ biến từ trước của một số cựu môn sinh từng được học với nhà giáo Vũ Hoàng Chương như các anh Song Thao, Đào Trường Phúc cũng giúp tôi rất nhiều. Tôi thành thật đã không viết nổi cuốn sách nếu không nhờ sự sưu tầm tài liệu rất công phu cùng việc góp ý kiến của ba người bạn quý, các anh Trần Mạnh Toàn, Trần Ngọc Khôi, và chị Phạm Thị Lệ-Hương. Chị Lệ-Hương còn thực hiện một “Thư tịch Vũ Hoàng Chương” rất phong phú. Người giúp tôi tra cứu lại các điển cố, nhất là những điển cố liên quan đến bài “Đọc Bành Ngọc Lân,” đã đánh lại chữ Hán trong một số trường hợp cần thiết, đã “nhòe mắt” duyệt lại bản thảo là “người yêu thơ” Nguyễn Ngọc Dung. Giúp chúng tôi có những hình ảnh sáng, rõ, cho một số nhân vật được nhắc đến trong sách cũng như cho một số tác phẩm cũ cần được giới thiệu, là người bạn trẻ Nguyễn Vũ. Anh bạn cố cựu Thành Tôn đã chia sẻ, cho mượn một số tác phẩm không dễ kiếm. Tôi cũng xin cảm ơn những nhắc nhở, khích lệ, giúp ý của một số bạn quý trong văn giới, học giới như các anh Trúc Chi Tôn Thất Kỳ, Ngô Thế Vinh, Nguyễn Duy Chính, Huy Văn Trương, Uyên Thao, Trần Ngọc Vân…, sự nhắc nhở, khích lệ với niềm tin của một người bạn cố cựu ở nơi xa, anh Trần Dạ Từ. Cuốn sách không thể đến với người đọc nếu không nhờ tấm lòng tận tụy, kiên nhẫn, đầy thông cảm của người chủ trương nhà xuất bản Văn Học Press, anh Trịnh Y Thư. Ở lớp bạn trẻ hơn, Thơ Thơ tìm giúp tôi một số tài liệu hiếm, Hòa Bình đóng vai chèo lái trong việc giúp cuốn sách thành hình. Cũng xin ghi nhận những khích lệ tinh thần của anh Phạm Văn Quảng, cũng là môn sinh của “Thầy Vũ Hoàng Chương,” chị Vũ Ngọc Diệp, thuộc một gia đình vô cùng đặc biệt, đầy tình nghĩa với bà Vũ Hoàng Chương và thi sĩ Đinh Hùng.

Với các thân hữu vừa kể cũng như với những thân hữu từng cho lời nhắc nhở, khích lệ trong nhiều năm vừa qua, tôi xin ghi ở đây lời cảm ơn chân thành. Tôi cũng xin cảm ơn những độc giả lưu tâm tới cuốn sách, và mong ước sẽ được nhận những phê bình, chỉ dẫn nếu thấy trong sách có chỗ chưa chính xác. Trong việc đi tìm sự thật, chúng ta là những người đồng hành, vì theo lời thi sĩ Vũ Hoàng Chương, “chúng ta mất hết, chỉ còn nhau.”

Trân trọng, 
– Trần Huy Bích
(Viết ở ngoài nước, tháng 8 năm 2026, 50 năm sau khi thi sĩ Vũ Hoàng Chương qua đời.)

@@@

Sách có bán trên BARNES & NOBLE

296 trang, bìa mềm, 6”x 9”, giá bán: US$30.00

Xin bấm vào đường dẫn sau:

Vu Hoang Chuong Ta Con De Lai Gi Khong | Barnes & Noble®

296 trang, bìa cứng, 6”x 9”, giá bán: US$35.00

Xin bấm vào đường dẫn sau:

Vu Hoang Chuong Ta Con De Lai Gi Khong | Barnes & Noble®

vanhocpress@gmail.com

Chủ Nhật, 23 tháng 8, 2026

Quản trị môi trường phân mảnh ở Đông Nam Á

Vì sao không ai có trách nhiệm


với tác động môi trường tích lũy trên toàn khu vực?



Phạm Phan Long



Sông Mekong Luang Prabang, Laos. Nguồn: Wikimedia photo


Lời dẫn nhập: Khủng hoảng môi trường ở Đông Nam Á không đơn thuần là khủng hoảng do ô nhiễm, phá rừng, khai khoáng hay xây dựng đập thủy điện. Đó còn là một cuộc khủng hoảng về trách nhiệm giải trình: Những tổ chức đưa ra các quyết định phát triển thường hoạt động riêng rẽ ở từng quốc gia, trong khi không có tổ chức nào có chức năng và trách nhiệm quản lý những tác động tích lũy, xuyên biên giới trên toàn khu vực do chính các quyết định đó gây ra.

Đông Nam Á không thiếu các cơ chế bảo vệ môi trường. Điều còn thiếu là một cơ chế đủ thẩm quyền để kết nối các quyết định phát triển với những tác động môi trường tích lũy mà chúng tạo ra. Trong số các thể chế phát triển quốc tế, ASEAN là tổ chức khu vực duy nhất bao trùm hầu hết Đông Nam Á và có đủ phạm vi chính trị để đưa những vấn đề này lên cấp khu vực.

Khi ASEAN đã long trọng tuyên bố rằng quyền được sống trong một môi trường lành mạnh là một quyền của con người, thì bảo vệ môi trường cho toàn khu vực không còn chỉ là vấn đề thuộc chính sách phát triển của từng quốc gia; đó đã trở thành trách nhiệm chung không thể né tránh của toàn khu vực. ASEAN đang đứng trước một sứ mạng, đồng thời cũng là một cơ hội chưa từng có. Sau đây là bài tóm lược khảo sát hoạt động của các tổ chức phát triển và đề xuất thành lập ASEAN Transboundary Environmental Protection Mechanism (ATEPM) để đảm nhận trách nhiệm này. Bài viết đã được Asia Sentinel đăng tải bằng tiếng Anh.


***

Bài viết lập luận rằng, Đông Nam Á đang đứng trước một nghịch lý lớn: Trong nhiều thập niên, khu vực đã xây dựng một mạng lưới thể chế ngày càng mạnh để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cơ sở hạ tầng, thương mại và hội nhập, nhưng chưa xây dựng được một hệ thống tương xứng để quản trị những hệ quả môi trường do chính quá trình phát triển đó tạo ra.

Từ năm 1966 đến nay, ADB, ASEAN, hợp tác Mekong, GMS, MRC và LMC cùng với APEC, các cơ quan Liên Hợp Quốc, chính phủ và khu vực tư nhân đã giúp Đông Nam Á kết nối ngày càng sâu rộng. Đường sá, đường sắt, hành lang kinh tế, hệ thống năng lượng, khai khoáng, nông nghiệp và thương mại xuyên biên giới đã tạo ra tăng trưởng và cải thiện đời sống cho hàng triệu người.

Thứ Tư, 19 tháng 8, 2026

Kênh Funan Techo _ Hai Năm Sau Lễ Động Thổ

Cần một tầm nhìn mới: 

từ "một công trình" 

sang "một hệ thống" thủy văn 

ảnh hưởng trên toàn lưu vực 



Người đàn bà Việt không nhà ở Stockton

 Trùng Dương

Trái, trang báo Việt Mercury đăng bài về Bà Nguyễn Tố Cần, xuất bản ngày 19 thàng 2, 1999 tại San Jose, với hình của bà do phóng viên nhiếp ảnh của tờ The Record chụp trong một buổi phát biểu của bà tại phiên họp của Hội đồng thành phố Stockton. Phải, bà Tố Cần ngày nào cũng tới thư viện thành phố để thảo những lá thư viết tay tố cáo điều mà bà cho là tham nhũng trong chính quyền. (Ảnh chụp lại trong Việt Mercury, đã đình bản).

Người nữ luật sư biện hộ miễn phí tay cầm một tập giấy mầu vàng đẩy cửa bước vào phòng đợi sau khi đã để tôi đợi khoảng mười phút trong căn phòng đợi trơ trụi, với độc một bộ bàn bốn ghế và một dẫy ghế sofa bọc nhựa mầu nâu nhạt kê sát tường, không còn gì nữa cho tôi quan sát. Chúng tôi bắt tay nhau, trao đổi những thăm hỏi xã giao thường tình. Người nữ luật sư khoảng ngoài 40 tuổi, y phục tể chỉnh song chân đi giầy thể thao, chắc là để di chuyển tới tòa cách văn phòng ba dẫy phố cho lẹ, ngỏ lời cám ơn tôi đã bỏ thì giờ tới gặp chị về vụ người đàn bà Việt không nhà ở Stockton.

“Chị là người duy nhất mà Hugh Wright [người phóng viên toà án của tờ báo địa phương mà tôi hiện cộng tác] nói là có liên hệ với bà Nguyễn Tố Cần…” Ellen Schwarzenberg mở đầu, đôi mắt mầu nâu với tia nhìn ấm áp và thân thiện. Tự dưng tôi có cảm tình với Ellen mặc dù tôi biết chị muốn gặp tôi do nhu cầu nghề nghiệp: Chị được giao cho việc chứng minh là thân chủ của chị đủ minh mẫn để hầu tòa thay vì được gửi vào viện tâm thần như hai tâm lý gia của nhà tù quận đã chẩn bệnh và cùng kết luận bà Tố Cần bị chứng “fixed delusional belief system”, tức chứng niềm tin hoang tưởng cố định.

Tôi cải chính là thực sự tôi không có liên hệ gì với bà Tố Cần, kể cả là bạn, mặc dù thỉnh thoảng tôi có đi tìm bả với ý định biếu ít tiền hoặc quà, hoặc như gần đây, khi bà bị bắt giam ở nhà tù quận về tội làm rối trật tự công cộng và gửi thư cho một phóng viên của toà báo xin gửi báo cho bà khi nào bà có tiền thì sẽ trả lại (điều này chắc chẳng bao giờ xảy ra), thì tôi có sang phòng phát hành đặt mua cho bả một tháng báo gửi bằng bưu điện tới nhà tù quận, thế thôi. Ellen nói là bà Tố Cần nói có nhận được báo và thay mặt cho bà, Ellen nói cám ơn nhã ý của tôi trong khi nhìn tôi thăm dò, có lẽ tự hỏi tại sao đã chẳng bà con hay bạn bè mà tôi bỏ công của và thì giờ để làm những việc như tôi đã làm. Có phải vì bà Tố Cần là người đồng hương? Một phần. Nhưng lý do chính là vì bả là một nhân vật độc đáo của thành phố Stockton, và mặc dù vô gia cư song, với giang sơn vỏn vẹn ít quần áo vật dụng chất trong một cái shopping cart, bà vẫn duy trì được tư cách và nhân phẩm của mình, một điều khiến tôi quý trọng bà.

Trong khi Ellen chăm chú nghe, tôi kể lại lần gặp gỡ duy nhất giữa bà Tố Cần và tôi khoảng một năm về trước, và lý do đã khiến tôi quan tâm đến trường hợp của bà.

Lần đầu tiên, khi tôi mới dọn đến thành phố này nhận việc cách đây vài năm, tôi được biết có một người đàn bà Việt không nhà, 64 tuổi và bị bệnh tâm thần ở Stockton, là qua một mẩu tin ngắn khi bà bị xe đụng bị thương nhẹ phải đưa vào nhà thương điều trị song được thả ra liền sau đó. Chi tiết của bài báo khiến tôi quan tâm là việc bà Tố Cần nguyên là một giáo chức ở Việt Nam, đã từng một dạo tích cực về các vấn đề tị nạn và đã từng cộng tác với một số học khu địa phương trong các chương trình dành cho học sinh tị nạn gốc Đông Nam Á. Tuy vậy vì bận rộn thích nghi với môi trường sinh hoạt mới nên tôi cũng không tìm hiểu thêm.

“Cho tới khi xảy ra vụ George Barber… ” tôi tiếp.

“Vụ George Barber?” Ellen ngắt lời tôi.

Tôi nhìn Ellen, thoáng ngạc nhiên.

“Chắc chị quên hoặc không để ý. Vụ đó xẩy ra cách nay trên một năm, đâu như hồi giữa năm 96, khá gây sôi nổi trong vài cộng đồng thiểu số ở đây,” tôi nói. “Chị cũng biết là bà Tố Cần không bỏ sót một buổi họp hội đồng thành phố hay ban giám sát viên quận nào mà không tham dự mặc dù bả đi bộ và luôn đẩy theo cái xe shopping của siêu thị chuyên chở cả sản nghiệp của bả đến chỗ họp. Tham dự thôi chưa đủ, mà bả luôn mượn dịp phát biểu những cảm nghĩ của bả về chính quyền địa phương. Theo bả, và điều này bả lập đi lập lại ở mỗi lần lên phát biểu, là viên chức chính quyền nào cũng thối nát hết. Bả có thể coi chị như bạn, nhưng nếu chị lỡ tranh cử và nắm được một cái ghế nào trong chính quyền là chị sẽ đương nhiên trở thành mục tiêu chống đối của bả liền tức thì. Ở đây ai đã từng tham dự những buổi họp có sự hiện diện của bà Tố Cần cũng đều biết điều đó và thường chỉ thở dài mỗi khi đến phiên bả phát biểu vào giờ dành cho công chúng, đành chỉ biết kiên nhẫn chờ bả phát biểu xong, thế thôi. Mà bà Tố Cần chịu khó theo dõi báo chí lắm. Bả đến thư viện công cộng mỗi ngày để đọc báo và đi họp để lên tiếng về các vấn đề công quyền địa phương như một người bình thường, người không biết khó mà tin là bả bị bệnh tâm thần. Còn các vấn đề quốc gia hay quốc tế thì bả viết thư rồi gửi đi tùm lum, có dạo bả lấy địa chỉ của một cái sở bưu điện ở đây làm địa chỉ của bả và về đó ngủ nữa, khiến sở bưu điện phải quyết định khóa trái cửa sớm hơn thường lệ thay vì mở cửa tới tận khuya để khách hàng tới lấy thư trong hộp thư của họ.

“Hôm ấy chắc là ông Giám sát viên George Barber có chuyện bực mình chi đó, và trong một lúc mất tự chủ sau khi nghe bà Tố Cần điểm mặt mỗi giám sát viên trên bàn chủ toạ là tham nhũng thối nát, điều mà bả lập đi lập lại đã cả chục năm nay, ông Barber không kềm lòng nổi đã ghé vào máy phóng thanh phán cho cả khán giả truyền hình ở các tư gia cùng nghe, nguyên văn như sau, ‘Nếu bà không hài lòng với cái hệ thống (ở Mỹ) thì bà nên về cái nơi mà từ đó bà đến đây.’ Một vài giám sát viên khác đã vội vàng lên tiếng xin lỗi công khai bà Tố Cần ngay sau đó.  Riêng ông Barber thì nhất định từ chối không chịu xin lỗi.”

Bài tường thuật của báo chí về vụ đụng độ không cần thiết ấy đã gây sôi nổi trong cộng đồng địa phương, đặc biệt là các cộng đồng thiểu số. Trong khi các nhân vật lãnh đạo của các cộng đồng thiểu số gặp gỡ để bàn cách đối phó, nhiều người có kinh nghiệm về bà Tố Cần với tính tố cáo vô bằng cớ – thậm chí có người trong cộng đồng Việt còn gán cho bà nhãn “Tố Càn” – đã gọi giây nói đến văn phòng Giám sát viên Barber hỗ trợ việc làm của ông này. Tờ The Record cũng nhận được nhiều thư cả chống lẫn bênh. Có người còn đòi cắt trợ cấp xã hội của bà khiến tờ báo phải đăng kèm một giòng ghi chú của chủ bút, rằng bà Tố Cần không hề nhận một đồng trợ cấp nào. 

Thứ Ba, 11 tháng 8, 2026

The Planet Under Threat

 

AsiaSentinel
August 12, 2026

Thứ Bảy, 8 tháng 8, 2026

Những điều Trái Đất muốn nói với Con Người

 Sao lại thế?

Pham Phan Long

 




 

Hình 1: Con sông Irrawaddy ở Myanmar với áp lực ngày càng tăng từ hoạt động khai thác khoáng sản, phát triển cơ sở hạ tầng và biến đổi khí hậu. NguồnBjørn Christian Tørrissen / Wikimedia Commons. 

 

Địa cầu là hành tinh độc nhất trong vũ trụ có đủ điều kiện cho loài người tồn tại.

Giữa khoảng không mênh mông của vũ trụ, Trái Đất hiện lên như một phép màu xanh thẳm. Hành tinh ấy có nước trong lành, bầu khí quyển dịu dàng, đất đai màu mỡ, rừng núi, sông hồ, biển cả và muôn loài cùng chung sống. Con người sinh ra, lớn lên trong vòng tay bao dung của thiên nhiên, uống từng giọt nước, hít từng hơi thở, bước đi trên mặt đất và được nuôi dưỡng bằng phù sa, nắng gió. Vậy mà, đáng buồn thay, chính loài người — đứa con được cưu mang nhiều nhất — lại đang từng ngày làm tổn thương người mẹ đã nuôi mình.

Trái Đất xanh giữa muôn vàn sao lạ,

Ôm nhân gian bằng nước mắt yêu thương.

Cho sự sống nảy mầm trên đất mẹ,

Cho con người xây mộng đẹp thiên đường.

 

Nước, sông hồ, rừng núi là những nguồn sống quý giá mà Trái Đất trao tặng. Nước nuôi dưỡng cây cỏ, mùa màng và con người; sông hồ mang phù sa, giữ ký ức quê hương; rừng là lá phổi xanh, còn núi gìn giữ mây, gió và mạch nước đầu nguồn. Thế nhưng, vì rác thải, hóa chất, sự lấn chiếm, phá rừng và khai thác khoáng sản quá mức, những món quà ấy đang dần bị tổn thương. Khi dòng sông đục ngầu, cánh rừng biến mất, đất đai bạc màu và núi đồi bị khoét sâu, chính sự sống của con người cũng trở nên mong manh hơn.

 

Sông chở nặng phù sa và ký ức,

Hồ soi mây như giữ bóng quê nhà.

Nếu lấn chiếm làm dòng sông nghẹn lại,

Cánh đồng khô sẽ đói nước, phù sa. 

 

Không khí là ân huệ âm thầm của sự sống. Ta không nhìn thấy nó, nhưng từng giây từng phút đều sống nhờ nó. Một đứa trẻ chào đời bằng hơi thở đầu tiên; một người già khép lại cuộc đời trong hơi thở cuối cùng. Lẽ ra bầu trời phải trong trẻo như buổi sớm mai, nhưng khói nhà máy, khói xe, bụi mịn và sự đốt phá vô độ đã khiến nhiều nơi trở nên xám đục. Con người xây thành phố cao hơn, rộng hơn, sáng hơn, nhưng lại đánh mất màu xanh nguyên sơ của bầu trời. 


Two Years after the Groundbreaking of the Funan Techo Canal Project


A New Perspective: From a Single Engineering Project to a Basin-Wide Hydrological System


NGÔ THẾ VINH


IntroductionTwo years after the groundbreaking ceremony on 5 August 2024, construction of the Funan Techo Canal continues in phased sections, while the approximately 180-kilometer canal remains far from completion. This article argues that the project should not be viewed merely as an inland navigation canal. Rather, it represents a multi-purpose water management system whose long-term operation may alter flood dynamics, sediment transport, and saline intrusion throughout the Lower Mekong Basin, particularly in Vietnam's Mekong Delta. The author further contends that the project raises serious questions regarding compliance with Article 5 of the 1995 Mekong Agreement. Cambodia classified the Funan Techo Canal as a project located on a tributary, thereby submitting it only under the Notification procedure instead of the mandatory Prior Consultation process required by the Procedures for Notification, Prior Consultation and Agreement (PNPCA). In reality, however, the canal is designed to draw water directly from both the Mekong River and the Bassac River, the two principal distributaries of the Lower Mekong, before discharging into the Gulf of Thailand. From this perspective, the project constitutes an inter-basin water diversion with potential transboundary implications extending beyond Cambodia's national territory. Avoiding the obligations of Article 5 weakens not only the institutional authority of the Mekong River Commission (MRC) but also risks establishing a precedent whereby future basin-wide projects could circumvent the cooperative framework established under the 1995 Mekong Agreement. Prime Minister Hun Manet has described the canal as both a birthday gift to his father, former Prime Minister Hun Sen, and as a new national legacy of the Khmer Kingdom. Cambodian officials have even compared the project to China's historic Grand Canal. Yet the larger questions remain unresolved. What economic and environmental costs will ultimately be borne by the Cambodian people? How might the project reshape Cambodia's relationship with Vietnam? And what consequences could emerge for the ecological future of the Lower Mekong Basin? This article therefore calls for a fundamental shift in perspective: away from viewing the Funan Techo Canal as an isolated engineering work, toward recognizing it as one component of an interconnected hydrological system. Such a perspective requires Cambodia to comply fully with Article 5 of the Mekong Agreement, disclose complete project data, and conduct comprehensive transboundary environmental impact assessments before the canal enters full operation. 



Figure 1Groundbreaking Ceremony for Section II of the Funan Techo Canal Project, held on 11 April 2026 in Borei Chulsar District, Takeo Province. The ceremony was presided over by Prime Minister Hun Manet, accompanied by Chinese Ambassador Wang Wenbin. Seated in the front row on the red carpet, from left to right, are the Chinese Ambassador to Cambodia, Prime Minister Hun Manet, and Deputy Prime Minister Sun Chanthol, Vice Chairman of the Council for the Development of Cambodia (CDC), who oversees national infrastructure and investment. Source: Agence Kampuchea Presse (AKP)

 

Developments Since the Groundbreaking Ceremony: Progress and Persistent Questions

One of the questions most frequently raised by readers is straightforward:

What is the current status of Cambodia's Funan Techo Canal Project?

This question is particularly timely because two years have now passed since the official groundbreaking ceremony of 5 August 2024, an event staged on an unprecedented national scale. The canal was presented as a flagship megaproject, a symbol of Cambodian national pride, and a legacy closely associated with the Hun family's political leadership. At that time, the Cambodian government confidently announced that the canal would be completed and become operational by 2028


Figure 2The groundbreaking ceremony of the Funan Techo Canal at the small village of Prek Takeo, Kien Svay District, Kandal Province, on 5 August 2024, coinciding with Hun Sen's birthday. The ceremony was chaired by his son, Prime Minister Hun Manet. Behind the ceremonial stage stood a giant Khmer-language banner proclaiming: "We Support the Funan Techo Canal." This location marks the beginning of Section I, a canal segment extending more than 20 kilometers, drawing water directly from the Lower Mekong River, upstream of Vietnam's Mekong Delta. Source: Khmer Times, 5 August 2024.



Figure 3Map of the Funan Techo Canal Project. The canal (red line) diverts water from both distributaries of the Lower Mekong: the Lower Mekong River (light blue), which later becomes Vietnam's Tiền River, and the Bassac River (dark blue), which becomes the Hậu River downstream in the Mekong Delta. Source: Radio Free Asia (RFA)

 

As of August 2026, two years after the commencement of Section I, it has become evident that the Funan Techo Canal remains in the stage of phased construction, rather than full-scale excavation along its planned 180-kilometeralignment. The available evidence suggests that the project has yet to enter comprehensive construction across the entire route originally envisioned. Based on its current pace, it is increasingly likely that this ambitious undertaking will require substantially more time than initially projected before reaching completion.