Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2026

Lancang-Mekong Cooperation

From Unequal Relationship to Genuine Partnership

What the Lancang-Mekong Cooperation needs in its second decade


By Pham Phan Long






September 7, 2026

 

On paper, the Lancang-Mekong Cooperation (LMC) is a success. Since its launch at the first leaders’ meeting in Sanya in 2016, trade between China and Cambodia, Laos, Myanmar, Thailand and Vietnam have risen sharply. It reached a record US$500.9 billion in 2025—more than 150 percent above the level a decade earlier. Railways, roads, investment and people-to-people exchanges have expanded as well (Ministry of Foreign Affairs of the People’s Republic of China 2026).

That progress is real. But success measured mainly by trade, investment and infrastructure misses a more important question: what kind of relationship is being built?

China and its five Mekong partners do not participate from comparable positions. China is by far the largest economy, a major supplier of manufactured goods and industrial inputs, an important source of capital and infrastructure, and the upstream country on the Lancang. Its downstream partners provide markets, agricultural products, energy, minerals and other resources. All six countries benefit, but their economic scale, productive capacity and bargaining power differ greatly.

Thứ Tư, 9 tháng 9, 2026

Trang Tưởng Niệm III BS Hà Ngọc Thuần 1940 - 2026

MỘT NGƯỜI BẠN TÌNH THƯƠNG ĐÃ ĐI XA

Chân dung một thầy thuốc, một trí thức và một người bạn







Hà Ngọc Thuần thuở thư sinh [trái: hình do BS Đặng Vũ Vương gửi] • BS Hà Ngọc Thuần, Chủ tịch Hội Y sĩ Việt Nam tại Úc Châu 1981–83 [phải: tư liệu BS Đặng Vũ Thuý Đoan, do BS Trần Xuân Ninh gửi]




NGÔ THẾ VINH



Một tin buồn từ Brisbane


Tin Bác sĩ Hà Ngọc Thuần từ trần tại Brisbane vào rạng sáng thứ Tư 2 tháng 9 năm 2026 khép lại một đời người hơn tám thập niên, nhưng đồng thời mở ra trong ký ức bạn bè cả một vùng trời cũ. Với những người từng đi qua Đại học Y khoa Sài Gòn, nguyệt san sinh viên Y khoa Tình Thương, Trường Quân Y  của thập niên 1960, Hà Ngọc Thuần không chỉ là một bác sĩ đồng môn. Anh thuộc về một thế hệ sinh viên y khoa đã sống giữa chiến tranh mà vẫn giữ được niềm tin vào tri thức, văn hóa, tình bằng hữu và trách nhiệm của người trí thức trước xã hội.


Những ngày sau khi tin Anh mất được truyền đi, thư từ của các bạn Y khoa và Quân Y từ nhiều nơi liên tiếp gửi về. Mỗi người nhớ một Hà Ngọc Thuần khác nhau: người nhớ cây bút hàn lâm của Tình Thương, người nhớ vị đàn anh hiền hậu ở Trường Quân Y, người nhớ một bác sĩ tận tụy tại Brisbane, người nhớ nhà học giả luôn đọc sách và truyền đạt kiến thức. 


Ghép những mảnh ký ức ấy lại, chân dung Anh hiện lên không phải bằng những chức danh, mà bằng những chi tiết rất đời thường: một cuốn Camus dưới nách, một đêm đứng bên bờ tường nói chuyện triết học, một căn phòng đầy sách từ sàn lên trần, một bữa cơm trưa đãi người đàn em từ phương xa tới thăm.

Có lẽ đó cũng là cách thích hợp nhất để nhớ Hà Ngọc Thuần: không dựng một tượng đài, mà tìm lại con người thật của Anh qua những gì bạn bè còn giữ được trong trí nhớ.


Từ Chu Văn An đến Y khoa Sài Gòn


Hà Ngọc Thuần sinh năm 1940. Thuở trung học, Anh học tại trường Chu Văn An, Sài Gòn. Từ rất sớm, thế giới của Anh đã không chỉ giới hạn trong sách giáo khoa. Đặng Vũ Vương kể rằng khi còn học Đệ Nhất Chu Văn An, Thuần đã đọc Les Fleurs du Mal của Baudelaire ngay trong lớp. Sau này, biết Vương từng học Latin và Hy Lạp cổ, Thuần còn tìm bạn để bàn về Énéide của Virgile và nhân vật Énée. Những chuyện tưởng nhỏ ấy cho thấy một khuynh hướng đã theo Anh suốt đời: sự ham hiểu biết không chịu dừng ở biên giới của một chuyên ngành.


Sau trung học, Hà Ngọc Thuần vào Đại học Y khoa Sài Gòn. Đầu thập niên 1960, đó không chỉ là một trường đào tạo thầy thuốc. Trong bối cảnh xã hội biến động, một nhóm sinh viên Y khoa đã muốn bước ra khỏi giảng đường, nhìn rộng hơn vào đại học, xã hội, văn hóa và thân phận con người. Từ môi trường ấy, Nguyệt san Tình Thương ra đời.


Tên Hà Ngọc Thuần có trong Ban Biên tập ngay từ số đầu tháng 1 năm 1964. Trong tòa soạn, mỗi người mang một khí chất. Trang Châu nhớ Phạm Đình Vy và Đường Thiện Đồng hăng say với những sôi động chính trị; Ngô Thế Vinh và Bùi Thế Hoành đặt nặng các vấn đề xã hội và đại học; còn Hà Ngọc Thuần, Nghiêm Sỹ Tuấn và Đặng Vũ Vương là ba ngòi bút trí tuệ, hàn lâm nhất. Nhưng nếu Nghiêm Sỹ Tuấn nghiêm nghị ít nói, Đặng Vũ Vương hùng biện, thì Hà Ngọc Thuần hiền hòa, đôn hậu, nên được anh em quý mến.


Hà Ngọc Thuần và Nghiêm Sỹ Tuấn còn dùng chung bút hiệu Hà Hợp Nghiêm để dịch và biên soạn Lịch Sử Y Học, dựa trên The Story of Medicine của Kenneth Walker, đăng từng kỳ trên Tình Thương. Anh cũng góp phần vào bài “Ý Thức Tinh Thần Đại Học” ngay từ số đầu. Những bài viết ấy cho thấy với Thuần, Y khoa chưa bao giờ chỉ là bệnh học và điều trị. Người thầy thuốc cần biết lịch sử của nghề mình, biết con người nằm phía sau căn bệnh, và biết mình đang đứng ở đâu trong xã hội.

The Dalai Lama’s Environmental Vision


From the “Roof of the World”

to the Nepal–Tibet Disaster of 2026

 

NGO THE VINH

 


Figure 1: The Dalai Lama and the Earth’s Third Pole
[Source: Active Remedy]


 

SPRINGTIME IN TIBET AND THE STORY OF THE RIVERS


Nine years ago, an essay by Ngo The Vinh described the Tibetan Plateau as the “Third Pole of the Earth,” a vast reservoir of snow and ice and the source region of major rivers that sustain billions of people across Asia, including the Mekong. The Dalai Lama had warned early on that Tibet’s environmental problems were even more urgent than its political ones: rapidly melting ice and snow, deforestation, mineral extraction, water pollution, and dams that were reshaping the rivers. From the Tibetan headwaters to the downstream deltas, all are part of one interconnected ecosystem. The message of that 2017 essay remains fully relevant today: “If Tibet dries up, Asia dies.” 

https://vietecologypress.blogspot.com/2017/01/mua-xuan-tay-tang-va-cau-chuyen-nhung.html

 

*


Nearly four decades ago, when climate change had not yet become the global preoccupation it is today, the Dalai Lama spoke of Tibet not only as the homeland of a people deprived of self-determination and subjected to Sinicization, but also as an ecosystem of immense importance to all of Asia. In his view, peace, human rights, and the protection of nature were not three separate issues. They were interrelated and ultimately converged on one fundamental question: can humanity survive in the long term if the very environment that sustains it is being destroyed?

Looking back at those warnings after the devastating disaster that struck the Nepal–Tibet border region on August 26, 2026, it is difficult to see them merely as a Buddhist philosophy about the relationship between human beings and nature. They also bear the character of an environmental vision.

 

From a Political Program to an Ecological Vision


On September 21, 1987, in Washington, D.C., the Dalai Lama presented his Five-Point Peace Plan for Tibet. Significantly, one of its five proposals was devoted specifically to restoring and protecting Tibet’s natural environment.

Two years later, in his Nobel Peace Prize acceptance speech on December 11, 1989, he articulated that idea more clearly and on a broader scale. He proposed that the entire Tibetan Plateau could become a vast nature reserve or biosphere, where resource exploitation would be tightly controlled, ecosystems protected, and development pursued sustainably.

He envisioned Tibet as a place where human beings and nature could coexist in peace and balance.

Placed in the context of the late 1980s, this was a remarkable idea. Climate change had not yet assumed its present central place in international policy, and terms such as glacier retreat, permafrost thaw, glacial lake outburst flood, and the “Third Pole” had not yet become everyday language in the world press.

Yet the Dalai Lama had already grasped a principle more fundamental than those scientific terms: nature does not obey political borders.

In his 1989 Nobel lecture, he argued in essence that what happens in one part of the world can affect us all. War and peace, the destruction or protection of nature, poverty and prosperity are not isolated phenomena; they are interconnected at many levels.

Nearly forty years later, the Himalayas are demonstrating that principle in a harsher language: ice, rock, water, and flood.

Thứ Ba, 8 tháng 9, 2026

Trang II tưởng niệm BS Hà Ngọc Thuần 1940-2026

Nhớ Về BS Hà Ngọc Thuần

Khóa 13, Quân Y Sĩ hiện dịch VNCH


BS Đỗ Hữu Tước 


Đã lâu tôi không có dịp nói chuyện với anh bạn BS nhà văn Ngô Thế Vinh.  Bất ngờ có điện thoại anh gọi cho hay là anh bị mất các số điện thoại bạn bè.  Anh cũng báo cho tôi hay một tin buồn về sự qua đời của một anh bạn cũ trong ban biên tập tờ Nguyệt san "Tình Thương" của SVYK Sài Gòn vào thập niên 1960. Đó là BS Hà Ngọc Thuần ở Brisbane( Australia). Ở tuổi già lúc nhớ lúc quên tôi ngại ngần nhận lời sau khi anh Vinh cho hay cũng đã nhờ các anh em Tình Thương khác nữa!

Cũng lâu lắm tôi không liên lạc hay nói chuyện với anh Thuần vì cách biệt giờ giấc và lỉnh kỉnh dùng Viber, Zalo.  Tôi nhớ lần chót gặp gỡ anh chị Thuần ở Brisbane đã hơn chục năm rồi.  Tôi còn nhớ vào một dịp cuối tuần, tôi từ Melbourne lên Brisbane thăm anh chị Thuần. Gặp anh tại phòng mạch, anh em tay bắt mặt mừng, hàn huyên đủ thứ chuyện.  

Phòng mạch anh gọn gàng ấm cúng.  Sau đó tôi theo một anh bạn lái xe lên phía bắc đi thăm bãi biển và thành phố Gold Coast.  Anh chị Thuần hẹn chiều về gặp nhau ở một tiệm ăn. Khi chúng tôi trở lại Brisbane thì không ngờ bị kẹt xe trên xa lộ. Tôi rất nóng ruột vì cái hẹn với anh chị.  Nhưng khi về  đến tiệm thì đã muộn cả giờ. Tôi không nghĩ là anh chị còn ở đó, nhưng thật ngạc nhiên, anh chị và vài người bạn vẫn còn đó. Tôi tạ lỗi cùng mọi người và anh chị chỉ cười xoà, rộng lượng thông cảm.  

Chị Thuần nói chị cũng bận trả lời những người hâm mộ chị, gọi phone liên tục nên cũng quên cả giờ giấc. Khi đó, chị nổi tiếng là "một nhà ngoại cảm" không thua gì mấy nhà ngoại cảm trong nước hồi đó và chị có rất nhiều người tin tưởng và ngưỡng mộ khắp nơi.  Chị Thuần còn hát rất hay. Tôi không nhớ rõ là trong một kỳ Đại hội Y sĩ Toàn cầu nào, chị đã trình bầy một ca khúc với anh đệm đàn được khán giả ngưỡng mộ! Anh Thuần đàn Tây ban cầm rất giỏi.  Nhìn anh chị đàn hát như gợi nhớ cặp đôi "anh đàn em hát" trong bài thơ "Tình Cầm" của thi sĩ Hoàng Cầm.

Viết về anh Thuần, xin ngược thời gian để nói về lớp đệ Nhất B3, trường Chu Văn An năm 1958.  Hiệu đoàn là giáo sư Đàm Xuân Thiều, Sử địa thầy Vũ Khắc Khoan, Việt văn thầy Trần Trọng San, Toán thầy Bạch Văn Ngà, Lý hóa thầy Trương Hoàng Ngữ.  

Đối diện với bàn các thầy và bảng đen là ba dẫy bàn học sinh.  Anh Thuần ngồi bàn gần cuối dẫy bên phài cùng với các anh BS Nghiêm Sỹ Tuấn, Nguyễn Thanh Giản.  Tôi ngồi ở bàn đầu cùng dẫy.  Dẫy giữa cùng bàn gần chót có anh bác sĩ Nguyễn Hoàng Hải, hiện ở San Jose, California.

Tuy là ban B (toán) nhưng anh em theo nghề Y đến 7 người.  Ra trường năm 1965 có các anh BS Nguyễn Hoàng Hải, BS Nghiêm Sỹ Tuấn và BS Nguyễn Thanh Giản. Ra trường năm 1966 có các anh BS Hà Ngọc Thuần, BS Quách Đức Hộ, BS Nguyễn Văn San và tôi BS Đỗ Hữu Tước.  Bên lớp B2 có anh BS Trần Xuân Dũng (BS Thủy Quân Lục chiến) năm 1965, BS Đàm Xuân Khôi năm 1966.

Trong lớp, anh Nghiêm Sỹ Tuấn và anh Hà Ngọc Thuần có chữ viết rất đẹp.  Các anh vẽ cũng đẹp. Các anh học chữ Hán và rất giỏi Hán ngữ, đọc sách Lâm Ngữ Đường... Hai anh rất am thông cổ ngữ và văn học.  Anh Tuấn còn làm thơ "nhị thập bát tú".  Ra trường anh là Y sĩ Nhẩy dù tiền tuyến và đã hy sinh ở chiến trường Khe Sanh khi còn rất trẻ.

Anh Thuần là quân y sĩ hiện dịch.  Khi tôi còn ở Tổng y Viện Cộng Hòa thì anh Thuần ở viện bài lao Ngô Quyền - Thủ Đức, cùng với anh BS Nguyễn Văn Bảo, bút hiệu "con Cò" chủ bút Diễn đàn "liêu trai chí dị" thế kỷ 21.

Cả hai anh Thuần và anh Bảo rất tích cực trong hoạt động của Diễn đàn Quân y Hiện dịch.  Anh Thuần có kiến thức rất uyên bác về văn học, thơ phú. Những bài sưu tầm viết về lịch sử trường Y, về các bác sĩ đàn anh, chứng tỏ anh là người chịu tìm tòi, tra cứu rất hữu ích cho những ai muốn học hỏi thêm.

Trong nhóm chủ biên của tờ Nguyệt san Tình Thương, ban đầu ngoài chủ nhiệm BS Phạm Đình Vy, chủ bút BS Nguyễn Vĩnh Đức, anh cùng các anh BS Trần Xuân Ninh, Trần Xuân Dũng,  Nghiêm Sỹ Tuấn, Đặng Vũ Vương, Lê Văn Châu (Trang Châu) Bùi Thế Hoành, Hà Xuân Quỳnh là những bỉnh bút chủ lực. Với các anh Bát Sách Nguyễn Thanh Bình, Trần Mộng Lâm, Vũ Thiện Đạm, Đỗ Hữu Tước phụ trách mục văn nghệ lai rai. Anh Ngô Thế Vinh, tổng thư ký thì coi như "Thập bát ban võ nghệ." 

Về gia cảnh tôi không biết nhiều về con cháu của anh chị Thuần, người anh lớn của anh Thuần là Trung tá Hải Quân VNCH, đó là anh Hà Ngọc Lương, đậu thủ khoa khóa Hải Quân, đã tự sát cùng cả gia đình trong thảm kịch tháng tư 1975! Anh Thuần cũng có một cậu em trai út nhưng tôi không biết gì nhiều, cô em gái liền với anh là Hà Thị Lan Nha, đã theo ngành Luật. Cô cũng đã qua đời cách đây ít năm. Hồi đó tôi đã tưởng anh Thuần sẽ sang tham dự đám tang của cô em bên California, và hy vọng sẽ gặp anh, nhưng anh đã không sang. 

Xưa, thi hào Lý Bạch đã nói "đời là giấc mộng lớn",  những người từ giã cõi đời này là những người đã tỉnh mộng.  Anh Thuần ơi! như vậy là anh đã tỉnh mộng rồi! Có điều sự tỉnh mộng của anh đã để lại bao thương tiếc cho các anh em còn lại của nhóm "Tình Thương ngày cũ" và là sự mất mát lớn cho Diễn đàn Cộng đồng người Việt.


Bác sĩ Đỗ Hữu Tước
Seattle, WA
09/06/2026



 

   Hình tác giả bài viết, 
   Y sĩ Đại uý Đỗ Hữu Tước 

Đỗ Hữu Tước, bút hiệu Đỗ Trần, sinh năm 1940, cùng gia đình di cư vào Nam 1954, học sinh Chu Văn An, theo học Y Khoa Sài Gòn, trong ban biên tập Nguyệt San SVYK Tình Thương, tốt nghiệp Y Khoa Sài Gòn 1966, chức vụ cuối cùng Y sĩ Đại uý Trưởng Khu Ngoại Khoa 3 Tổng Y viện Cộng Hoà; Tu nghiệp Bệnh viện Letterman Presidio, San Francisco 1974. Sau 1975, định cư và sau đó hành nghề Y khoa tại Hoa Kỳ cho tới khi nghỉ hưu. Hiện sống cùng gia đình tại Seattle, tiểu bang Washington. 









Thứ Hai, 7 tháng 9, 2026

VIỄN KIẾN MÔI SINH CỦA ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA

 Từ “Nóc Nhà Thế Giới” 

tới thảm họa Nepal–Tây Tạng 2026


NGÔ THẾ VINH 




                                              Hình 1: Đức Dalai Lama và Cực Thứ Ba của Trái Đất
                                                          [nguồn: http://www.activeremedy.org] 


MÙA XUÂN TÂY TẠNG VÀ CÂU CHUYỆN NHỮNG DÒNG SÔNG

Cách đây chín năm, bài viết của Ngô Thế Vinh đã nhìn Cao nguyên Tây Tạng như “Cực Thứ Ba của Trái Đất”, kho dự trữ băng tuyết khổng lồ và là nơi phát nguyên của những dòng sông lớn nuôi sống hàng tỉ cư dân châu Á, trong đó có Sông Mekong. Đức Dalai Lama từ rất sớm đã cảnh báo rằng vấn đề môi sinh Tây Tạng còn cấp thiết hơn cả những vấn đề chính trị: băng tuyết tan nhanh, phá rừng, khai thác khoáng sản, ô nhiễm nguồn nước và những con đập đang làm biến dạng các dòng sông. Từ đầu nguồn Tây Tạng tới các đồng bằng hạ lưu, tất cả nằm trong cùng một hệ sinh thái liên lập. Thông điệp bài viết năm 2017 vẫn nguyên tính thời sự: “Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết.” https://vietecologypress.blogspot.com/2017/01/mua-xuan-tay-tang-va-cau-chuyen-nhung.html


*


Từ ngót bốn thập niên trước, khi biến đổi khí hậu chưa trở thành một ám ảnh của nhân loại như ngày nay, Đức Đạt Lai Lạt Ma , đã nói tới Tây Tạng không chỉ như quê hương của một dân tộc mất quyền tự quyết, đang bị Hán Hoá mà còn như một hệ sinh thái có tầm quan trọng đối với cả châu Á. Trong nhãn quan của ông, hòa bình, quyền con người và bảo vệ thiên nhiên không phải ba vấn đề riêng biệt, chúng liên hệ với nhau và cuối cùng quy tụ vào một câu hỏi căn bản: con người có thể tồn tại lâu dài hay không nếu chính môi trường nuôi sống mình đang bị hủy hoại?

Nhìn lại những lời cảnh báo ấy, sau thảm họa kinh hoàng xảy ra tại vùng biên giới Nepal–Tây Tạng mới đây (ngày 26 tháng 8 năm 2026), người ta khó tránh khỏi cảm giác rằng đó không chỉ là một triết lý Phật giáo về sự tương tác giữa con người và thiên nhiên. Nó còn mang dáng dấp của một viễn kiến môi sinh.


Từ một chương trình chính trị tới một tầm nhìn sinh thái

Ngày 21 tháng 9 năm 1987, tại Washington D.C., Đức Đạt Lai Lạt Ma đưa ra Kế hoạch Hòa bình Năm Điểm cho Tây Tạng (Five-Point Peace Plan for Tibet). Điều đáng chú ý là trong năm đề nghị ấy, ông dành hẳn một điểm cho việc, phục hồi và bảo vệ môi trường thiên nhiên Tây Tạng.

Hai năm sau, trong Diễn từ nhận giải Nobel Hòa Bình ngày 11 tháng 12 năm 1989, tư tưởng ấy được ông trình bày rõ ràng và rộng hơn. Ông đề nghị toàn cao nguyên Tây Tạng có thể trở thành một khu bảo tồn thiên nhiên hay sinh quyển khổng lồ, nơi việc khai thác tài nguyên phải được kiểm soát chặt chẽ, các hệ sinh thái phải được bảo vệ và phát triển phải theo hướng bền vững.

Ông hình dung Tây Tạng như một vùng mà con người và thiên nhiên có thể cùng tồn tại trong hòa bình và quân bình.

Đặt trong bối cảnh cuối thập niên 1980, phải nói đây là một ý tưởng đáng chú ý. Khi ấy khái niệm biến đổi khí hậu / climate change chưa chiếm vị trí trung tâm trong chính sách quốc tế như ngày nay; những thuật ngữ như sông băng đang thu hẹp / glacier retreatsự tan băng vĩnh cửu / permafrost thaw, lũ vỡ hồ băng / glacial lake outburst flood hay Cực Thứ Ba / Third Pole...  chưa xuất hiện hàng ngày trên báo chí thế giới.

Nhưng Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nhìn thấy một nguyên lý quan trọng hơn những thuật ngữ khoa học ấy: thiên nhiên không tuân theo biên giới chính trị.

Trong diễn văn Nobel năm 1989, ông nói đại ý rằng những gì xảy ra tại một nơi trên thế giới có thể ảnh hưởng tới tất cả chúng ta. Chiến tranh hay hòa bình, phá hủy hay bảo vệ thiên nhiên, nghèo đói hay thịnh vượng không phải những hiện tượng biệt lập mà liên hệ với nhau ở nhiều tầng mức.

Gần bốn mươi năm sau, Himalaya đang chứng minh nguyên lý ấy bằng một ngôn ngữ khốc liệt hơn: băng, đá, nước và những dòng lũ. 

NEPAL: NHỮNG SÔNG BĂNG ĐANG TAN

 NHỮNG QUẢ BOM HẸN GIỜ

Jason Gulley
Giáo sư Địa chất, University of South Florida
Theo The New York Times, Climate Forward, 28.08.2026


Lời Dẫn Nhập: Đây là bài viết cô đọng từ The New York Times, cho thấy một thảm họa địa phương có thể là lời cảnh báo sớm cho cả một vùng rộng lớn. Trận lũ quét vừa xảy ra ở Nepal và Tây Tạng không chỉ là một tai biến thiên nhiên đơn lẻ. Phía sau dòng nước lũ dữ dằn là sự hội tụ ngày càng nguy hiểm của khí hậu đang nóng lên, băng tuyết Himalaya tan nhanh và những hồ băng đang căng phình trên “nóc nhà thế giới”. Những biến động ấy không dừng lại ở vùng núi cao Himalaya, mà có thể tác động tới hàng triệu cư dân sống ở các lưu vực hạ nguồn. Trong viễn cảnh đó, không thể không nghĩ tới sông Mekong và Đồng bằng Sông Cửu Long của Việt Nam, một vùng châu thổ vốn đã rất mong manh trước những biến động ngày càng khó lường của khí hậu và nguồn nước. VEF


Một nhà khảo sát chèo chiếc kayak bơm hơi được trang bị máy sonar để đo độ sâu của một hồ nước tan từ băng trên sông băng Ngozumpa ở Nepal vào năm ngoái. Ảnh: Jason Gulley / The New York Times


Những hình ảnh về trận lũ thảm khốc từ vùng biên giới Nepal - Tây Tạng trong những ngày cuối tháng 8 năm 2026 đã gây kinh hoàng trên khắp thế giới. Nhưng đối với nhà địa chất Jason Gulley, người đã có sáu chuyến khảo sát các sông băng Nepal trong hơn hai thập niên, thảm họa ấy còn mang một ý nghĩa đáng lo ngại hơn: đó có thể là hình ảnh báo trước một tương lai đang đến với dãy Himalaya khi Trái Đất tiếp tục nóng lên.

Do nơi xảy ra thảm họa quá xa xôi, các nhà khoa học chưa xác định được chính xác điều gì đã khởi phát trận lũ ngày 26 tháng 8. Điều đã biết là một khối băng khổng lồ tách khỏi sườn núi, rơi xuống khoảng 4.000 feet, rồi đâm vào một phụ lưu của sông Bhote Koshi trên lãnh thổ Trung Quốc.

Cú va chạm làm rung chuyển cả vùng núi, mạnh đến mức lúc đầu bị nhầm là một trận động đất. Máy địa chấn ghi nhận chấn động tương đương 5,2 độ. Chỉ ít phút sau, một bức tường khổng lồ gồm nước và đá lao xuống thung lũng, cuốn qua khu vực cửa khẩu biên giới.

Nguồn gốc chính xác của khối nước khổng lồ ấy vẫn đang được điều tra. 

Thứ Bảy, 5 tháng 9, 2026

Trang tưởng niệm BS Hà Ngọc Thuần 1940-2026

Người Thư-Sinh Muôn Thuở 

Sau 50 năm nhớ về Nghiêm Sỹ Tuấn


HÀ NGỌC THUẦN 



LGT: Đây là bài viết từ Brisbane Úc Châu của Bác sĩ Hà Ngọc Thuần tháng 10 năm 2018 _ cách đây 8 năm, đã đăng trong Tuyển Tập YSTT Nghiêm Sỹ Tuấn, Người Đi Tìm Mùa Xuân do Tập San Y Sĩ Việt Nam Canada và Việt Ecology Press cùng đứng tên xuất bản và phát hành năm 2019. Phần hình ảnh và tiểu sử cũng do chính BS Hà Ngọc Thuần cung cấp. Đăng tải lại bài viết "Sau 50 năm nhớ về Nghiêm Sỹ Tuấn" có ý nghĩa như một nén nhang tưởng nhớ cả hai cây viết cột trụ trong Ban Quan Điểm của tờ báo SVYK Tình Thương ngày nào. 



*

*


A book is a bit like an iceberg. The author’s name is on the cover, but ninety percent is below the surface, with the names of many others who deserve credit. Michael RuseDarwinism and Its Discontents – 2006


“Một cuốn sách cũng phần nào giống như một tảng băng trôi. Tên tác giả được ghi trên bìa sách, nhưng chín mươi phần trăm còn lại nằm khuất dưới mặt nước, với tên tuổi của biết bao người khác cũng xứng đáng được ghi nhận công lao.” — Michael Ruse, Darwinism and Its Discontents (2006)




1. Nghiêm Sỹ Tuấn sanh năm 1937, vào một ngày đầu năm. Tính theo âm lịch, Anh thuộc tuổi Bính Tý, tuổi con Chuột, không phải năm Đinh Sửu, tuổi con Trâu, như những người sanh sau ngày Tết Nguyên Đán. Sau này khi viết văn Anh lấy bút hiệu là Yển Thử. Thử là Con chuột. Nhưng khi hỏi Anh là Yển Thử có ý nghĩa đặc biệt nào, và vì lý do nào Anh lại chọn bút hiệu đó, thì Anh chỉ cười mà không giải đáp. Lẽ cố nhiên chúng ta phải biết hai chữ yển và thử này viết sang chữ Hán như thế nào thì mới có thể nói chuyện tìm kiếm trong tự điển Đào Duy Anh hay tự điểnThiều Chửu. Đây là một bí mật mà Anh đã mang theo về bên kia thế giới. Quý vị thông thạo chữ Hán có thể đoán biết được, nhưng dù có đoán đúng chăng nữa cũng chỉ là “đoán” mà thôi.



Sau này tôi, Hà Ngọc Thuần, người viết bài này, được kể như một người bạn thân trong số những người bạn thân của Anh, định cư tại Úc Đại Lợi là xứ sở của những con Kangaroo. Kangaroo, tiếng Việt, hay tiếng Hán Việt, dịch là đại thử. Tôi không đủ kiến thức khoa học để biết con chuột và con Kangaroo giống nhau hay khác nhau như thế nào, nhưng nói một cách đại khái thì con Kangaroo lớn lắm và hình thù như thấy trong tranh ảnh thì có hơi giống con Chuột một phần nào nên gọi nó là đại thử thì thật là phải. Nhưng cũng mới sau này, một người bạn khác là ông Đỗ Thông Minh, gốc là người Việt Nam nhưng cư ngụ tại Nhật đã lâu năm, có soạn từ điển Việt Nhật - Nhật Việt song ngữ, rất lớn, cho biết "đại" ở đây là "cái túi", không phải là "lớn"; phải là người có biết đọc chữ Hán mới phân biệt được. 



Đại thử, như vậy không phải là một bí mật, như là “yển thử” nói trên, mà là một điều lầm lẫn mà nhiều người (trong số đó có tôi) đã phạm. Cũng tại chúng ta đã quen dùng chữ abc cũng gọi là “quốc ngữ”, mà không còn dùng chữ Hán như người Nhật vẫn còn dùng một số kanji xen lẫn với chữ viết của họ. Sách học tiếng Nhật có tới 2000 chữ Hán hay kanji (Hán tự), hay nhiều hơn thế.



Quý bạn đọc tới đây xin đừng mất kiên nhẫn; xin đọc tiếp tục. Sau đây tôi sẽ cho biết Nghiêm Sỹ Tuấn là nhà Nho học hay Hán học, có thể là cỡ lớn nếu giờ này Anh còn sống trên trần gian. Tôi nghĩ là nói quanh co về mấy chữ Hán này là nhập đề rất thích hợp để mở đầu một bài tưởng niệm Nghiêm Sỹ Tuấn. Và nếu còn sống Anh đã nói cho tôi biết thế nào là yển thử, thế nào là đại thử, vân vân…







2. Nghiêm Sỹ Tuấn học chữ Hán có thể từ ông nội, hoặc có thể từ ông ngoại. Có thể cả hai Cụ là những nho sinh đã dự kỳ thi cuối cùng tại Nam Định năm 1915, như Nguyễn Tuân đã tả trong Vang Bóng Một Thời, nhưng có thể là đã không đỗ, và 30 năm sau, năm 1945, vẫn còn sống trong thanh bạch, vẫn còn nhớ chữ Hán, vẫn còn thương chữ Hán, vẫn còn muốn dậy chữ Hán, và môn sinh chẳng ai khác lạ hơn là cậu cháu trai đầu lòng Nghiêm Sỹ Tuấn.