Thứ Năm, 2 tháng 7, 2026

Những Dòng Sông Nhiễm Độc ở Đông Nam Á

 Không Có Giải Pháp Dễ Dàng

Tom Fawthrop,                                                                                                                                 The Diplomat June 30, 2026


Lời Giới thiệu: Tom Fawthrop là nhà báo Anh, đã và đang theo dõi các vấn đề liên quan đến sông Mekong suốt 12 năm qua với vai trò nhà nghiên cứu, nhà hoạt động môi sinh và là giảng viên khách mời tại các trường đại học ở Cambodia, Singapore, Thái Lan và Việt Nam. Những bài viết của Tom được đăng trên nhiều tờ báo quốc tế như The EconomistThe Diplomat và The Guardian. Tom đã từng là Bạn đồng hành với Nhóm Bạn Cửu Long / Hội Sinh Thái Việt (Việt Ecology Foundation)  trong nhiều năm. Tom Fawthrop được coi như là một trong những nhà báo đầu tiên lên tiếng sớm nhất về Thảm hoạ Môi trường do lượng chất độc thạch tín – arsenic đang thải ra từ các mỏ khai thác Đất Hiếm của Trung Quốc tại Myanmar (Miến Điện), không phải chỉ có các dòng sông Thái Lan bị ô nhiễm –  mà là một ảnh hưởng xuyên biên giới, lan tới con sông Mekong chảy qua các quốc gia Lào, Cambodia, và Việt Nam với Đồng Bằng Sông Cửu Long – một vựa lúa của Việt Nam với 20 triệu cư dân đang sống trên đó.Tom Fawthrop đã gửi thêm cho chúng tôi một bài viết  bài viết mới của Anh đăng trên Tạp Chí The Diplomat với nhan đề ... thay vì phiên dịch toàn bài, Việt Ecology Press sẽ giới thiệu cô đọng trong khoảng 1,500 chữ, được xem là phù hợp với attention span của bạn đọc trên iPhone / iPad hiện nay. Việt Ecology Press. 

https://thediplomat.com/2026/06/southeast-asias-toxic-rivers-no-easy-solutions/

                                                                       *

      Đông Nam Á đang đứng trước nguy cơ của một cuộc khủng hoảng môi trường quy mô khu vực khi ô nhiễm từ hai thác các mỏ đất hiếm và khai thác vàng ở bang Shan (Myanmar /Miến Điện) tiếp tục phát tán xuống hệ thống sông Mekong.

      Nhân Ngày Môi trường Thế giới (U.N. World Environment Day 6/6/2026), các tăng sĩ Phật giáo đã dẫn đầu cuộc đi bộ vì hòa bình qua chặng đường dài 68 km dọc sông Kok nhằm cảnh báo tình trạng ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng. Theo bà Pianporn (Pai) Deetes, Giám đốc tổ chức Rivers and Rights, các con sông Kok, Sai, Ruak, Mekong, Salween và Kraburi là nguồn sống của hàng triệu người dân. Thế nhưng, chính "những mạch sống" ấy đang bị đầu độc bởi hoạt động khai thác khoáng sản đất hiếm gần như không được kiểm soát ở Myanmar.

      Tiến sĩ Suebsakun Kidnukorn, một nhà khoa học môi trường tại Đại học Mae Fah Luang, tỉnh Chiang Rai cho biết arsen từ các mỏ đất hiếm và vàng đã theo dòng nước xuống hạ lưu, tích tụ trong lớp đất đai ven sông. Cục Kiểm soát Ô nhiễm Thái Lan (PCD / Pollution Control Department) cũng phát hiện nồng độ arsen cao bất thường trên dòng chính Mekong. Theo ông, chất độc đã bắt đầu xâm nhập chuỗi thực phẩm và có thể gây hậu quả lâu dài trong toàn lưu vực.

      Phra Maha Nikhom Mahabhinikkhamano, Viện trưởng Tu viện Wat Thaton, người dẫn đầu đoàn tăng sĩ, kêu gọi Chính phủ Thái Lan xây dựng một chiến lược toàn diện nhằm giải quyết tình trạng ô nhiễm xuyên biên giới. Tuy nhiên, tại cuộc đối thoại với chính quyền Chiang Rai, đã không có một bộ trưởng nào tham dự, khiến nhà hoạt động Niwat Roykaew, người đoạt Giải thưởng Môi trường Goldman (thường được gọi là "Giải Nobel Xanh" của thế giới) nhận xét rằng sự vắng mặt ấy phản ánh việc chính phủ Thái Lan chưa coi trọng đúng mức cuộc khủng hoảng.      PCD đã đề xuất một ngân khoản khẩn cấp nhằm lắp đặt 18 trạm quan trắc tự động automated monitoring stations dọc các con sông Kok, Mekong và Salween, nhưng ngân khoản vẫn phải chờ được phê duyệt.

      Theo Tiến sĩ Wan Wiriya (Đại học Chiang Mai), điều đáng lo không chỉ là chất lượng nước mà là arsen đã thâm nhập vào lớp đất đai, tích lũy trong sinh vật và được khuếch đại qua chuỗi thực phẩm. Ông cùng các đồng nghiệp đang tiến hành chương trình quan trắc độc lập đối với nước, đất đai và nông sản.

      Tiến sĩ Suebsakun ví sự tích tụ arsen giống như hút thuốc lá: tác động diễn ra âm thầm trong nhiều năm trước khi dẫn đến các bệnh ung thư như phổi, gan, bàng quang và da. Ông phê phán đáp ứng của chính quyền Thái Lan còn quá yếu ớt và thiếu minh bạch, trong khi quốc gia này không ngừng quảng bá hình ảnh ngành xuất khẩu thực phẩm được mệnh danh như Nhà bếp của Thế giới / The World’s Kitchen”.

      Do tính chất xuyên biên giới / transboundary trong lưu vực Mekong, các nhà khoa học cho rằng không quốc gia nào có thể đơn phương tự giải quyết vấn đề. Bà Pai Deetes nhận định việc phát hiện nồng độ kim loại nặng cao gấp nhiều lần ngưỡng an toàn lẽ ra phải thúc đẩy hành động khẩn cấp của toàn khu vực.

      Tuy nhiên, phản ứng chung vẫn còn dè dặt. Ủy hội sông Mekong (MRC) kết luận ô nhiễm arsen hiện mới mang tính cục bộ, dù thừa nhận cần theo dõi lâu dài vì chất độc tồn lưu trong nước và đất đai. Nhiều nhà khoa học Thái Lan cho rằng đánh giá này chưa phản ánh đầy đủ nguy cơ lan rộng của ô nhiễm đối với toàn lưu vực.

      Một câu hỏi lớn được đặt ra là liệu ô nhiễm có lan đến Cam Bốt, đặc biệt là hệ sinh thái Biển Hồ Tonlé Sap hay không. Tại Viện Công nghệ Cam Bốt (ITC / Cambodia’s Institute of Technology), các nhà nghiên cứu khẳng định họ có đủ năng lực phân tích chất ô nhiễm và rất quan tâm đến các nguồn ô nhiễm từ thượng nguồn Mekong. Tuy nhiên, nghiên cứu về vấn đề này tại Cam Bốt còn rất hạn chế, trong khi nước này cũng có nhiều khu khai thác khoáng sản thiếu kiểm soát.

       Các nhà khoa học Cam Bốt nhấn mạnh ô nhiễm sông ngòi không phải vấn đề của riêng quốc gia nào mà là thách thức chung của toàn lưu vực. Tiến sĩ Wan Wiriya đề xuất tăng cường hợp tác khoa học giữa các nước như một hình thức "ngoại giao nhân dân / people-to-people diplomacy" nhằm vượt qua những căng thẳng chính trị hiện nay. Ông muốn nói tới cuộc tranh chấp biên giới giữa Thái Lan và Cam Bốt hiện nay.

      Nhiều chuyên gia cho rằng Trung Quốc là quốc gia duy nhất có đủ khả năng tác động trực tiếp đến nguồn gây ô nhiễm, bởi phần lớn các mỏ đất hiếm ở bang Shan do các doanh nghiệp Trung Quốc vận hành.

      Tiến sĩ Suebsakun nhận xét Trung Quốc hiểu rất rõ hậu quả môi trường của ngành đất hiếm vì chính nước này từng phải trả giá trong nhiều thập niên. Sau khi ban hành các quy định môi trường nghiêm ngặt hơn trong nước, nhiều doanh nghiệp đã chuyển hoạt động sang Myanmar, nơi tiêu chuẩn bảo vệ môi trường còn lỏng lẻo.

      Các tổ chức môi trường Thái Lan kêu gọi Bắc Kinh buộc các doanh nghiệp hoạt động ở nước ngoài cũng phải tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường như trong nước. Năm 2024, Trung Quốc ban hành Quy định về Quản lý Đất hiếm, văn bản pháp lý đầu tiên điều chỉnh toàn bộ chuỗi cung ứng đất hiếm. Theo nhiều chuyên gia, các mỏ ở Myanmar sẽ là phép thử đối với hiệu lực thực tế của quy định này.

      Đại sứ quán Trung Quốc tại Bangkok cho rằng các báo cáo của Thái Lan vẫn cho thấy chất lượng nước "đạt tiêu chuẩn an toàn". Tuy nhiên, các nhà khoa học phản bác rằng nguy cơ lớn nhất không nằm ở nồng độ chất độc tại một thời điểm mà ở quá trình tích lũy sinh học lâu dài trong đất đai và chuỗi thực phẩm.

      Trong khi đó, Chính phủ Thái Lan đang xem xét ngân sách để mở rộng hệ thống quan trắc, nhưng tiến độ còn rất chậm. Một số nghị sĩ cũng chỉ ra rằng lợi ích kinh tế từ hoạt động thương mại khoáng sản với Myanmar có thể là nguyên nhân khiến chính phủ chưa có những biện pháp quyết liệt.

      Bài báo của Tom Fawthrop đã đưa ra một thông điệp rất rõ ràng: cuộc khủng hoảng đã vượt khỏi phạm vi một dòng sông hay một quốc gia. Ô nhiễm kim loại nặng, đặc biệt là arsen, không chỉ làm suy giảm chất lượng nước mà còn tích tụ trong đất đai, thủy sản, cây trồng và cuối cùng là cơ thể con người. Nếu Myanmar, Thái Lan, Trung Quốc cùng các quốc gia hạ lưu không tăng cường hợp tác và chia sẻ trách nhiệm, lưu vực Mekong có nguy cơ phải đối mặt với một thảm họa sinh thái và sức khỏe cộng đồng trong nhiều thập niên tới.


Việt Ecology Press                                                                                                                                                        Đọc và giới thiệu 30.06,2026

__

Các Chủ đề liên quan:

1/ Ô Nhiễm Thạch Tín Nghiêm Trọng -- Sông Mã Gầm Lên Khúc Độc Hành. Nguyễn Tuấn Khoa, 05.05.2026https://vietecologypress.blogspot.com/2026/05/o-nhiem-thach-tin-nghiem-trong-song-ma.html

2/ Nhân ngày Môi trường Thế giới _ World Environment Day June 5, 2026. Thư ngỏ gửi Liên Hiệp Quốc Của Mạng lưới Người dân Thái Lan Bảo vệ  Các dòng sông Kok, Sai, Ruak, Mekong, Salween và Kraburi. Phạm Phan Long dịch. https://vietecologypress.blogspot.com/2026/06/nhan-ngay-moi-truong-gioi-world_0564768035.html

3/ Bắc Trung Việt: Vùng hứng chịu ô nhiễm arsenic xuyên biên giới nặng nhất từ các mỏ đất hiếm Đông Nam Á. Phạm Phan Long, April 30, 2026.  https://vietecologypress.blogspot.com/2026/05/bac-trung-viet-vung-hung-chiu-o-nhiem.html

4/ Các Mỏ Đất Hiếm ở Myanmar Đang Đầu Độc Các Dòng Sông Thái Lan. Tom Fawthrop, Sept 2. 2025. https://vietecologypress.blogspot.com/2025/10/cac-mo-at-hiem-o-myanmar-ang-au-oc-cac.html


 

Thứ Hai, 29 tháng 6, 2026

TỪ CỬU LONG CẠN DÒNG TỚI SÔNG COLORADO CẠN NGUỒN

Thượng nguồn sông Colorado đang khô cạn:   

      Tình trạng thiếu nước do thiếu tuyết tan đang đe dọa nguồn sống của hàng chục triệu người và hàng triệu mẫu đất nông nghiệp ở vùng Tây Nam Hoa Kỳ."                                                                         


                                                        Colorado River and Basins                                                    
                                                 [ Nguồn: US Geological Survey Data ]  

      Bài báo của Ian James, Los Angeles Times, ngày 25 tháng 6 năm 2026  mô tả cuộc khủng hoảng môi trường đang diễn ra ngay tại thượng nguồn con sông Colorado. Thay vì chỉ tới  các hồ chứa nổi tiếng như Lake Mead và Lake Powell, tác giả đưa người đọc lên tận vùng núi Rocky Mountains thuộc bang Colorado, nơi dòng sông bắt đầu hình thành. Bài báo cho thấy các đầu nguồn vốn từ lâu được xem là nguồn cung cấp nước ổn định thì nay đang khô cạn do tình trạng mùa đông thiếu tuyết nghiêm trọng, nhiệt độ tăng cao bất thường và đó là tác động ngày càng rõ rệt của biến đổi khí hậu / climate change.

      Sông Colorado là một trong những con sông quan trọng nhất của Bắc Mỹ. Nguồn nước của nó cung cấp nước sinh hoạt cho khoảng 35 triệu người tại bảy tiểu bang miền Tây Hoa Kỳ và miền bắc Mexico, đồng thời tưới cho khoảng 5 triệu mẫu Anh đất nông nghiệp. Các thành phố lớn như Los Angeles, San Diego, Phoenix, Las Vegas, Denver cùng nhiều cộng đồng khác đều phụ thuộc vào dòng sông này. Tuy nhiên, bài báo nhấn mạnh rằng chính nơi đầu nguồn dòng sông hiện đang bị đe dọa nghiêm trọng.

Thứ Năm, 25 tháng 6, 2026

Vài nét riêng của văn học hải ngoại

Trần Doãn Nho


Do hoàn cảnh phát sinh, văn học hải ngoại khác với văn học trong nước, khác với văn học miền Nam trước đây. Tôi xin nêu lên, hay đúng hơn, nhấn mạnh một vài nét riêng của văn học hải ngoại. Ngồ ngộ, là lạ, vui vui…



(Từ trái) Trần Doãn Nho, Cung Tích Biền, Thành Tôn, Phạm Phú Minh, Phạm Phú Thiện Giao (VOA), Trịnh Y Thư, Lê Hân, chị Cung Tích Biền, chị Trần Doãn Nho, chị Diệu Chi - Nguyễn Mộng Giác) [Hình: TDN] 

Tự phát

Họ thoát ra khỏi đất nước, vội vã, tất tả, hoảng loạn, trôi dạt vô hướng, để bắt đầu lại từ con số “không.” Trong tình huống đó, im lặng chịu đựng và chấp nhận hoàn cảnh là điều duy nhất; thảng hoặc nếu có ai cầm bút viết lên một cái gì đó, thì chỉ là tiếng kêu than tuyệt vọng cá nhân, mỗi người một kiểu, một cách. Đó là những phản ứng nhân sinh tự nhiên, tự phát từ thân phận lạc loài của những người, thoắt cái, bỗng nhiên trở thành con sâu cái kiến lạc loài vô xứ. Cho đến một lúc, khi những tiếng kêu đơn lẻ, rời rạc đó kéo dài, gắn kết với nhau, nương tựa nhau, biến thành một tiếng kêu tập thể. Chẳng khác gì những câu hò câu hát vu vơ trên ruộng đồng hợp thành văn chương bình dân, những tiếng kêu tự phát trong sự đụng độ tàn nhẫn với cuộc sống kết hợp lại thành văn học hải ngoại.

Chẳng thế mà, nhà văn Lê Thị Huệ nói thẳng, không một chút ấp a ấp úng:

“Thế giới chữ nghĩa nghệ thuật hải ngoại là một thứ sinh hoạt vô tổ chức. Không có chính phủ nào ra lệnh phải sáng tác theo chỉ đạo nào. Không có nền chính tả học đường nào kiểm soát những điều chúng tôi viết. Ai muốn viết gì thì viết. Ai muốn xuất bản gì thì xuất bản. Ai muốn phê bình gì thì phê bình. Một thế giới cực kỳ vô tổ chức vô địa lý vô quốc gia. Thế nhưng cũng từ đó chúng tôi tự kỷ luật (self-discipline).” [1]

Một phát biểu chắc nịch, lạ tai, tưởng như “quá đáng,” nhưng hoàn toàn chính xác.

Tự phát, cũng có nghĩa là tự do.

Nói như Hoàng Hưng, trước sau, văn học hải ngoại là nền văn học “không có ai lãnh đạo và không chịu sự lãnh đạo của ai.” [2] 

Thứ Hai, 22 tháng 6, 2026

MAN DI HOÁ BIÊN GIỚI PHÍA NAM TRUNG HOA ĐỜI MINH _ Nguyễn Duy Chính dịch

Việt Nam là một tỉnh ly khai hay một khu vực chưa khai hoá

Nguyên tác: De-civilizing Ming China’s Southern Border: Vietnam as Lost Province or Barbarian Culture

Kathlene Baldanza


Đối với giới nho sĩ của các triều đại Trung Hoa trước đây, thung lũng sông Hồng và các vùng phụ cận được nhớ tới như một nghìn năm do Trung Hoa kiểm soát (111 TCN đến 939 SCN) vẫn còn thấm đẫm dù rằng người Việt đã giành được độc lập trong nhiều thế kỷ rồi. Họ vẫn nhìn Việt Nam bằng câu mở đầu “An Nam 安南 trước kia được gọi là Giao Chỉ 交趾. Trước đời Đường, họ bị Trung Hoa cai trị” như để nhắc lại thời kỳ gốc gác vốn đã chinh phục họ.[1]Vì chưng cả Giao Chỉ lẫn An Nam đều là tên gọi khu vực sinh sống của người Việt, những tên đó khơi dậy thời kỳ mà Trung Hoa kiểm soát cơ cấu chính trị vùng đất ngày nay là bắc Việt Nam.

Trong suốt mười thế kỷ bị áp bức dài đằng đẵng không phải là không có những vụ chống đối. Cuộc nổi dậy huy hoàng nhất là của hai chị em họ Trưng, Trưng Trắc 徵側 và Trưng Nhị 徵貳, người đã đứng lên chống lại các quan lại cai trị của nhà Hán vào năm 40 CN. Ba năm sau, tướng nhà Hán là Mã Viện 馬援 dẹp được cuộc khởi nghĩa, xử tử hai chị em và gửi thủ cấp của họ về kinh đô. Theo những nguồn sau này, Mã Viện đã dựng những cột đồng để đánh dấu biên giới phía nam của đế quốc Trung Hoa. Những cột đồng này là biểu tượng mạnh mẽ mặc dù các chi tiêt về vị trí, số cột được dựng, và cả việc có hay không cũng không bao giờ được xác định.[2] Tuy nhiên các cột đồng ấy đều được cả Trung Hoa lẫn Việt Nam coi là thực, và được đánh dấu trên bản đồ. Cũng lạ lùng thay, những dấu tích biên giới ấy, đúng ra phải rõ rệt và cố định thì lại di chuyển lúc nơi này, lúc khi khác.

Nếu Mã Viện dựng cột đồng để đánh dấu biên giới phía nam của đế quốc Hán thì những cột đó phải có vị trí đâu đó gần Huế, hiện nay là ở miền trung Việt Nam. Quả thực, một trong những nguồn sớm nhất đề cập đến những cột đồng này, bộ Tấn Thư của Trung Hoa vào thế kỷ thứ VII, đặt vị trí cột đồng ở Nhật Nam 日南 là khu vực kiểm soát tận cùng ở phía nam của nhà Hán[3]. Tuy nhiên đến cuối thế kỷ thứ XV thì những cột đồng lại nhảy lên phía bắc, gần nơi biên giới giữa Trung Hoa và Việt Nam ngày nay. Một bộ bản đồ do triều đình Việt Nam biên soạn năm 1490 là Hồng Đức Bản Đồ thì vẽ những cột đồng đó ở vùng duyên hải Việt Nam và Trung Hoa gần Móng Cái ngày nay[4]. Vị trí này trùng khớp với bản đồ Trung Hoa vẽ năm 1551 trong Giao Lê Tiễu Bình Sự Lược 交黎勦平事略 [5].







Giao Lê Tiễu Bình Sự Lược

(Tủ sách NDC)





Hồng Đức Bản Đồ 

Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2026

Song Thao _ Ký ức Sài Gòn

Giao lộ Tổng Đốc Phương (Châu Văn Liêm) và Hồng Bàng trước năm 1975 – Ảnh tư liệu, via Báo Tuổi Trẻ 

May mắn hơn là những nhân viên của Đài Mẹ Việt Nam. Họ được di tản có bài bản. Nhà văn Ngô Thế Vinh kể lại: “Tuần lễ trước 30 tháng 4, 1975, nhân viên Đài Mẹ Việt Nam và những cây viết cộng tác đã được Mỹ lên kế hoạch di tản khỏi Việt Nam – để tránh bị trả thù. Trước ngày lên tàu ra đảo Phú Quốc, nhà văn Võ Phiến tới thăm tòa soạn Bách Khoa, nơi vùng “xôi đậu” có Võ Phiến ngồi chung với Vũ Hạnh; cũng là nơi mà Võ Phiến đã gắn bó suốt 18 năm cùng với tuổi thọ của tờ báo. Anh Lê Ngộ Châu chủ nhiệm Bách Khoa kể lại: Võ Phiến thì phải đi, nhưng linh cảm không có ngày về, vẻ mặt buồn thảm, anh chỉ ngồi khóc lặng lẽ không nói nổi lời giã từ và rồi đứng dậy bước ra khỏi toà soạn. Trước một ngày mất Sài Gòn, thì hầu như toàn bộ nhân viên Đài Mẹ Việt Nam trong đó có gia đình Võ Phiến, Lê Tất Điều, Viên Linh, Tuý Hồng, Thanh Nam từ Phú Quốc đã được đưa lên con tàu lớn Challenger đậu sẵn ngoài khơi. Khi bờ biển Phú Quốc xa mờ trong tầm mắt, lần này thì Lê Tất Điều thấy Võ Phiến khóc”.

Vũ Khắc Khoan, Nghiêm Xuân Hồng, Mặc Đỗ cùng hội tụ với nhóm Mẹ Việt Nam trên đảo Guam. Tôi chợt nhớ tới câu ca dao: Gió đưa cây cải về trời / Rau răm ở lại chịu nhiểu đắng cay”. Chẳng biết có phải là một thứ “sấm” không? Những” rau răm” bị bầm nát chết trong tù có Hiếu Chân, Nguyễn Hoạt, Hoàng Vĩnh Lộc, Nguyễn Mạnh Côn, Phạm văn Sơn, Trần văn Tuyên, Trần Việt Sơn, Vũ Ngọc Các, Nguyễn Tuấn Phát, Dương Hùng Cường. Chết sau khi ra tù có Hồ Hữu Tường, Vũ Hoàng Chương. Sống xa rời cây viết có Dương Nghiễm Mậu làm sơn mài, Lê Xuyên bán thuốc lá lẻ trên lề đường, Trần Lê Nguyễn bán báo, Nguyễn Mộng Giác làm mì sợi, Trần Hoài Thư bán cà-rem dạo.

Trái: Cảnh hỗn loạn tại Đại sứ quán Mỹ Sài Gòn ngày 29/4/1975, người dân trèo tường vào trong, cố gắng tiếp cận các trực thăng sơ tán khi những người Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam.Photo: AP/Tư liệu, via National Museum of American DiplomacyPhải: Người tị nạn Nam Việt Nam cập bến trên một tàu hải quân Mỹ trong Chiến dịch Frequent Wind. Source: U.S. Marines in Japan Homepagewiki commons

Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2026

Nhân ngày Môi trường Thế giới _ World Environment Day June 5, 2026

Thư ngỏ gửi Liên Hiệp Quốc 

Của Mạng lưới Người dân Thái Lan Bảo vệ  

Các dòng sông Kok, Sai, Ruak, Mekong, Salween và Kraburi


 
                                                      Logo of World Environment Day 2026


KS Phạm Phan Long, VEF dịch

5-6-2026

Lời giới thiệu: Nhân Ngày Môi trường Thế giới, ngày 5 tháng 6, Mạng lưới Người dân Bảo vệ các dòng sông Kok, Sai, Ruak, Mekong, Salween và Kraburi, đã gửi thư ngỏ tới Liên Hiệp Quốc, cảnh báo về những tác động môi trường nghiêm trọng do hoạt động khai thác khoáng sản ở thượng nguồn các con sông trong khu vực.

Người dân Thái Lan ngày càng nhận thức rõ rằng họ đang phải gánh chịu những hệ lụy từ các dự án khai thác phục vụ lợi ích kinh tế cho giới đầu tư, nhưng gây tổn hại lâu dài cho môi trường và nguồn nước của họ. Nếu tình trạng ô nhiễm này không được kiểm soát, hậu quả sẽ không chỉ dừng lại ở một đất nước, mà có thể lan rộng trên toàn lưu vực các dòng sông xuyên biên giới ở Đông Nam Á kể cả Việt Nam.

Vì vậy, người Việt Nam cần quan tâm và theo dõi chất lượng nguồn nước của sông Mekong-Cửu Long, sông Mã, sông Chu, và sông Lam vì chúng bắt nguồn từ Trung Quốc, Myanmar và Lào. Đây cũng là khu vực sở hữu trữ lượng đất hiếm rất lớn ngoài Trung Quốc, khiến cuộc chạy đua khai thác tài nguyên ngày càng quyết liệt, kéo theo những hệ lụy về môi trường, có thể ảnh hưởng đến hàng triệu người dân trong khu vực. Sau đây là bản dịch bức thư ngỏ:


                                                                     ***

Chủ đề: Kêu gọi Liên Hiệp Quốc thừa nhận rằng, các cộng đồng lưu vực sông trong khu vực đang phải gánh chịu những tổn thất nặng nề, trở thành các “vùng hy sinh” của quá trình chuyển đổi năng lượng toàn cầu, và khẩn cấp hành động để bảo vệ công bằng môi trường, cũng như quyền con người.


Kính gửi: Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc

Nhân Ngày Môi trường Thế giới, chúng tôi – Mạng lưới Người dân Bảo vệ các dòng sông Kok, Sai, Ruak, Mekong, Salween và Kraburi – muốn cất lên tiếng nói đại diện cho các cộng đồng vùng biên giới đang phải gánh chịu những cái giá về môi trường, sức khỏe và an ninh sinh kế, để thế giới có thể chuyển dịch sang năng lượng sạch một cách công bằng.


Trong bối cảnh chuyển đổi năng lượng toàn cầu, một số cộng đồng đang bị đẩy vào tình thế trở thành những “vùng hy sinh” của nền kinh tế xanh. Trong khi người dân tại các đô thị lớn và các quốc gia công nghiệp phát triển được hưởng lợi từ pin, xe điện và các công nghệ năng lượng sạch, thì các cộng đồng vùng biên giới lại phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm kim loại nặng trong nguồn nước sông, chuỗi thức ăn và môi trường sống; điều này ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, lối sống và các thế hệ tương lai của họ.


Kể từ khi công bố kết quả kiểm nghiệm chất lượng nước và trầm tích vào năm 2025, tình trạng ô nhiễm kim loại nặng đã được phát hiện tại các dòng sông Kok, Sai, Ruak, Mekong và Salween, cũng như tại các lưu vực sông khác có liên kết với các khu vực khai thác khoáng sản ở thượng nguồn. Những tác động này không chỉ giới hạn ở chất lượng nước mà còn ảnh hưởng đến trầm tích, các loài thủy sinh, cây trồng và sự phơi nhiễm hàng ngày của người dân địa phương đối với các chất độc hại. Nỗi bất an về sự an toàn của nguồn nước và thực phẩm đã trở thành thực tế mà các cộng đồng phải đối mặt mỗi ngày.


Về bản chất, cuộc khủng hoảng này là vấn đề ô nhiễm xuyên biên giới, bởi lẽ nhiều cộng đồng bị ảnh hưởng nằm ở một quốc gia, trong khi các nguồn gây ô nhiễm lại nằm ở quốc gia khác, hoặc tại những khu vực mà nhà nước không thể kiểm soát và thực thi pháp luật một cách hiệu quả. Hệ quả là người dân bị ảnh hưởng buộc phải trông chờ vào sự hợp tác quốc tế – vốn thường chậm trễ và không thể theo kịp những thiệt hại đã xảy ra.

Chúng tôi không phủ nhận sự cần thiết của quá trình chuyển đổi sang năng lượng sạch. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi đó phải bảo đảm tính công bằng và không để ai bị bỏ lại phía sau. Việc cắt giảm khí thải nhà kính không được phép đánh đổi bằng sự mất mát về tài nguyên nước, sức khỏe và các quyền cơ bản của cộng đồng vùng biên giới. Việc đẩy gánh nặng ô nhiễm sang những nhóm người có ít quyền thương lượng nhất, không thể được coi là một quá trình chuyển đổi công bằng.


Hơn nữa, người dân sống ở khu vực thượng nguồn tại Myanmar – nơi diễn ra các hoạt động khai thác khoáng sản – còn phải đối mặt với tình cảnh ngặt nghèo hơn nữa. Trong bối cảnh xung đột và năng lực quản trị còn hạn chế, họ hầu như không có cơ hội tiếp cận các dịch vụ giám sát môi trường, chăm sóc y tế, các biện pháp khắc phục hậu quả, hay thậm chí là những không gian an toàn để lên tiếng và đòi lại công lý.

Thực trạng về những bất công đan xen này – bao gồm bất công về môi trường, khi các cộng đồng vùng biên giới phải gánh chịu hậu quả ô nhiễm thay cho người tiêu dùng ở hạ nguồn và các chủ thể nắm quyền lực ở cuối chuỗi cung ứng, trong khi nhiều người bị ảnh hưởng, không thể tiếp cận các cơ chế thực thi công lý hay các kênh giải quyết khiếu nại hiệu quả – đòi hỏi phải có sự nhìn nhận và hành động khẩn trương.

Thứ Ba, 26 tháng 5, 2026

DIỄN VĂN XUẤT TRƯỜNG LỄ TỐT NGHIỆP ĐẦU TIÊN 19.12.1970

SỨ MẠNG ĐẠI HỌC

Viện Đại Học Cần Thơ _ Ngọn Hải Đăng Miền Tây 

GS ĐỖ BÁ KHÊ


      GS Đỗ Bá Khê, là Diễn giả chính đọc bài diễn văn "Xuất Trường" khoá tốt nghiệp đầu tiên 19.12.1970 của Viện Đại Học Cần Thơ, khi ấy ông là Thứ trưởng Bộ Văn Hoá Giáo Dục Việt Nam Cộng Hoà. 
                                                                          

      Ánh Nguyệt, nguyên là luật sư Toà Thượng Thẩm Sài Gòn. Sau 1975, Chị định cư tại Pháp, là phóng viên cho Đài RFI, trong suốt hơn hai thập niên làm việc cho RFI, có thể nói Chị là người có sự hiểu biết sâu rộng và mối quan tâm đặc biệt về con Sông Mekông và Đồng Bằng Sông Cửu Long, qua các bài nhận định và phỏng vấn các học giả và chuyên gia trong lưu vực, trong đó có thể kể "buổi trò chuyện" với GS Đỗ Bá Khê năm 2004, chỉ một năm trước khi ngày GS Khê qua đời. "Sứ Mạng Đại Học" - là một trong số những bài viết, "xưa và nay"  mà GS Đỗ Bá Khê gửi cho PV Ánh Nguyệt trước buổi phỏng vấn để "tỏ tâm tư của thầy."  Trong một tấm carte nhỏ gửi cho tôi, GS Đỗ Bá Khê viết: "Tôi vẫn tin ở tương lai của Đại Học Cần Thơ", và trong đó có cả một chi tiết rất riêng tư thú vị là "Bến Ninh Kiều* là do Anh Hai tôi hình thành khi làm Tỉnh Trưởng tại đó... Mong rồi ra, người viết sẽ tìm lại được phần thu âm buổi trò chuyện của GS Đỗ Bá Khê và phóng viên Ánh Nguyệt, để có thề đi cùng với bài viết này. 


* Đỗ Bá Khê MP3 : 
buổi trò chuyện" với GS Đỗ Bá Khê năm 2004

                                                              *   
                                                                   
      Trước cao trào cầu học của thanh niên Việt Nam và sự phát triển mạnh mẽ đại học hiện nay, tôi xin trình bày một vài ý kiến về đại học. Cũng trong một bầu không khí trang nghiêm đầy triển vọng như hôm nay nhưng tại một quốc gia khác, diễn giả có nhận xét rằng:

      “Tại tất cả các quốc gia trên thế giới, cũ hoặc mới, mạnh hay yếu, độc tài hay dân chủ”, ngày nay trường đại học mọc lên để thỏa mãn nhu cầu đại học dường như là vô tận.

      Một cường quốc như Hoa Kỳ có khả năng thâu nhận hơn 43% thanh niên trong tuổi đại học, trung bình mỗi tuần lễ có 1 đại học mọc lên, thế mà cũng không đáp ứng hết nhu cầu. Tại các nước đang mở mang, sự khao khát đại học lại càng khẩn yếu hơn. Như ở miền Nam Việt Nam này, từ một con số không, nay có 3 đại học công, 4 đại học tư, lại còn một số đại học khác đang trong thời kỳ phôi thai. 

      Nền đại học miền Nam chỉ khởi điểm từ năm 1946. Nếu kể từ năm 1946 tới nay, sĩ số đại học tăng 1.200%, cao đẳng kỹ thuật tăng 1.500%, nhưng ngưỡng cửa đại học cũng còn quá hẹp đối với làn sóng sinh viên cuộn trào từ trung học dâng lên. Đó là một trong những “nguy cơ giáo dục quốc tế”.

      Vì áp lực từ dưới vọng lên nên biện pháp giản dị là mở thêm đại học để thỏa mãn nhu cầu hiếu học. Nhưng cũng như các nước đang vươn mình, nước ta vấp phải vào một trở ngại thứ hai, đó là sự khan hiếm tài lực và nhân lực tối thiểu để thành lập và điều hành một đại học. 

     Lợi tức quốc gia chưa đủ để thi hành giáo dục tiểu học cưỡng bách như Hiến định, cũng như quá thiếu thốn để mở mang trung học đến nỗi 2/3 học sinh phải ghi tên tại các tư thục, đừng nói chi đến đại học là một công trình rất đắt giá.

      Tài chính eo hẹp có thể ít nguy cơ hơn là khuyết điểm nhân sự. Một số đại học tư  đã giải quyết vấn đề tài chánh bằng cách thu học phí cao để thêm vào phần trợ cấp của chính phủ cùng các tài nguyên khác để trang trải chi phí điều hành. Nhưng nhân lực hiện nay là một vấn đề nan giải. Có giảng đường tiện nghi, có phòng thí nghiệm trang bị đầy đủ mà thiếu bộ óc điều khiển thì vô dụng! Bất đắc dĩ, một số giáo sư phải trở thành lưu động để giúp các đại học bạn.

      Khi thành lập một đại học phải định rõ sứ mệnh của nó trong thực tế nào?
Sứ mệnh thông thường của đại học là truyền đạt và bồi đắp sự hiểu biết. Nói một cách khác, hai tác dụng cổ điển của đại học là giảng dạy để mở rộng kiến thức và khảo cứu để tìm hiểu Sự Thật.