Thứ Ba, 3 tháng 11, 2026

QUẢN TRỊ AI:

 ĐÃ ĐẾN LÚC LIÊN HIỆP QUỐC PHẢI THỂ HIỆN VAI TRÒ LÃNH ĐẠO VỀ MÔI TRƯỜNG

Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc cần kết nối các quốc gia và nhà phát triển trí thông minh nhân tạo, AI trong một chương trình nghị sự chung cho hành tinh.


Tác giả: Phạm Phan Long, P.E.

Ngày 3 tháng 11 năm 2026

Nguồn: Asia Sentinel, ngày 3 tháng 11 năm 2026


Lời giới thiệu: Hoa Kỳ và Trung Quốc đang cạnh tranh quyết liệt trong cuộc đua AI nhằm giành lợi thế vượt trội. Nhưng không vì thế mà chúng ta có thể mặc cho cuộc cạnh tranh này dẫn đến những tổn thất và bất công nghiêm trọng đối với xã hội, đồng thời đẩy hành tinh vượt quá những giới hạn an toàn sinh thái.

Vai trò lãnh đạo của UN trong Nghị định thư Montreal là một tiền lệ đáng chú ý. UN đã góp phần đưa các quốc gia ngồi lại với nhau trên cơ sở bằng chứng khoa học và một khuôn khổ chung nhằm từng bước loại bỏ các chất làm suy giảm tầng ozone, mà không tự biến mình thành một cơ quan quản lý toàn cầu. AI đặt ra thách thức địa chính trị phức tạp hơn, nhưng bài học vẫn còn nguyên giá trị: hợp tác quốc tế có thể bắt đầu từ những bằng chứng chung, hành động tự nguyện và những lợi ích đã được chứng minh.

Vai trò của UN sẽ là xây dựng một khuôn khổ môi trường chung để đánh giá dấu chân vật chất của AI, trong khi quyền quản lý và điều tiết vẫn thuộc về các chính phủ. Cả Hoa Kỳ lẫn Trung Quốc đều có những lý do thực tế để tham gia: AI phụ thuộc vào điện năng, nước, khoáng sản và cơ sở hạ tầng; trong khi tổn hại môi trường và những hạn chế về tài nguyên sẽ gây ra những chi phí thực sự.

UN không thể buộc Hoa Kỳ và Trung Quốc hợp tác, nhưng có thể tạo điều kiện để sự hợp tác trở nên thiết thực và mang lại lợi ích cho cả hai bên. Các quốc gia và thể chế khác cũng có thể góp phần thúc đẩy những giải pháp khả thi, tạo động lực để ngày càng nhiều bên tham gia. Mục tiêu không phải là kiểm soát AI, mà là xây dựng một chiếc la bàn thể chế cần thiết để định hướng sự phát triển của công nghệ này trong giới hạn môi trường của hành tinh.

 





Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc (UNEP) cần kết nối các quốc gia và nhà phát triển AI trong một chương trình nghị sự chung về môi trường toàn cầu, gắn kết các mục tiêu chung với những tiêu chuẩn có thể so sánh, cơ chế báo cáo minh bạch và trách nhiệm giải trình xuyên suốt toàn bộ vòng đời và dấu chân môi trường của AI. Các đánh giá tại địa phương phải chuyển hóa những cam kết này thành các quyết định phản ánh đúng điều kiện thực tế. Luật pháp quốc gia vẫn giữ vai trò thiết yếu, nhưng mục tiêu rộng lớn hơn phải là cùng nhau gìn giữ và bảo vệ hành tinh.

AI Governance:

 It’s Time for UN Environmental Leadership

The United Nations Environment Programme should bring nations and AI developers together under a shared planetary agenda.

 

By Pham Phan Long, P.E.

November 3, 2026

Source: Asia Sentinel November 3, 2026



The United Nations Environment Programme (UNEP) should bring nations and AI developers together under a shared planetary environmental agenda, connecting common goals with comparable standards, transparent reporting and accountability across AI’s full environmental footprint and lifecycle. Local assessments must translate these commitments into decisions that

Public attention has focused on AI’s potential threats to humanity, from misuse and loss of control to risks to security and human rights. Far less attention has been paid to its growing physical footprint: the electricity, water, land and minerals required by AI infrastructure, and the resulting pressures on ecosystems and communities at a time when the planet is already under severe environmental stress.  

Thứ Hai, 2 tháng 11, 2026

Winning in the shadows:

 

Sections
The story of a ‘secret’ annual literary prize in Vietnam

 
The ceremony for the 2017 Văn Việt literary prize. (Supplied)

At the 10th Viet Literature Prize in 2024, which was open to Vietnamese-language writers around the world, a collection of poems by a young poet won the unanimous backing of the five-member jury: literary critic Lý Đợi, writer and Facebooker Thái Hạo, poet Ý Nhi, poet and painter Giáng Vân, and novelist Nguyễn Đức Tùng. The collection was named winner in the poetry category.

Yet unlike the winners in the other categories of that edition (prose, criticism, translation and the chairman’s special award), neither the poet nor the winning collection was revealed.

On the prize’s official website, the organizers said they would announce the winner’s name “at an appropriate time.”

Two years on, the author and the poems remain a mystery to the public.

The secrecy is not without reason. The organizers learned hard lessons early on. The caution dates back to 2018, when a young winner was harassed by police after accepting the prize. In 2022, another young winner was dissuaded by police from attending the award ceremony in Hồ Chí Minh City. On his way to the airport, he was reportedly beaten by strangers in front of police officers, for no apparent reason, and missed his flight and the ceremony. Since then, the organizers have decided to withhold the names of young winners who are living inside Vietnam to keep them safe.

“To avoid disadvantaging talented writers, and to avoid leaving gaps in the prize’s record, the award-winning authors whose names are being temporarily withheld will be announced by Văn Việt at an ‘appropriate time,’” says Nguyễn Viện, a writer based in Hồ Chí Minh City and a member of the jury of the poetry category.

The prize was officially launched in 2016 by the Independent Writers Club, or Văn Việt for short, a collective established in 2014 by 61 intellectuals led by the eminent writer Nguyên Ngọc, a former colonel and former deputy of the National Assembly. It has never received recognition from the Vietnamese government.

Despite the constitutionally guaranteed freedom of association, Vietnam does not allow fully independent nongovernment organization. While the motto “Independence — Freedom — Happiness” has headed Vietnam’s official documents since 1945, the government grows wary of “independence” when anyone outside the state claims it. A legally recognized collective must be affiliated with a state agency and, once approved, needs permission for every single project. Yet Nguyên Ngọc and his colleagues have refused to compromise their autonomy, undeterred by shrinking civil liberties. They have founded the collective without registration, published banned books on their own website, brought politically sensitive news stories to public attention, raised their own funds, held annual awards and connected with Vietnamese-language writers and enthusiasts overseas. Staying unauthorized, however, does not mean enjoying unfettered freedom. Despite risks, the group continues its work true to their slogan, “for a free and humane Vietnamese literature,” to prevent literary talents from fading into oblivion. 

Chiến thắng trong bóng tối

Câu chuyện về một giải thưởng văn học thường niên ‘bí mật’ tại Việt Nam

Hướng Thiện, Mekong Indepentdent 1.11.2026

Văn Việt dịch và chú thích,  Thứ Ba, 3 tháng 11, 2026


Trao Giải Văn Việt năm 2017

Tại Giải thưởng Văn học Việt lần thứ 10 vào năm 2024 – giải thưởng mở cửa cho các cây bút tiếng Việt trên toàn thế giới – một chùm thơ của một nhà thơ trẻ đã giành được sự ủng hộ tuyệt đối từ hội đồng xét giải 5 thành viên: nhà phê bình văn học Lý Đợi, nhà văn kiêm người dùng Facebook Thái Hạo, nhà thơ Ý Nhi, nhà thơ kiêm họa sĩ Giáng Vân, và tiểu thuyết gia Nguyễn Đức Tùng. Chùm thơ này đã được đoạt giải ở hạng mục thơ ca.

Tuy nhiên, không giống như những người chiến thắng ở các hạng mục khác trong năm đó (văn xuôi, phê bình, dịch thuật và giải thưởng đặc biệt của chủ tịch), cả tác giả lẫn tập thơ đoạt giải đều không được tiết lộ.

Trên trang web chính thức của giải thưởng, ban tổ chức cho biết họ sẽ công bố tên người chiến thắng “vào thời điểm thích hợp”.

Hai năm trôi qua, tác giả và những bài thơ ấy vẫn là một bí ẩn đối với công chúng.

Sự che giấu này không phải là không có lý do. Ban tổ chức đã rút ra những bài học xương máu từ sớm. Sự thận trọng bắt đầu từ năm 2018, khi một nhà văn trẻ đoạt giải bị công an quấy rối sau khi nhận giải. Đến năm 2022, một người chiến thắng trẻ tuổi khác đã bị công an khuyên không tham dự lễ trao giải tại Thành phố Hồ Chí Minh. Trên đường ra sân bay, anh được cho là đã bị những kẻ lạ mặt hành hung không vì lý do gì rõ ràng ngay trước mặt công an, khiến anh lỡ chuyến bay và bỏ lỡ lễ trao giải. Kể từ đó, ban tổ chức quyết định giữ kín tên của những người đoạt giải trẻ tuổi[1] đang sống trong nước để giữ an toàn cho họ. 

THE NEW CLASS AND RED CRONY CAPITALISM

 From Milovan Djilas (1957) to Vietnam (2026)

 

Cover of Milovan Djilas’s The New Class: An Analysis of the Communist System, first published in 1957. Shown here is the Harcourt/HBJ American edition.

 

Ngo The Vinh

Essay | October 31, 2026

ABSTRACT

 

This essay examines the emergence of politically and economically privileged strata in Vietnam through the theoretical lens of Milovan Djilas’s The New Class (1957), against the backdrop of the transition from a centrally planned economy to a market economy following the Đổi Mới economic reforms of 1986.

Drawing on scholarship on Vietnam’s political economy and data on economic growth, income distribution, and wealth concentration, the essay analyzes the contrast between economic development and the unequal distribution of its benefits. It also emphasizes that economic inequality, by itself, is insufficient to establish the existence or influence of a politically privileged class.

On this basis, the essay explores the relationship between public authority and private interests, particularly the phenomenon of red crony capitalism, while raising questions about institutional transparency and accountability in Vietnam’s economic development.

 

KEYWORDS

 

New Class; Milovan Djilas; Red Crony Capitalism; Vietnam; Đổi Mới (Economic Reforms); Political Power and Economic Interests; Wealth Inequality; Accountability.

 

INTRODUCTION

 

In The New Class: An Analysis of the Communist System (1957), Milovan Djilas, a former Yugoslav communist leader, identified a fundamental paradox: a system committed to building a classless society could nevertheless produce a new privileged stratum that monopolized political authority and controlled economic resources.

Nearly seven decades later, Vietnam presents a question worthy of investigation: after forty years of Đổi Mới (1986–2026), does the concentration of political power, together with privileged access to land, public assets, and economic opportunities, reflect the emergence of a stratum sharing characteristics of the New Class described by Djilas?

Answering this question requires moving beyond political assertions and relying on verifiable evidence and political-economic research. The central issue is not merely who owns assets, but who has the authority to allocate national resources, who benefits from those decisions, and what mechanisms ensure transparency and public accountability.

This is also a book I read more than once during my early university years, a period of youthful aspirations and questions about society’s future.

 

The photograph accompanying “Hoover Acquires Milovan Djilas Literary Archives” shows Milovan Djilas (1911–1995), author of The New Class, on the left, and William “Bill” Jovanovich (1920–2001), Djilas’s friend and the publisher at Harcourt Brace Jovanovich, on the right. Taken at Princeton University in spring 1968; courtesy of Aleksa Djilas, historian and son of Milovan Djilas. 

Thứ Sáu, 30 tháng 10, 2026

GIAI CẤP MỚI VÀ TƯ BẢN ĐỎ

  

Từ Milovan Djilas (1957) đến Việt Nam (2026) 

 

Bìa sách The New Class: An Analysis of the Communist System (Giai Cấp Mới: Phân Tích Hệ Thống Cộng Sản) của Milovan Djilas, xuất bản lần đầu năm 1957. Hình trên là ấn bản của Harcourt/HBJ, Hoa Kỳ.


Ngô Thế Vinh 

Tiểu luận | 31 Tháng 10 năm 2026

 

TÓM TẮT / ABSTRACT

Bài viết khảo sát sự hình thành tầng lớp đặc quyền chính trị và kinh tế tại Việt Nam dưới góc nhìn lý thuyết Giai cấp mới (The New Class, 1957) của Milovan Djilas, trong bối cảnh chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường sau Đổi Mới năm 1986.

Dựa trên các công trình nghiên cứu về kinh tế chính trị Việt Nam, cùng những số liệu về tăng trưởng, phân phối thu nhập và tập trung tài sản, bài viết phân tích sự tương phản giữa thành tựu phát triển kinh tế và tình trạng phân phối không đồng đều những thành quả ấy. Đồng thời, bài viết nhấn mạnh rằng bất bình đẳng kinh tế, tự nó, chưa đủ để chứng minh sự tồn tại hoặc tác động của một giai cấp đặc quyền chính trị.

Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát mối quan hệ giữa quyền lực công và lợi ích tư, đặc biệt qua hiện tượng tư bản đỏ bè cánh (red crony capitalism), đồng thời đặt ra những vấn đề về tính minh bạch thể chế và trách nhiệm giải trình trong tiến trình phát triển kinh tế Việt Nam.

 

TỪ KHÓA / KEYWORDS

Giai cấp mới (New Class); Milovan Djilas; Tư bản đỏ bè cánh (Red Crony Capitalism); Việt Nam (Vietnam); Đổi Mới (Economic Reforms); Quyền lực chính trị và lợi ích kinh tế (Political Power and Economic Interests); Bất bình đẳng tài sản (Wealth Inequality); Trách nhiệm giải trình (Accountability).

 

LỜI DẪN NHẬP

Trong The New Class: An Analysis of the Communist System (1957), Milovan Djilas, cựu lãnh đạo cộng sản Nam Tư, đã chỉ ra một nghịch lý căn bản: một hệ thống chủ trương xây dựng xã hội không giai cấp vẫn có thể sản sinh một tầng lớp đặc quyền mới, nắm giữ quyền lực chính trị và chi phối các nguồn lực kinh tế.

Gần bảy thập niên sau, thực tế Việt Nam đặt ra một câu hỏi đáng khảo sát: sau bốn mươi năm Đổi Mới (1986–2026), liệu sự tập trung quyền lực chính trị, cùng những đặc quyền trong tiếp cận đất đai, tài sản công và cơ hội kinh tế, có phản ánh sự hình thành một tầng lớp mang những đặc điểm của Giai cấp mới mà Djilas từng mô tả?

Để trả lời, cần vượt ra ngoài những nhận định mang tính chính trị, dựa trên các chứng cứ thực tế và những nghiên cứu kinh tế chính trị có thể kiểm chứng. Vấn đề cốt lõi không chỉ là ai nắm giữ tài sản, mà còn là ai có quyền quyết định việc phân bổ nguồn lực quốc gia, ai được hưởng lợi từ những quyết định ấy, và những cơ chế nào bảo đảm tính minh bạch cùng trách nhiệm giải trình trước xã hội.

Đây cũng là một cuốn sách mà người viết đã hơn một lần đọc trong những năm đầu đại học, giữa một thời tuổi trẻ nhiều khát vọng và những câu hỏi về tương lai xã hội.

*



Bức ảnh trong bài 
“Hoover Acquires Milovan Djilas Literary Archives” có hai nhân vật, bên trái: Milovan Djilas (1911–1995), tác giả The New Class, bên phải: William “Bill” Jovanovich (1920–2001), người bạn của Djilas, nhà xuất bản Harcourt Brace Jovanovich. Ảnh chụp tại Princeton University, mùa xuân năm 1968, do Aleksa Djilas, sử gia và cũng là con trai của Milovan Djilas, cung cấp.

*

MILOVAN DJILAS: TIỂU SỬ TÓM LƯỢC

Milovan Djilas (12/6/1911 – 20/4/1995) là nhà cách mạng, chính khách, nhà văn và nhà tư tưởng chính trị người Nam Tư, sinh tại Montenegro. Ông từng thuộc nhóm bốn lãnh đạo cao cấp nhất của Đảng Cộng sản Nam Tư, bên cạnh Josip Broz Tito, Edvard Kardelj và Aleksandar Ranković, trước khi trở thành một trong những nhân vật bất đồng chính kiến nổi bật của thế giới cộng sản thời Chiến tranh Lạnh.

Gia nhập Đảng Cộng sản Nam Tư năm 1932, Djilas tham gia phong trào kháng chiến chống phát xít trong Thế chiến thứ hai và trở thành cộng sự thân cận của Tito. Sau chiến tranh, ông giữ nhiều chức vụ quan trọng, trong đó có Chủ tịch Quốc hội Nam Tư (1953–1954).

Từ đầu thập niên 1950, Djilas ngày càng bất đồng với giới lãnh đạo cộng sản. Những bài viết năm 1953–1954 phê phán đặc quyền của tầng lớp cầm quyền và đề nghị mở rộng tự do chính trị đã dẫn đến việc ông bị loại khỏi ban lãnh đạo năm 1954.

Năm 1957, tác phẩm nổi tiếng nhất của ông, The New Class: An Analysis of the Communist System (Giai cấp mới: Phân tích hệ thống cộng sản), được xuất bản tại Hoa Kỳ. Cuốn sách đánh dấu bước chuyển quan trọng của Djilas từ một nhà lãnh đạo cộng sản trở thành một nhà phê bình có ảnh hưởng lớn đối với chính hệ thống mà ông từng góp phần xây dựng.

Trải qua nhiều đợt tù đày, với tổng thời gian bị giam giữ khoảng chín năm, Djilas được trả tự do năm 1966. Ông tiếp tục viết và phê phán chế độ độc đảng cho đến cuối đời. Ông mất tại Belgrade ngày 20/4/1995, hưởng thọ 83 tuổi.

 

I. MILOVAN DJILAS VÀ KHÁI NIỆM GIAI CẤP MỚI 

Cuốn sách đã gây tiếng vang lớn, không chỉ vì những luận điểm phê bình hệ thống chính trị cộng sản, mà còn vì tác giả từng giữ vị trí quan trọng ngay trong cơ cấu lãnh đạo của hệ thống ấy. 

Djilas đặt ra một câu hỏi căn bản: nếu một cuộc cách mạng chủ trương xóa bỏ sự phân chia giai cấp, vì sao sau khi giành được chính quyền lại có thể hình thành một tầng lớp được hưởng những ưu thế đặc biệt về chính trị, kinh tế và đời sống? Câu hỏi ấy vẫn còn sức gợi mở khi nhìn lại bốn mươi năm Đổi Mới, bắt đầu từ năm 1986 tại Việt Nam, nơi nền kinh tế thị trường phát triển trong khuôn khổ một hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. 

Nam Tư thời Djilas là một hệ thống xã hội chủ nghĩa với nền kinh tế chủ yếu do nhà nước quản lý. Việt Nam ngày nay đã có một khu vực kinh tế tư nhân, đầu tư quốc tế, thị trường tài chính và sự xuất hiện những doanh nghiệp lớn. Chính trong bối cảnh ấy, câu hỏi đặt ra là liệu có đang hình thành một tầng lớp có ưu thế đặc biệt nhờ sự kết hợp giữa quyền lực chính trị và khả năng tiếp cận các nguồn lực kinh tế. 

Khi Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và giữ vai trò quyết định trong phân bổ nhiều nguồn lực quan trọng, vấn đề minh bạch và trách nhiệm giải trình càng cần được quan tâm: ai thực sự có quyền quyết định, ai được hưởng lợi và những cơ chế nào có thể bảo đảm sự công bằng? 

Luận điểm chính của Djilas là trong một hệ thống cộng sản, tầng lớp quan chức đảng và nhà nước có thể trở thành một giai cấp nắm quyền chi phối, dù trên danh nghĩa không sở hữu nhà máy hay ruộng đất theo cách của các nhà tư bản cổ điển. Quyền sở hữu pháp lý thuộc về nhà nước, nhưng quyền bổ nhiệm, điều hành, phân phối và sử dụng tài nguyên lại tập trung vào những người có vị trí trong bộ máy quyền lực. 

 

Djilas đặc biệt chú ý đến khoảng cách giữa lý tưởng bình đẳng được tuyên bố và những ưu đãi trong thực tế dành cho người giữ chức vụ trong hệ thống chính trị. Ông không chỉ bàn về tiền bạc. Nhà ở, phương tiện đi lại, cơ hội học hành, điều kiện chăm sóc sức khỏe, khả năng thăng tiến của con cái, quyền tiếp cận thông tin và những ưu thế khác đều có thể trở thành biểu hiện của địa vị xã hội. 

 

Những ưu thế ấy không nhất thiết được ghi nhận thành quyền sở hữu cá nhân. Chúng có thể tồn tại thông qua một hệ thống phân phối dựa trên chức vụ, quan hệ và sự trung thành chính trị. Một đóng góp quan trọng của Djilas là giúp người đọc phân biệt ba vấn đề: tài sản đứng tên ai; ai thực sự quyết định việc sử dụng tài sản; và cuối cùng, ai được hưởng lợi từ những quyết định đó. Một tài sản được xác định là thuộc sở hữu toàn dân vẫn có thể được sử dụng theo hướng ưu tiên lợi ích của một nhóm nhỏ nếu thiếu những cơ chế kiểm tra độc lập, tính minh bạch và trách nhiệm giải trình (transparency and accountability).

 

Bài viết không chủ trương đồng nhất tầng lớp lãnh đạo chính trị Việt Nam hiện nay với mô hình giai cấp mới của Djilas năm 1957. Tuy nhiên, những đặc quyền trong việc kiểm soát và phân bổ nguồn lực kinh tế, cùng các trường hợp lạm dụng quyền lực đã được xét xử, cho thấy những cơ chế đáng khảo sát về sự chuyển hóa quyền lực chính trị thành lợi ích kinh tế. Vấn đề đặt ra không chỉ là sự tồn tại của những cá nhân tham nhũng, mà còn là liệu những điều kiện thể chế có tạo thuận lợi cho sự hình thành và duy trì một tầng lớp đặc quyền kinh tế hay không. 

Thứ Năm, 29 tháng 10, 2026

Viện bảo tàng người Việt tại Melbourne Úc châu

 

Điều nhiều bạn trẻ 

có thể chưa biết về những năm sau 1975



NGUYỄN VĂN TUẤN 

Hôm nay lViện Bảo Tàng Người Việt Tự Do Úc Châu (Vietnamese Museum Australia) tại Melbourne đã chính thức khánh thành vào Thứ Bảy, ngày 17 tháng 10 năm 2026, Người Việt ở đây đã trông chờ vào một viện bảo tàng như thế này lâu lắm rồi, và nay thành hiện thực.

Đây là viện bảo tàng đầu tiên tại Úc để kể lại những câu chuyện của người tị nạn Việt Nam tại Úc. Thiết kế Viện bảo tàng, theo tôi, là tinh tế. Nó phản ảnh 4 biểu tượng: sóng biển, đất đỏ, tre Việt Nam, và bọc trăm trứng.

Nhân dịp này, tôi muốn chia sẻ một phần lịch sử mà nhiều bạn trẻ, cả ở hải ngoại lẫn trong nước, chưa từng được nghe đầy đủ.


Viện bảo tàng người Việt tại Úc (Vietnamese Museum Australia hay VMA) khánh thành ngày 17/10/2026. Đây là một giấc mơ của người Việt tại Úc thành sự thật. Công trình này tốn hơn 20 triệu đôla. Thiết kế phản ảnh 4 ý: (1) Sóng biển (Towering Waves): Tượng trưng cho hành trình vượt biển, những hiểm nguy, mất mát và hi vọng tìm đến tự do. Những đường nét uốn lượn trong kiến trúc gợi lại hình ảnh sóng biển. (2) Đất đỏ Úc: Những sắc đỏ nâu và màu đất ấm tượng trưng cho nước Úc, vùng đất đã đón nhận người Việt tị nạn và mở ra một cuộc sống mới. (3) Tre Việt Nam: Hình ảnh tre được thể hiện qua các yếu tố mặt đứng, gợi lên quê hương, sức chịu đựng, tinh thần đoàn kết và khả năng thích nghi của người Việt. (4) Bọc trăm trứng: Lấy cảm hứng từ truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ, được thể hiện như một chiếc vương miện vàng trên đỉnh công trình, tượng trưng cho nguồn gốc chung và sự đoàn kết của cộng đồng Việt Nam.

Bảo tàng này không chỉ dành cho thế hệ đã ra đi. Nó dành cho con cháu chúng ta, để các em biết cha ông mình đã đến Úc trong hoàn cảnh nào, đã vượt qua những khó khăn ra sao, và đã đóng góp gì cho đất nước đã dang tay đón nhận mình.


Chuyện gì đã xảy ra

Cuộc chiến 2 thập niên kết thúc vào cuối tháng Tư năm 1975.

Từ năm 1975 đến giữa thập niên 1990, hơn 1 triệu người đã rời Việt Nam. Khoảng 800.000 người ra đi bằng đường biển, và số còn lại đi bằng đường bộ qua Cam Bốt sang Thái Lan.

Số vượt biển, họ đi trên những chiếc ghe đánh cá nhỏ, vốn chỉ đóng cho đi sông hay ven bờ, không phải để vượt đại dương. Thế giới gọi họ là “boat people” hay “thuyền nhân”. Boat People trở thành một thuật ngữ trong các từ điển tiếng Anh.

Tại sao họ ra đi

Phần lớn thuyền nhân ra đi không phải vì lí do kinh tế. Họ ra đi vì bản thân và gia đình bị trù dập vì quá khứ.

Sau năm 1975, hàng trăm ngàn cựu quân nhân, công chức, giáo chức và chức sắc tôn giáo bị đưa vào các trại cải tạo. Nhiều người ở trong đó nhiều năm, có người không bao giờ trở về.

Gia đình họ bị đánh giá theo lí lịch, và con em có lí lịch “không tốt” thường bị từ chối vào đại học hay mất cơ hội việc làm.

Nhiều gia đình bị tịch thu nhà cửa, tài sản hoặc phải đi vùng kinh tế mới.

Trong những năm 1978–79, người Việt gốc Hoa cũng chịu áp lực nặng nề phải rời đi.

Với nhiều bậc cha mẹ, biển cả là một rủi ro khủng khiếp, nhưng ở lại nghĩa là con cái họ không có tương lai.

Cái giá kinh hoàng

Không ai biết chính xác bao nhiêu người đã bỏ mình trên biển Đông. Cao ủy Tị nạn Liên Hợp Quốc (UNHCR) ước tính từ 200,000 đến 400,000 người đã chết trên biển Đông; một số nhà nghiên cứu cho rằng con số còn cao hơn.

Họ chết vì bão tố, vì đói khát, vì những chiếc ghe quá tải bị chìm. Trong vịnh Thái Lan, hải tặc tấn công ghe tị nạn hết lần này đến lần khác, cướp bóc, giết người, bắt cóc phụ nữ và trẻ em gái. Cho đến ngày hôm nay, nhiều gia đình vẫn không biết người thân mình (hàng trăm ngàn người) nằm lại nơi đâu.

Thế giới đã phản ứng ra sao

Tháng 7 năm 1979, Liên Hợp Quốc tổ chức một hội nghị quốc tế tại Geneva. Các quốc gia đồng ý tiếp nhận người tị nạn từ các trại khắp Đông Nam Á.

Sau đó, Chương trình Ra đi có Trật tự (ODP) được thiết lập để mọi người có thể ra đi hợp pháp thay vì liều mạng trên biển. Một thỏa thuận thứ hai năm 1989 khép lại giai đoạn trại tị nạn trong thập niên 1990.

Úc đã tiếp nhận hơn 100,000 người tị nạn Việt Nam trong những năm đó. Chiếc ghe nhỏ đầu tiên cập bến Darwin vào tháng 4 năm 1976. Ngày nay, hơn 250,000 người Úc sanh ra tại Việt Nam hoặc có gốc Việt.

Họ hoà nhập vào xã hội Úc và làm đủ ngành nghề: kĩ sư, bác sĩ, giáo viên, nhà khoa học, thợ lành nghề, chủ doanh nghiệp và nghị sĩ. Họ làm giàu cho Úc bằng nhiều cách khác nhau.