Thứ Sáu, 15 tháng 5, 2026

PHẠM XUÂN HY

Nguyễn Duy Chính


Tôi biết anh Phạm Xuân Hy khá trễ qua sự giới thiệu của anh Đỗ Tiến Đức, báo Thời Luận. Anh Phạm Xuân Hy lớn hơn tôi gần 10 tuổi, lại ở bên Pháp lâu lâu mới qua Mỹ một lần nên tôi không có dịp làm quen.

Trong cộng đồng người VN tại Nam Cali, số người am tường Hán văn không nhiều và phần lớn kín đáo nên chỉ sinh hoạt trong thế giới riêng của mình, ít khi trao đổi với người khác. Thành thử tôi biết anh Đức đã lâu nhưng phải đến khoảng 20 năm sau mới gặp anh Hy trong một dịp anh chị Hy sang Cali thăm thân nhân, bạn bè.

Tuy nhiên chỉ sau lần đầu gặp gỡ chúng tôi đã thân mật như quen biết từ lâu, một phần những người anh chị Hy quen biết thì không ít người tôi cũng đã giao thiệp, phần khác cái đồng cảm là cả tôi lẫn anh Hy đều thích đọc chữ Hán, có những điểm chung về kho tàng Hán văn.

Người Việt Nam nếu đã có chút trình độ thì ít nhiều ham thích cổ văn mà văn chương của mình thì gắn liền với Hán Việt, không cần biết đọc nhưng cũng biết qua các bài thơ nổi tiếng của Trung Hoa và từ đó lại làm quen với những bản dịch của Tản Đà, Nhượng Tống, Bùi Kỷ, Ngô Tất Tố, Vũ Hoàng Chương … và rồi thẩm nhập vào đầu óc lúc nào không biết.

Thế nhưng ít người đi xa hơn trừ những ai đặc biệt mê thích văn chương cổ. Còn những người đi thẳng vào chữ Hán như một tầng văn hóa để bơi lội trong đại dương của người xưa thì muôn người không có một. Thành ra người yêu thích dòng văn hóa Trung Hoa thì luôn luôn cô đơn vì hiếm khi gặp được người cùng sở thích như mình.

Tôi và anh Phạm Xuân Hy không ngừng lại ở chỗ có cùng sở thích mà chúng tôi lại có những điểm chung xa hơn. Nguyên tôi không những thích chữ Hán mà lại còn mày mò vào những khu vực chuyên môn của họ qua các loại sách vở trên phố Tàu. Trước khi gặp anh Hy, tôi lâu lâu cũng tự mình lái xe lên Chinatown rồi lang thang trong các tiệm sách, tiệm buôn của người Tàu tìm mua cổ văn. Sách bán trên Chinatown phần nhiều là loại sách không mấy người mua, ấn bản đã lỗi thời, có lẽ cũng như mấy hàng sách cũ trên đường Lê Lợi mà trước đây tôi hay la cà. Dù thích thú nhưng đi một mình cũng ngại vì từ nhà tôi lên Los phải đến 40 dặm, mà đường trên Los dạo ấy hay kẹt xe, đi đâu phải dùng những tập bản đồ, muốn tìm một nơi mà mình không quen thuộc thì rất mất thì giờ. Thành thử tôi chỉ loanh quanh trong khu vực đường Broadway là nơi có nhiều tiệm sách cũ và mới.

Khi biết anh Phạm Xuân Hy cũng thích đi tìm sách, tôi thường cùng anh lên Los Angeles và Monterey Park vì chỉ có hai nơi đó có một cộng đồng Hoa kiều đông đảo và có các thư điếm. Dưới Orange cũng có một hai tiệm sách của người Trung Hoa nhưng nhỏ hơn thường chỉ bán kèm đồ tạp hóa nên hiếm khi tìm được đề mục mà mình ưa thích. Hai ba mươi năm trước văn hóa đọc còn nhiều chứ đến nay thì ngay cả sách Việt Nam cũng đã vắng bóng, vùng Orange nay chỉ còn tiệm Tự Lực trên đường Brookhurst ở Westminster, bán sách xen lẫn với dược phẩm phụ trội và một số món linh tinh khác. Cách đây hai năm khi một nhà sách nổi tiếng là tiệm Tú Quỳnh thông báo đóng cửa, tôi cũng biết rằng văn hóa đọc nay đang vào hồi tàn lụi, cả mấy trăm ngàn người Việt nhưng số người mua sách không còn bao nhiêu. Qua những buổi ra mắt sách, ngoại trừ hồi ký của những nhân vật nổi tiếng hay nghệ sĩ, ca sĩ còn một số người quan tâm nhưng thực tình mà nói, sách vở nay chỉ có bằng hữu, thân nhân ủng hộ, các thế hệ ít tuổi hơn hầu như không biết đến, một phần họ không có thói quen đọc sách Việt, phần khác họ đã sống trong một môi trường văn hóa hoàn toàn khác với thế hệ của chúng tôi. Đến ngay như những người trong lứa tuổi 60, 70 nay cũng có nhiều thú tiêu khiển khác hợp với sở hiếu hơn việc ngồi đọc sách. Những chiếc lá vàng sau cùng còn sót lại trên cành nay cũng lả tả rơi rụng dần.

Anh Phạm Xuân Hy có trình độ Hán văn rộng hơn tôi vì anh còn biết cả chữ Nôm và chữ giản thể. Anh cũng thích nghiên cứu các loại cổ tích đời xa xưa trong khi tôi chỉ tập trung chủ yếu vào đời Thanh vì đó là thời kỳ liên quan trực tiếp đến đời Tây Sơn. Cũng nhờ anh Hy và tôi chịu khó loanh quanh trên các phố Tàu, tôi mới thấy rằng không thể chỉ hạn chế kiến thức của mình trong vòng sách vở từ Hongkong hay Đài Loan mà sách vở của Trung Hoa lục địa nay càng lúc càng nhiều, bỏ qua các nguồn tài liệu này là tự đóng cửa một khu vực bao la trước nay mình thờ ơ với nó. Muốn đi vào cánh cửa lục địa, việc đầu tiên là tôi phải tìm cách đọc chữ Hán giản thể là loại chữ ít nét hơn nay được dạy cho hàng tỉ người Trung Hoa.

Chữ Hán giản thể thực ra không khó, nếu mình biết được một số cách thức rút gọn của họ thì dễ đoán. Vả lại, một số khá lớn chữ tưởng là giản thể mới của Trung Hoa nhưng cổ nhân đã dùng từ lâu, chỉ cấm dùng trong thi cử, nhưng trong văn bài, tài liệu thì không thiếu. Chính việc biết thêm chữ giản thể lại giúp tôi đọc được nhiều chữ dị thể là những chữ Hán viết khác với tiêu chuẩn chính qui trước đây nay lại được dùng trong cách viết mới.

Chữ Hán chủ yếu có hai dạng thức: văn ngôn và bạch thoại. Bạch thoại là lối văn mới ngày nay người ta dùng nói và viết hàng ngày. Loại văn này tôi cũng khá quen thuộc vì đã từng đọc báo, đọc sách và dịch khá nhiều truyện Kim Dung.



Anh Nguyễn Đắc Điều và anh Phạm Xuân Hy tại Paris (2024)


Văn ngôn là chữ ngày xưa dùng trong văn chương thi cử, khó hơn bạch thoại vì phải biết cách đặt câu của người trước. Văn ngôn thường là các văn bản cổ, loại tài liệu gốc mà tôi dùng khi nghiên cứu. Khó nhất cho việc đọc tài liệu cũ là ngày xưa không chấm câu nên phải tuỳ theo mạch văn mà đặt dấu ngắt dòng, ngắt sai thì hiểu cũng sai, hoặc không ra ngô ra khoai gì cả.

Một rắc rối nữa là ngày xưa không có chữ thường hay chữ hoa nên không biết chữ nào là tên người, chữ nào là tên đất. Vả lại các cụ hay viết nhanh theo dạng chữ thảo, nếu không quen với cổ văn, cả lối hành văn lẫn lối viết tháu thì cũng khó đoán. Cũng may là ngày xưa có những phép tắc nên tuỳ theo chữ đài (viết lên đầu dòng), chữ huý mà mình biết được việc này liên quan đến nhà vua để dựa vào đó mà suy luận. Chế độ ngày xưa đặt nặng lễ nghi, thứ bậc, tên gọi nên nếu chịu khó tìm hiểu cách sắp đặt, ban thứ của hệ thống hành chánh cũng giúp ích rất nhiều. Có điều vì tôi không được ai chỉ dạy nên cái kiểu “vừa làm vừa rút kinh nghiệm” không khỏi mất thì giờ, tốn nhiều công mà kết quả lại rất tuỳ hỉ. Thế nhưng mình chỉ là đứa trẻ chăn trâu đứng nghe lóm ngoài lớp trung tập, đại tập của cụ Nghè thì không thể nào làm khác được.

Theo lời khuyên của anh Trần Văn Chánh tôi đọc thêm về ngữ pháp Trung Hoa. Cuốn sách đầu tiên tôi đọc đến là cuốn Văn Pháp Chữ Hán của cụ Phạm Tất Đắc (Hà Nội: KHXH, 1996). Cụ Phạm Tất Đắc theo tôi biết nguyên là một giáo sư Pháp Văn ở miền nam trước năm 1975, tinh thông và uyên bác nhiều ngoại ngữ nên trình bày rất đầy đủ vì cụ đối chiếu văn pháp Âu Tây với Đông phương. Tiếc rằng sở học của tôi có giới hạn nên chẳng học được bao nhiêu.

Về sau anh Chánh cũng có tặng cho tôi thêm mấy cuốn sách khác do anh viết, nhờ đó tôi cũng thu thập được ít nhiều.




Lịch Triều Tập Kỷ (Ngô Cao Lãng)
(có đóng dấu của anh Phạm Xuân Hy)


Khi biết tôi tập trung nghiên cứu khoảng cuối Lê đầu Nguyễn, anh Hy có tặng cho tôi một số văn bản mà trước đây anh chụp được từ thư viện Viễn Đông Bác Cổ. Việc tìm kiếm tài liệu từ đó mở ra một hướng mới có nguyên tắc hơn vì nhờ một người bạn Đài Loan cùng làm việc trong City of Irvine, tôi liên lạc và đặt mua được nhiều bộ sách qua Tam Dân Thư Điếm ở Đài Bắc. Những biên khảo đầu tiên của tôi về thời Tây Sơn cũng là từ cuốn Thanh Cao Tông Thập Toàn Võ Công Nghiên Cứu (Trang Cát Phát) mà anh Hy tặng cho tôi.

Về phần trước tác, anh Phạm Xuân Hy viết khá nhiều, phần lớn là những biên khảo văn chương liên quan đến điển tích Trung Hoa ít người biết. Anh cũng dịch nhiều bộ sách chữ Hán và phiên âm chữ Nôm. Việc làm, dù lớn dù nhỏ anh Hy cũng tìm hiểu cho đến nơi đến chốn, đầu sông ngọn nguồn chứ không chỉ chép nhặt qua loa trên mạng, cách biên khảo lạo thảo như người ra chợ mua vài món ăn làm sẵn, bày biện cho vừa mắt là xong.

Anh cũng thực hiện được những bộ từ điển lịch sử Trung Hoa rất đồ sộ mà bình thường phải một nhóm học giả làm chung mới có thể hoàn tất được. Đáng tiếc là sách của anh phần lớn chỉ in giới hạn dành tặng cho bạn bè và thân nhân chứ không mấy khi tìm thấy trong các hiệu sách ở hải ngoại.




Một trong những tác phẩm của anh Phạm Xuân Hy
(tủ sách NDC)

Một người tuổi cao, thư sinh mảnh dẻ như anh mà làm được những công trình qui mô như thế thật hiếm hoi, đòi hỏi tác giả vừa có vốn ngoại ngữ, vừa kiên nhẫn không mệt mỏi. Ở bên ngoài, số người biết chữ Hán không phải là ít nhưng nếu có trước tác cũng thường chỉ tập trung vào một đề tài chứ ít khi đa dạng, thâm sâu như anh Hy. Theo nhận xét riêng của tôi, số người am tường cổ văn đi vào chữ Hán phần nhiều qua văn thơ, không mấy ai đi thẳng vào con đường văn hóa Trung Hoa, là chốn thiên hình vạn trạng dẫu có cả đời cũng không đến đâu. Chính vì thế, lắm người có thể thuộc thơ làu làu nhưng lại không thể đọc một bài trên tạp chí hay một tờ quảng cáo.

Anh Hy quen biết rất rộng, hầu hết những người trong giới văn chương, chính trị ở hải ngoại đều đã từng giao thiệp, không phải mới đây mà từ hồi mới di cư vào nam, còn sống chung trong trại học sinh di cư Phú Thọ ở góc chợ Thiếc, cạnh trường đua. Số nhân sĩ ấy ở Paris cũng nhiều nay đều luống tuổi, chỉ còn lác đác dăm ba người. Số người ở bên Mỹ thì đông hơn nhưng những năm gần đây cũng rơi rụng, chẳng còn bao nhiêu.

Trước đây, khi còn khỏe, hàng năm anh chị Hy luôn luôn sang Mỹ nên chúng tôi mỗi năm đều có dịp gặp nhau, trao đổi văn chương, tìm tòi sách vở. Chúng tôi thường lên phố Tàu, lần mò trong những tiệm sách cũ, ít người mua nhưng lại phù hợp với nhu cầu của chúng tôi. Những ngày tháng rong ruổi ấy là kỷ niệm khó quên và lần nào hai người chúng tôi cũng tìm được một số sách báo hợp với sở thích, hợp với túi tiền. Tôi mua được nhiều bộ sử Trung Hoa lớn, các loại sử triều đại còn anh Hy thường quan tâm đến các loại Từ Điển, ngữ pháp, văn tự, kiến trúc nên anh viết gì cũng có cơ sở vì từ điển thường cung cấp cho chúng ta những chi tiết căn bản nhất.

Có thể nói hầu hết các tiệm sách Tàu ở Nam Cali chúng tôi đều đã ghé qua, kể cả ở Irvine có một tiệm bán sách mới khá rẻ. Nơi đây anh Hy mua được một bộ Khang Hi tự điển, soạn lại theo lối ngày nay mà anh vẫn thường nói với tôi rằng giúp anh rất nhiều khi tìm chữ. Anh Hy và tôi thỉnh thoảng cũng lên Orange (City) là nơi tôi làm lúc mới sang, nơi đây có một phố bán đồ cũ, nói một cách bình dân thì là đồ lạc xoong. Thế nhưng giá cả cũng không rẻ nếu tìm được món mình thích. Có điều từ khi người Á châu sang ở đông trong vùng Nam Cali, hàng vừa mắt không còn mấy vì người ta mua cả rồi, có đi lang thang cũng là để hoài vọng một khung cảnh mình quen thuộc khi còn bé, một cái bàn là than, một cái đồng hồ báo thức, một cái khoan tay ... Nhìn lại một số món đồ nay ít ai còn nhớ cũng gợi nhiều kỷ niệm.




Một tác phẩm đồ sộ của anh Phạm Xuân Hy (2 volumes, 1016 tr.)

Năm ngoái, chị Hy qua đời sau một tai nạn nên hiện anh anh Hy sống cô đơn. Tuy con cháu ở gần qua lại chăm sóc nhưng anh luôn luôn nuối tiếc thuở còn khoẻ hai anh chị hàng năm sang Mỹ thăm thân nhân để chúng tôi có dịp gặp nhau. Thế nhưng vào lúc này thì các tiệm sách Tàu cũng đã đóng cửa nên nếu anh sang được thì cũng chỉ ôn chuyện cũ chứ không còn những niềm vui thuở nào.

Nguyễn Duy Chính

Tháng 4-2025

Thứ Bảy, 9 tháng 5, 2026

Ô NHIỄM THẠCH TÍN NGHIÊM TRỌNG- SÔNG MÃ GẦM LÊN KHÚC ĐỘC HÀNH

LGT: Tác giả bài này là 1 kỹ sư địa chất trong nước với kinh nghiệm thực tế nên có thẩm quyền để viết về đề tài nhạy cảm này vì mỗi quan tâm với an ninh nguồn nước cho đồng bào cũng hệ sinh thái của miền Bắc Trung bộ Việt Nam.

Sông Mã không chỉ chảy trong thi ca với "khúc độc hành" bi tráng của đoàn quân Tây Tiến năm xưa. Ngày nay, dòng sông huyền thoại ấy đang thực sự gầm lên trong một cơn bức tử mới: Cơn bức tử từ thạch tín (Arsen). Suốt 10 năm qua, trong khi dư luận mải mê với những thị phi phù phiếm, thì hàng triệu lít hóa chất từ các mỏ đất hiếm tại vùng "đất cũ" Trấn Biên đã và đang âm thầm nhuộm độc huyết mạch của dải đất miền Trung. Đây không còn là lời cảnh báo, đây là một thảm họa hiện hữu.

Phạm Thiên Thư: một động hoa vàng, một vết chim bay

 NGUYỄN VĂN TUẤN 

Sự ra đi của thi sĩ Phạm Thiên Thư ở tuổi 86 khép lại một đời thơ tài hoa, nơi đạo và đời, tình yêu và vô thường, mộng và thực luôn quyện vào nhau.

Các tư liệu ghi rằng ông tên thật là Phạm Kim Long, sanh năm 1940 tại Hải Phòng, rồi vào miền Nam định cư từ thuở thiếu niên. Năm 24 tuổi, ông vào chùa tu học và trở thành tu sĩ. Gần mười năm sau, ông hoàn tục, sống đời cư sĩ.

Ông để lại cho đời rất rất nhiều câu thơ. Theo Nhà văn Võ Phiến thì ông đã viết “ngót chục vạn câu thơ”. Nói theo tiếng Anh, ông là người prolific. Làm sao ông có thể viết nhiều thơ đến như vậy? Trong một lần trả lời phỏng vấn trên tạp chí Bách Khoa, ông cho biết là có 3 yếu tố giúp ông sáng tác: thiên nhiên, tĩnh lặng, và quán cà phê. Có lẽ chính vì thế mà sau 1975 ông mở quán cà phê Hoa Vàng?

Hành trình sống của ông đã góp phần làm nên phong cách thơ rất riêng của Phạm Thiên Thư: đạo và đời quyện vào nhau, tình yêu và vô thường soi chiếu lẫn nhau. Ông đã thi hóa kinh Pháp Cú bằng thể lục bát, chuyển một bộ kinh vốn không dễ hiểu thành những câu thơ thuần Việt, dung dị, gần gũi với tâm hồn người đọc.

Nguyễn Du có Đoạn Trường Tân Thanh. Phạm Thiên Thư có Đoạn Trường Vô Thanh [1], một công trình trường thi mà ngày nay có lẽ không còn được nhắc đến nhiều như trước. Tác phẩm gồm 3290 câu lục bát, được xem như một tập Hậu Truyện Kiều, ra mắt năm 1969. Vài năm sau, vào năm 1973, tác phẩm được trao giải thưởng văn học toàn quốc. Chỉ cần đọc vài câu mở đầu cũng thấy được phong vị thơ của ông:

Lòng như bát ngát mây xanh

Thân như sương tụ trên cành Đông mai

Cuộc đời – chớp loé, mưa bay

Càng đi, càng thấy dặm dài nỗi không

Thân Tâm Bệnh – nghiệp trần hồng

Lênh đênh trầm nguyệt, bềnh bồng phù vân

Giam trong Tài, Mệnh, Giả, Chân

Trăm năm hồ dễ một lần bay cao

Đau lòng chuốt tiếng đàn nao

Năm cung nước chảy lại chao phận mình

Đời Kiều trải mấy nhục vinh

Ngã, Nhân đã vượt, thế tình đã qua

Đoạn Trường sổ gói tên Hoa

Xưa là Giọt Lệ – nay là Hạt Châu

Tác giả mượn thể thơ lục bát và Truyện Kiều để nói chuyện vô thường, nghiệp, thân phận và giải thoát. Cái hay là ngôn ngữ rất Việt, nhưng bên dưới lại có chiều sâu Phật học. Những câu thơ đi từ thân phận mong manh đến ý thức vô thường, rồi từ nỗi lênh đênh của kiếp người đến khát vọng vượt thoát. Không có giảng đạo trực tiếp. Tác giả để đạo lí thấm vào hình ảnh: mây xanh, giọt sương, chớp loé, mưa bay, trăng chìm, mây nổi. Vì vậy thơ ông có vẻ rất nhẹ, nhưng đọc kĩ lại thấy rất sâu. 

Thứ Tư, 6 tháng 5, 2026

Bắc Trung Việt: Vùng hứng chịu ô nhiễm arsenic xuyên biên giới nặng nhất từ các mỏ đất hiếm Đông Nam Á

Phạm Phan Long

Tôi đã trình bày trên Tiếng Dân và nhiều diễn đàn trực tuyến về niềm lo ngại về các mỏ đất hiếm bên Lào thải ra những chất độc đe dọa an ninh nguồn nước cho 10 triệu dân cư và hệ sinh thái của 3 dòng sông, sông Mã, sông Chu, và sông Lam ở Việt Nam. Tạp chí chuyên đề về môi sinh Mongabay  cũng đã giúp công bố bài báo tôi viết về mối quan tâm này để cộng đồng quốc tế chú ý.

Tôi không thể ngừng lại vì xét thấy thêm là lưu vực 3 sông Mã, sông Chu, và sông Lam của Việt Nam là vùng sẽ hứng chịu ô nhiễm nặng nề nhất Đông Nam Á. Việt Nam tuy nằm dưới vài chục mở từ Lào nhưng sẽ hứng chịu nguy hiểm nặng nề hơn Thái Lan, Lào, và Cam Bốt mặc dù những nước này nằm dưới hàng ngàn mỏ từ Miến Điện.Ba dòng sông Mã, sông Chu , và sông Lam tại miền Trung Việt Nam không được quốc tế chú ý nhiều vì về địa lý chỉ là mảnh ghép nhỏ trong bức tranh toàn cảnh về việc khai thác đất hiếm trên toàn khu vực Đông Nam Á. Trên thực tế cho đến nay tôi vẫn chưa tìm thấy một báo cáo nào về hàm lượng arsenic trong 3 dòng sông này của Việt Nam mặc dù một vụ chất độc bị rò rỉ từ các mỏ đất hiếm tại Houaphanh đã xảy ra từ tháng hai 2024 cho đến nay vẫn  không được quan tâm. 

Vì tìm hiểu thêm tôi đã giật mình khi nhận ra miền Trung Việt Nam có thể lại là vùng cần được quan tâm nhất hơn cả Mekong và Salween vì những yếu tố sau đây:

  1. Myanmar hiện có khoảng 27 mỏ đất hiếm nằm ở thượng lưu sông Salween, tập trung chủ yếu tại điểm nóng Mong Pawk. Trong khi đó, theo bản đồ mới nhất của Trung tâm Stimson, Lào hiện có không ít, 21 mỏ đất hiếm nằm tại vùng thượng nguồn của các sông Mã , Chu, Lam. Do đó Việt Nam cần quan tâm về các dòng sông của mình không kém Thái Lan đã hết sức quan tâm về dòng sông của họ.

  2. Tất cả 21 mỏ ở Lào đều sử dụng quy trình khai thác rất hiếm bằng phương pháp "ngâm chiết tại chỗ" (in-situ leaching) Trung Quốc sử dụng tại Myanmar và Lào, quy trình này được xem là quy trình độc hại nhất khai thác mỏ.

  3. Tổng số lưu lượng của 3 dòng sông trên ở Việt Nam đạt khoảng 41 km³ mỗi năm, so với mức 210 km³ của sông Salween, với lưu lượng ít hơn sẽ làm hàm lượng arsenic trong các dòng sông Việt Nam  cao hơn sông Salween nhiều. Việt Nam do do cần phải quan tâm với các dòng sông của mình nhiều hơn Thái Lan đang quan tâm về dòng sông của họ.

  4. Chiều dài 3 dòng sông của Việt Nam lại ngắn hơn sông Salween do đó arsenic với hàm lượng cao hơn sẽ chảy nhanh hơn xuống tiếp cận dân cư. Việt Nam lại có mật độ dân số cao hơn nhưng có ít thì giờ để đối phó với ô nhiễm từ Lào.

  5. Arsenic là 1 độc tố tích lũy sinh học (bioaccumulative) thầm lặng, có mức độ an toàn tối đa trong nước rất thấp (0,01 kg/liter.) trong khi dân cư lưu vực trực tiếp sự dụng nước sông sinh hoạt và đánh bắt ngư sản để tiêu thụ và làm kế sinh nhai.

Báo cáo mới nhất  cho Thái Lan về sông Salween “Các chuyên gia khuyến cáo dân cư  không tiêu thụ Sinh vật thủy sinh trên sông Salween” vì ốc sên ở đó đã nhiễm độc arsenic trầm trọng từ những mỏ đất hiếm của Miến Điện. Các chuyên gia đã tổ chức diễn đàn và công bố kết quả xét nghiệm vào ngày 3 tháng 5 cho thấy ốc sên Salween bị ô nhiễm kim loại nặng ở mức cao gấp 10-20 lần so với giới hạn an toàn. Các xét nghiệm trước đó cũng đã phát hiện ô nhiễm asen trong nước sông vượt quá ngưỡng tiêu chuẩn.

Tôi không muốn làm người gieo rắc hoang mang, không muốn tai họa xảy ra, nhưng những yếu tố trên và khả năng tác động tích hợp của chúng sẽ có khả năng biến Bắc Trung Việt việc thành vùng hứng chịu ô nhiễm arsenic nặng nề nhất Đông Nam Á.

Thứ Ba, 5 tháng 5, 2026

Giới Thiệu 7 cuốn sách Ngô Thế Vinh trên Việt Messenger _ Thư Viện Việt Nam



Mây Bão (1963), Bóng Đêm (1964), Gió Mùa (1965), Vòng Đai Xanh (1970), Mặt Trận Ở Sài Gòn (1996), Cửu Long Cạn Dòng Biển Đông Dậy Sóng (2000), Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch (2006)

https://vietmessenger.com/books/

https://vietmessenger.com/?search=ng%C3%B4%20th%E1%BA%BF%20vinh





Bóng Đêm
Ngô Thế Vinh
SÔNG MÃ xuất bản 1964Truyện Dài VH Miền Nam Trước 75



CHAPTERS 18 VIEWS 802

Bóng Đêm lẽ ra in trước Mây Bão, Gió Mùa sẽ là tập thứ ba của một thiên tiểu thuyết dài trong đó diễn biến thời gian và câu chuyện hoàn toàn bị xáo trộn, người đọc chỉ còn thấy sự nhầt trí của một khung cảnh và ý hướng người viềt.
Chú chết, về ngay.... Read more



Cửu Long Cạn Dòng Biển Đông Dậy Sóng
Ngô Thế Vinh
VĂN MỚI xuất bản 2009Phi Hư Cấu Sử Địa



CHAPTERS 26 VIEWS 5368

Con sông Mekong như mạch sống đã và đang ngày một gắn bó với tương lai vận mệnh của các quốc gia Đông Nam Á mà Việt Nam lại là quốc gia cuối nguồn. Đã qua rồi thời kỳ hoang dã của con sông dài 4200 cây số chảy qua lãnh thổ của bảy nước - kể cả Tây Tạng, mà ngót một nửa chiều dài là chảy trên lãnh thổ Trung Quốc. ... Read more



Gió Mùa
Ngô Thế Vinh
SÔNG MÃ xuất bản 1965Truyện Dài VH Miền Nam Trước 75

Thứ Hai, 4 tháng 5, 2026

Bản Dịch tiếng Anh: Lĩnh Nam Chích Quái trên Rising Asia _ Eric Henry

 Anh Vinh thân quý,

Hy vọng cuộc sống của Anh đang trôi nổi một cách thật yên lặng và êm đềm.

Thư này là để cho Anh biết là bản dịch Lĩnh Nam Chích Quái của tôi bay giờ đã được xuất bản trên tạp chí Rising Asia: 



Rất thân quý,
Bạn Anh Vinh

Dear Mr. Vinh,

I hope your life is flowing peacefully and gently.

I am writing to let you know that my translation of Lĩnh Nam Chích Quái has now been published in the journal Rising Asia:

http://www.rajraf.org

Warm regards,
Your friend, Eric Henry

https://vietecologypress.blogspot.com/search?q=Eric+Henry 


Rising Asia Journal
Rising Asia Foundation
ISSN 2583-1038
PEER REVIEWED | MULTI-DISCIPLINARY | EASTERN FOCUS

Latest Issue

VOLUME 6, ISSUE 2
(SUMMER) MAY TO AUGUST 2026

ISSUE INFORMATION
  • Editorial Board & Journal Information
  • LETTER FROM THE EDITOR-IN-CHIEF
    HARISH C. MEHTA
    TALES OF PLUCK, MAGIC, AND DYNASTIES
    From Vietnam’s Prehistory To The 14th Century
    HARISH C. MEHTA
  • Support Rising Asia Foundation
  • Note on the Authors
  • Contents

Thứ Hai, 27 tháng 4, 2026

No Farewells To San Francisco _ Ngô Thế Vinh

 Flashback _ 51 Years Later 

 

For Nguyễn Trùng Khánh 

And then came what had been expected.  The day of returning to Vietnam had definitely arrived.  A few weeks ago several people had advised that I stay on.  They said that if I wanted they would even help me escape to Canada.  I had wavered ambivalently between two alternatives.  On the one hand stood the appeal of a new way of life, free and comfortable; on the other, lay the deep longing for my grey-haired mother, for the breeze rustling through a bamboo grove, and for the delicately pungent smell of a bowl of pho, beef noodle soup – an indescribable, tender emotion.  And above all, I was reminded of an utterance from the short dialogue between Doctor Rieux and Rambert in Camus' work The Plague: "There is no shame in preferring happiness, but there may be shame in choosing happiness for oneself alone.”

Ton Kan, The First-Lieutenant Marine M.D., an autobiography (Journal of Vietnamese Physicians in Canada, 1993), pp. 94-9





Seen against a misty background imprinted with the distant Golden Gate Bridge, tourist-packed and passengers spilling over its sides, the cable car announced itself with clinking sounds as it descended a steep hill.  That sight seemed to Phan the hallmark of San Francisco, a sight which had not changed from its image on the postcard sent many years earlier from this refined and beautiful city.  Fifteen years after mailing that postcard, Phan could not believe he had returned to this scenery.  It all felt unreal to him, the unreality having its origins in evoked images of a journey taken during that time long past.