Thứ Ba, 26 tháng 5, 2026

DIỄN VĂN XUẤT TRƯỜNG LỄ TỐT NGHIỆP ĐẦU TIÊN 19.12.1970

SỨ MẠNG ĐẠI HỌC

Viện Đại Học Cần Thơ _ Ngọn Hải Đăng Miền Tây 

GS ĐỖ BÁ KHÊ


      GS Đỗ Bá Khê, là Diễn giả chính đọc bài diễn văn "Xuất Trường" khoá tốt nghiệp đầu tiên 19.12.1970 của Viện Đại Học Cần Thơ, khi ấy ông là Thứ trưởng Bộ Văn Hoá Giáo Dục Việt Nam Cộng Hoà. 
                                                                          

      Ánh Nguyệt, nguyên là luật sư Toà Thượng Thẩm Sài Gòn. Sau 1975, Chị định cư tại Pháp, là phóng viên cho Đài RFI, trong suốt hơn hai thập niên làm việc cho RFI, có thể nói Chị là người có sự hiểu biết sâu rộng và mối quan tâm đặc biệt về con Sông Mekông và Đồng Bằng Sông Cửu Long, qua các bài nhận định và phỏng vấn các học giả và chuyên gia trong lưu vực, trong đó có thể kể "buổi trò chuyện" với GS Đỗ Bá Khê năm 2004, chỉ một năm trước khi ngày GS Khê qua đời. "Sứ Mạng Đại Học" - là một trong số những bài viết, "xưa và nay"  mà GS Đỗ Bá Khê gửi cho PV Ánh Nguyệt trước buổi phỏng vấn để "tỏ tâm tư của thầy."  Trong một tấm carte nhỏ gửi cho tôi, GS Đỗ Bá Khê viết: "Tôi vẫn tin ở tương lai của Đại Học Cần Thơ", và trong đó có cả một chi tiết rất riêng tư thú vị là "Bến Ninh Kiều* là do Anh Hai tôi hình thành khi làm Tỉnh Trưởng tại đó... Mong rồi ra, người viết sẽ tìm lại được phần thu âm buổi trò chuyện của GS Đỗ Bá Khê và phóng viên Ánh Nguyệt, để có thề đi cùng với bài viết này. 

                                                              *   
                                                                   
      Trước cao trào cầu học của thanh niên Việt Nam và sự phát triển mạnh mẽ đại học hiện nay, tôi xin trình bày một vài ý kiến về đại học. Cũng trong một bầu không khí trang nghiêm đầy triển vọng như hôm nay nhưng tại một quốc gia khác, diễn giả có nhận xét rằng:

      “Tại tất cả các quốc gia trên thế giới, cũ hoặc mới, mạnh hay yếu, độc tài hay dân chủ”, ngày nay trường đại học mọc lên để thỏa mãn nhu cầu đại học dường như là vô tận.

      Một cường quốc như Hoa Kỳ có khả năng thâu nhận hơn 43% thanh niên trong tuổi đại học, trung bình mỗi tuần lễ có 1 đại học mọc lên, thế mà cũng không đáp ứng hết nhu cầu. Tại các nước đang mở mang, sự khao khát đại học lại càng khẩn yếu hơn. Như ở miền Nam Việt Nam này, từ một con số không, nay có 3 đại học công, 4 đại học tư, lại còn một số đại học khác đang trong thời kỳ phôi thai. 

      Nền đại học miền Nam chỉ khởi điểm từ năm 1946. Nếu kể từ năm 1946 tới nay, sĩ số đại học tăng 1.200%, cao đẳng kỹ thuật tăng 1.500%, nhưng ngưỡng cửa đại học cũng còn quá hẹp đối với làn sóng sinh viên cuộn trào từ trung học dâng lên. Đó là một trong những “nguy cơ giáo dục quốc tế”.

      Vì áp lực từ dưới vọng lên nên biện pháp giản dị là mở thêm đại học để thỏa mãn nhu cầu hiếu học. Nhưng cũng như các nước đang vươn mình, nước ta vấp phải vào một trở ngại thứ hai, đó là sự khan hiếm tài lực và nhân lực tối thiểu để thành lập và điều hành một đại học. 

     Lợi tức quốc gia chưa đủ để thi hành giáo dục tiểu học cưỡng bách như Hiến định, cũng như quá thiếu thốn để mở mang trung học đến nỗi 2/3 học sinh phải ghi tên tại các tư thục, đừng nói chi đến đại học là một công trình rất đắt giá.

      Tài chính eo hẹp có thể ít nguy cơ hơn là khuyết điểm nhân sự. Một số đại học tư  đã giải quyết vấn đề tài chánh bằng cách thu học phí cao để thêm vào phần trợ cấp của chính phủ cùng các tài nguyên khác để trang trải chi phí điều hành. Nhưng nhân lực hiện nay là một vấn đề nan giải. Có giảng đường tiện nghi, có phòng thí nghiệm trang bị đầy đủ mà thiếu bộ óc điều khiển thì vô dụng! Bất đắc dĩ, một số giáo sư phải trở thành lưu động để giúp các đại học bạn.

      Khi thành lập một đại học phải định rõ sứ mệnh của nó trong thực tế nào?
Sứ mệnh thông thường của đại học là truyền đạt và bồi đắp sự hiểu biết. Nói một cách khác, hai tác dụng cổ điển của đại học là giảng dạy để mở rộng kiến thức và khảo cứu để tìm hiểu Sự Thật. 

Thứ Bảy, 23 tháng 5, 2026

Đổi mới phục hồi Đại học cộng đồng Tiền Giang




                                 [Nguồn ảnh: Hội Ái hữu Petrus Trương Vĩnh Ký, Úc Châu] 


Đỗ Bá Khê 

18 May 1998


      Lời Giới Thiệu: Sau bài “Kỷ Yếu Kỷ Niệm 60 Năm Thành Lập Viện Đại Học Cần Thơ với Viện Trưởng sáng lập là GS Phạm Hoàng Hộ và tiếp nối là GS Viện Trưởng Nguyễn Duy Xuân, tưởng cũng cần nhắc đến một tên tuổi khác là Giáo sư Đỗ Bá Khê [thầy đã từng là dậy tôi môn Vật lý năm Lý Hoá Sinh / PCB], cũng trong "think tank" của Giáo sư Phạm Hoàng Hộ, đến từ Đại học Khoa học Sài Gòn. Và cách đây 56 năm, trong bài diễn văn “xuất trường” khoá tốt nghiệp đầu tiên của Viện Đại Học Cần Thơ, GS Đỗ Bá Khê đã có một tầm nhìn rất xa về vai trò của Viện Đại Học này đối với tương lai vùng Đồng Bằng Châu Thổ:

“Ngày nay (19/12/1970) trong Thời Đại Khoa Học Kỹ Thuật, các tỉnh ĐBSCL đang trông chờ nơi ánh sáng soi đường của Viện Đại Học Cần Thơ và ước mơ một chân trời mới, tô điểm bằng những cành lúa vàng nặng trĩu, những mảnh vườn hoa quả oằn cây, dân cư thơ thới, một cộng đồng trù phú trong một xã hội công bằng.”

      Giáo sư Đỗ Bá Khê cũng là Thứ Trưởng Bộ Giáo Dục VNCH, người khai sinh ra hệ thống Đại học Cộng đồng [ĐHCĐ] tại Miền Nam trước 1975, theo mô hình Community College Concept của Mỹ, với đin hình là Đại học Cộng đồng Tiền Giang thành lập năm 1971 tại Mỹ Tho, tiếp theo là ĐHCĐ Duyên hải tại Nha Trang… nhưng rồi sau 1975, cùng chung số phận của cả một hệ thống giáo dục tốt đẹp Miền Nam bị sụp đổ, mô hình Đại học Cộng đồng cũng đã hoàn toàn bị chế độ mới làm cho biến thể, và mất hết ý nghĩa tâm nguyện ban đầu của người khai sinh sáng lập.                                                                             


                                            thư tay của GS Đỗ Bá Khê 

                                            viết từ Thành phố Concord, California ngày 29.05.2002. 


      Những năm về sau này, cho dù đã phải sống xa quê nhà, nhưng tấm lòng GS Đỗ Bá Khê vẫn cứ luôn đau đáu hướng về “tương lai ĐBSCL, vai trò của Đại Học Cần Thơ và cả một mạng lưới Đại Học Cộng Đồng trong việc Phát triển Giáo dục không chỉ vùng Đồng Bằng Châu Thổ mà trên quy mô của cả nước. GS Đỗ Bá Khê thì nay cũng đã mất.  [tư liệu Ngô Thế Vinh].


*


Đại học cộng đồng được thành lập trước 1975


      Đại học Cộng đồng (ĐHCĐ) Tiền Giang (TG) nằm trong hệ thống ĐHCĐ được thành lập tại Miền Nam năm 1971 với vin tượng hòa bình, trong kế hoạch tái thiết hậu chiến và sau một cuộc nghiên cứu và trình bày sâu rộng trong dân chúng, nhứt là ở địa phương.


      Khởi điểm là một cuộc nghiên cứu vào năm 1969 (giữa lúc hòa đàm diễn ra ở Paris) để kết thúc bằng một luận án tiến sĩ trình tại University of Southern California năm 1970, tựa đề:  The Community Junior College Concept: A Study of Its Relevance to Postwar Reconstruction in Vietnam (Đại học Cộng đồng: Nghiên cứu Sự Phù hợp của Nó với Cuộc Tái thiết Hậu chiến).


      Luận án nầy rất may mắn được sự tán thành của Chánh phủ Việt Nam Cộng hòa, nht là Bộ Giáo dục. Vì quan niệm ĐHCĐ quá mới m, nên được phổ biến rộng rãi qua báo chí, hệ thống truyền thông, và giải thích cặn kẽ tại thủ đô Sài Gòn trong các cuộc hội thảo, như ở Viện Quốc gia Hành chánh, Trường Cao đẳng Quốc phòng, Hội Việt Mỹ, điều trần tại Quốc hội, cùng tại địa phương trong các buổi nói chuyện, như Mỹ Tho, Nha Trang. Tại địa phương, trong thành phần tham dự có rất đông quân nhân, vì một vai trò quan trọng của ĐHCĐ là thực hiện các chương trình cố vấn, giáo dục và huấn nghệ thích nghi với sự giúp đ hằng vạn quân nhân sắp giải ngũ, khi chiến tranh chấm dứt, để trở lại đi sống dân sự cùng với gia đình trong cảnh thái bình mà ai cũng mong mi.

Thứ Ba, 19 tháng 5, 2026

Giới thiệu Kỷ Yếu Kỷ Niệm 60 Năm Thành Lập Viện Đại Học Cần Thơ

KỶ YẾU KỶ NIỆM 60 NĂM THÀNH LẬP

VIỆN ĐẠI HỌC CẦN THƠ (1966-2026)

Photo by Hai Trầu Lương Thư Trung

BAN BIÊN TẬP:
Chủ biên: Hoàng Quốc Trung. Email: quocrungquan1937@gmail.com
Biên tập, trình bày: Trần Bang Thạch. Email: tranbt21@gmail.com

CÁC TÁC GIẢ CÙNG LÀM NÊN KỶ YẾU NÀY:
Dương Huệ Ái – Lê Nhân Ái – Vương Thị Nguyệt Ánh – GS Nguyễn Văn Bá – Vương Cao Biền – Ký giả Vương Đức Bình – Nguyễn Văn Chữ, PhD – Lê Dung – Huỳnh Hữu Hạnh – Phạm Bá Hoa – BS Phạm Văn Hoàng – Nguyễn Thị Huệ – Trương Nhị Kiều – Lê Trúc Khanh – GS Nguyễn Thanh Liêm – LS Cẩm Linh Nguyễn Rogers – Đốc sự Nguyễn Bá Lộc – Phan Lương Minh – Phước Minh Mong – Nguyễn Trung Nam – Trần Minh Ngọc – Võ Ngọc Nguyên – Hồng Phan – Đan Quế Phong – Thanh Phong – N.V.P – GS Nguyễn Trung Quân – Trần Ngọc Sáu – Mrs. Võ Kim Sơn, PhD – Trần Bang Thạch – Huyền Vân Thanh – Lê Nguyên Thắng – Ngày Xưa Trần Thị – Mai Thị Thanh Tùng – Quách Ngọc Thư – Ngọc Nhãn D. Trần – Hai Trầu – Hoàng Quốc Trung – Lê Minh Tươi – Nguyễn Văn Trường – HV – Lê Học Lãnh Vân – BS Ngô Thế Vinh – Triệu Huỳnh Võ

Trò chuyện với nhà thơ Trang Châu

Trần Thị Nguyệt Mai:  Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh?

Trang Châu:  Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi.

Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975.

Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.

Chụp ở Đà Lạt năm 1956-57, khi học tú tài 2 ở lycée Yersin. – Hình bên trái: từ trái sang: Trang Châu  là người thứ 4. – Hình bên phải: Hàng đứng (từ trái sang): Trang Châu  là người thứ 3

Trang Châu  đứng trên tàu Mary của Médecins du Monde đi cứu người vượt biển, năm 1988.

Chủ Nhật, 17 tháng 5, 2026

BA TẤC SEN VÀNG 三寸金蓮

Nguyễn Duy Chính





Lời mở đầu:

Mới đây tiểu bang California đã thông qua một đạo luật cho phép người đàn bà được quyền cho con bú nơi công cộng. Thế nhưng nhiều luật gia vẫn lên tiếng chỉ trích là đạo luật đã xóa đi một nét đặc thù của nền văn minh, nền văn minh Tây phương mà chúng ta đang thấy.

Cứ theo những tài liệu về nghệ thuật và văn hóa, người Âu Châu đã chiêm ngưỡng cái đẹp thân thể từ rất lâu, nhất là bộ ngực người đàn bà. Những pho tượng cổ của Hi Lạp cho thấy là nét đẹp mà họ tôn sùng hai ngàn năm trước đến nay vẫn còn được nhiều người chấp nhận. Tuy nhiên, khi đối chiếu với những dân tộc khác, sự chiêm ngưỡng bộ ngực – để rồi trở thành một thứ cấm kỵ như ngày nay – không mấy phổ thông. Chỉ có 13 trong số 190 dân tộc trên thế giới coi hai trái đào là biểu tượng của dục tính. Chín trong số 13 dân tộc này trọng bộ ngực to, hai dân tộc thích loại vú mướp (pendulous) và hai dân tộc còn lại thì thích bộ ngực vểnh lên. [1]Tuy nhiên, tại nhiều nơi, dù có coi bộ ngực đàn bà là gợi cảm thì cũng vẫn không coi việc cho con bú nơi công cộng là vấn đề vì đó là một bản năng của con người vốn dĩ nguyên thủy là một động vật hữu nhũ. Hơn thế nữa, quan niệm thẩm mỹ và tính dục đổi thay rất nhiều, theo thời đại, theo địa phương. Có nơi coi khuôn mặt là quan trọng, vùng khác lại để ý đến cặp đùi, bàn tay, vòng eo, cổ hay vai. Sự khác biệt về quan niệm đưa đến những dị biệt về văn hóa, cách ứng xử, đối đãi của mỗi dân tộc. Nơi này che đậy thì nơi khác lại phô bày. Cái cấm kỵ ở khu vực này không hẳn đã quan trọng đối với địa phương khác.

Ngay tại Việt Nam, tại nhiều vùng quê miền Bắc cách đây không lâu cũng không coi việc lõa thể là cấm kỵ. Trong một số Hoài Bão Quê Hương của hội cựu SVQGHC gần đây, một cựu sinh viên đã kể rằng khi ông đi dạy học tại một vùng quê miền Bắc, học trò (đã trưởng thành) khỏa thân đứng tắm một cách bình thản và ngạc nhiên khi thấy ông thầy của mình tắm mà lại mặc quần. Trong bài này, chúng tôi đề cập đến một quan niệm về thẩm mỹ và tính dục rất khác biệt với chúng ta và đã ảnh hưởng đến nhiều biến chuyển lịch sử, trực tiếp hay gián tiếp.

Ở bên Tàu, suốt trong hơn một nghìn năm – mãi tới sau thời Dân Quốc mới thôi – lại coi bàn chân phụ nữ là nơi kín đáo và gợi dục nhất trên cơ thể. Một người đàn ông khi đã nắm được chân người đàn bà là coi như hoàn toàn chinh phục và một người đàn bà cho người đàn ông coi bàn chân là đã sẵn sàng hiến dâng tất cả những gì còn lại. Cái cấm kỵ đó quan trọng đến nỗi ngay trong những bức tranh thuộc về Xuân Cung Ðồ (tranh vẽ trai gái ái ân), người đàn bà cũng không mấy khi để lộ hai bàn chân cho dù hoàn toàn lõa thể. Quan niệm về tính dục đã biến thái để trở thành một phong tục tàn ác là tục dùng băng vải bó bàn chân cho nhỏ lại mà cho tới ngày nay vẫn không hiếm những nhà trí thức Trung Hoa bị ám ảnh bởi quan niệm đó.

Trong truyện Ỷ Thiên Ðồ Long Ký của Kim Dung, Trương Vô Kỵ cù gan bàn chân Triệu Mẫn trong một hầm tối để bức bách nàng thả chàng ra. Thế nhưng, ngoài ý nghĩa cụ thể của câu chuyện, còn một nghĩa bóng là một khi cho đàn ông nắm chân, người đàn bà coi như đã thất thân với nam nhân. Từ đó tình yêu nảy nở và cũng là cái động lực khiến nàng Quận Chúa phải bỏ cha, bỏ anh để đi theo một tên “đại ma đầu”, kẻ thù của triều đình và của chính dân tộc Mông Cổ. 

Thứ Bảy, 16 tháng 5, 2026

PHẠM XUÂN HY 1941 - 2026

Nguyễn Duy Chính
                                                


Sinh năm 1941 tại Kẻ Sặt Hải Dương
1954: Di cư vào Nam – Học sinh các trường Văn Hóa, Văn Lang, Hàn Thuyên, Chu Văn An
1962: Công chức Nha Trước Bạ
1979: Định cư tại Pháp và làm việc tại Sở Xã Hội
Nay: Về hưu viết và dịch sách

Cùng một tác giả đã xuất bản:Trước 1975:ĐỨA CON NGƯỜI YÊU (dịch chung với Văn Hòa – Sống Mới Sài Gòn)
Năm 1988:LIÊU TRAI CHÍ DỊ (Nhà xuất bản Văn Hóa Hoa Kỳ)
Năm 1997:HẬU LIÊU TRAI (Nhà xuất bản Văn Hóa Hoa Kỳ)
Năm 2002:THIẾP BẠC MỆNH (Nhà xuất bản Văn Hóa Hoa Kỳ)

Tác phẩm tự xuất bản (rất ít) dưới dạng bản thảo:Năm 2009: THÚY THÚY TRUYỆN
PHÉP DÒNG CHỊ EM MẾN CÂU RÚT ĐỨC CHÚA GIÊ SU

(Phiên âm bản nôm văn xuôi bản khắc năm 1869) Năm 2011: CHIÊU QUÂN TÂN TRUYỆN

(Phiên âm bản nôm khắc năm 1922, truyện thơ của Thanh Tòng Nguyễn Tiến Khang) THÁNH GIÁO YẾU LÝ QUỐC NGỮ

(Phiên âm bản nôm khắc năm 1774 của Pigneau de Béhaine) Năm 2014: TẠP VĂN
Năm 2017:TRUNG QUỐC NIÊN BIỂU (Từ Tần đến nhà Tấn)
Năm 2019:SỔ TAY CHỮ HÁN – Nhân vật và từ ngữ
SỔ TAY NHÂN VẬT TRUNG QUỐC


Anh Phạm Xuân Hy, anh Nguyễn Vinh Quang và Nguyễn Duy Chính
(26-06-2005)

Tôi biết anh Phạm Xuân Hy khá trễ qua sự giới thiệu của anh Đỗ Tiến Đức, báo Thời Luận. Anh Phạm Xuân Hy lớn hơn tôi 6 tuổi, lại ở bên Pháp lâu lâu mới qua Mỹ một lần nên tôi không có dịp làm quen.

Trong cộng đồng người VN tại Nam Cali, số người am tường Hán văn không nhiều và phần lớn kín đáo chỉ sinh hoạt trong thế giới riêng của mình, ít khi trao đổi với người khác. Thành thử tôi biết anh Đức đã lâu nhưng phải đến khoảng 20 năm sau mới gặp anh Hy trong một dịp anh chị Hy sang Cali thăm thân nhân, bạn bè.

Tuy nhiên chỉ sau lần đầu gặp gỡ chúng tôi đã thân mật như quen biết từ lâu, một phần những người anh chị Hy quen biết thì không ít người tôi cũng đã giao thiệp, phần khác cái đồng cảm là cả tôi lẫn anh Hy đều thích đọc chữ Hán, có những điểm chung về kho tàng Hán văn.

Thứ Bảy, 9 tháng 5, 2026

Ô NHIỄM THẠCH TÍN NGHIÊM TRỌNG- SÔNG MÃ GẦM LÊN KHÚC ĐỘC HÀNH

LGT: Tác giả bài này là 1 kỹ sư địa chất trong nước với kinh nghiệm thực tế nên có thẩm quyền để viết về đề tài nhạy cảm này vì mỗi quan tâm với an ninh nguồn nước cho đồng bào cũng hệ sinh thái của miền Bắc Trung bộ Việt Nam.

Sông Mã không chỉ chảy trong thi ca với "khúc độc hành" bi tráng của đoàn quân Tây Tiến năm xưa. Ngày nay, dòng sông huyền thoại ấy đang thực sự gầm lên trong một cơn bức tử mới: Cơn bức tử từ thạch tín (Arsen). Suốt 10 năm qua, trong khi dư luận mải mê với những thị phi phù phiếm, thì hàng triệu lít hóa chất từ các mỏ đất hiếm tại vùng "đất cũ" Trấn Biên đã và đang âm thầm nhuộm độc huyết mạch của dải đất miền Trung. Đây không còn là lời cảnh báo, đây là một thảm họa hiện hữu.