Thứ Tư, 23 tháng 9, 2026

Cảm Nhận Khi Đọc Nhật Ký An Lộc

Góc nhìn của một Bác sĩ quân y 

đến An Lộc sau cuộc chiến 1972

BS Thân Trọng An

 


BS Thân Trọng An gặp lại anh chị BS Nguyễn Văn Quý tại Nam California trong dịp Hội ngộ Kỷ niệm 50 năm ngày chiến thắng An Lộc 1972 – 2022. [Photo by Vĩnh Chánh]



Nhân dịp sửa soạn tái bản cuốn Nhật Ký An Lộc của Bác sĩ Nguyễn Văn Quý, tôi được yêu cầu viết đôi điều cảm nhận về cuốn sách.

Tôi đến phục vụ tại Bệnh viện Tiểu Khu Bình Long cuối năm 1973, hơn một năm sau trận An Lộc, trong cương vị một y sĩ giải phẫu. Vì vậy, khi đọc Nhật Ký An Lộc, tôi không chỉ đọc một chứng từ chiến tranh mà còn gặp lại một nơi chốn và một môi trường quân y mà chính mình từng sống và làm việc. 


Cảm nhận

Trong sách, anh Quý viết:

“Có thể nói thế hệ chúng tôi là một thế hệ không may mắn, đã sinh ra trong chiến tranh, trưởng thành trong chiến tranh, và nay chính thức gia nhập chiến tranh. Trong suốt cuộc đời lớn lên của những người thuộc thế hệ chúng tôi, không bao giờ là không nghe thấy tiếng súng.”

Câu ấy nói lên hoàn cảnh của cả một thế hệ và cũng giúp người đọc hiểu những lựa chọn của anh. Đủ điều kiện hoãn dịch, anh vẫn tình nguyện nhập ngũ, muốn có thêm kinh nghiệm sống và từng nghĩ tới việc chọn một đơn vị Tổng Trừ Bị. Khi An Lộc trở thành chiến trường khốc liệt, những lựa chọn ấy đưa người y sĩ trẻ vào một thử thách mà có lẽ chính anh cũng không thể hình dung trước. 

Lên An Lộc với chức vụ Y sĩ Giải phẫu, trong những ngày đầu của cuộc tử thủ, khi người chỉ huy đi vắng, anh vừa phải lo giải phẫu vừa đảm trách công việc của bệnh viện. Anh không tự mô tả mình như một người không biết sợ. Khi được hỏi có sợ không, anh trả lời thẳng: “có chứ”. Nhưng giữa pháo kích, thiếu thốn và hiểm nguy, là y sĩ giải phẫu duy nhất, anh vẫn phải tiếp tục công việc, có khi trực suốt ngày đêm.

Giữa những trang viết về thương vong và bom đạn vẫn xuất hiện những chi tiết rất đời thường: một lần thoát chết tình cờ khi quả pháo rơi đúng nơi anh thường ngủ, những câu nói đùa với nhân viên, một chút dí dỏm giữa căng thẳng. Chính những chi tiết ấy khiến Nhật Ký An Lộc không chỉ có chiến tranh. Trong đó còn có nỗi sợ, sự may rủi, tình đồng đội và những nét rất người. 

 

Những ứng biến quân y tại An Lộc

Một phần đặc biệt đáng chú ý trong nhật ký là những ứng biến y khoa trong điều kiện chiến trường.

Khi còn ở Trung Đoàn Xung Kích 43, Sư Đoàn 18 Bộ Binh, anh dùng dung dịch Nitrate Bạc 0,5% để chữa trị và phòng lở loét chân cho binh sĩ phải lội sình lầy. Trước và trong trận chiến, anh tổ chức việc lựa thương, phòng cấp cứu, phòng mổ, trại bệnh, dụng cụ y dược, lương thực và nơi tiếp nhận thương binh.

Khi không còn lò hấp và thiếu thuốc khử trùng, anh sử dụng Eau de Javel pha loãng, xà bông hoặc alcool để xử lý dụng cụ. Khi thiếu vật liệu khâu, có lúc nylon cột bao cát được dùng làm chỉ khâu đóng thành bụng trong những trường hợp mổ lớn. Anh còn cho người quan sát bầu trời để đề phòng những kiện tiếp tế bằng dù rơi trúng bệnh viện.

Những chi tiết tưởng nhỏ ấy cho thấy một y sĩ ở An Lộc không chỉ phải làm công việc chuyên môn. Trong điều kiện phương tiện ngày càng cạn kiệt, người thầy thuốc còn phải liên tục ứng biến để duy trì hoạt động của bệnh viện và bảo vệ bệnh nhân cùng nhân viên. 

 

Một người thầy thuốc giữa chiến trường

Qua nhật ký, người đọc có thể hình dung hoàn cảnh mà Bác sĩ Quý và nhân viên quân dân y phải chịu đựng: pháo kích triền miên, thương vong dồn dập, thiếu nước, thiếu thực phẩm, thiếu thuốc men và dụng cụ, xác chết không kịp chôn. Có lúc phải ăn gạo sấy ngâm nước lạnh, uống nước dè sẻn từng nắp bi đông, nhiều ngày không thể tắm rửa.

Chính trong môi trường ấy, giá trị của cuốn nhật ký hiện ra rõ nhất: đây không chỉ là ký ức về một trận đánh mà còn là chứng từ của một người thầy thuốc phải cứu người trong những điều kiện gần như không còn điều kiện để hành nghề. 

Nhật ký cũng ghi lại những nỗi lo rất thật của người trong cuộc: không chỉ pháo kích của đối phương mà cả nguy cơ bị bỏ bom nhầm hoặc bị bỏ lại nếu tình hình quân sự thay đổi. Trong một cuộc trao đổi với Thiếu tá Nguyễn Kiếm Diệm, tác giả còn ghi lại những băn khoăn về tương lai miền Nam nếu Hoa Kỳ rút quân, về tham nhũng và niềm tin của dân chúng. Những ghi chép tại chỗ ấy góp thêm một lớp tư liệu về tâm trạng của người trong cuộc giữa chiến tranh. 


An Lộc của BS Quý và An Lộc tôi đến sau đó

Khi tôi đến An Lộc cuối năm 1973, hơn một năm sau trận chiến, một số nhân viên và dấu tích được nhắc tới trong nhật ký vẫn còn đó. Tôi từng làm việc trong căn hầm cạnh Bộ Chỉ huy Tiểu Khu, từng mổ trong điều kiện thiếu phương tiện khử trùng; có lúc pháo kích làm mất điện giữa cuộc mổ, nhân viên phải dùng đèn pin soi để tiếp tục.

Những trải nghiệm ấy giúp tôi hình dung cụ thể hơn hoàn cảnh mà Nguyễn Văn Quý và các đồng nghiệp đã phải đối diện trong những tháng khốc liệt của năm 1972. Những gì tôi gặp năm 1973 đã khó khăn, nhưng không thể so sánh với thời điểm An Lộc phải hứng chịu pháo kích liên tục, trong khi thương binh và thường dân bị nạn dồn về bệnh viện và phương tiện y tế ngày càng cạn kiệt. 

 

Một chứng từ của người trong cuộc

Nhật Ký An Lộc có sức thuyết phục trước hết vì người viết không đứng ngoài trận chiến. Anh vừa là người quan sát, vừa là người trực tiếp chịu pháo kích, mổ xẻ, cấp cứu, lo thực phẩm, chỗ trú ẩn và đối diện với cái chết của bệnh nhân cũng như của chính mình. Anh ghi lại cả những lúc sợ hãi, những điều mình tin, những chuyện dí dỏm và những băn khoăn về thời cuộc. Chính những chi tiết đời thường ấy làm cho bức tranh An Lộc có chiều sâu con người.

Điều tôi quý ở những trang viết ấy là tác giả không tô mình thành một người không biết sợ. Sự can đảm hiện ra qua công việc hằng ngày nhiều hơn qua những lời tự ca ngợi.

Hơn nửa thế kỷ sau, đọc lại Nhật Ký An Lộc, điều còn lại không chỉ là câu chuyện quân sự. Đó còn là một phần lịch sử của ngành Quân Y trong chiến tranh, của những bác sĩ, y tá, dược sĩ, quân nhân và thường dân đã phải tìm mọi cách duy trì sự sống giữa một thành phố bị vây hãm. 

 

Thay lời kết

Có lẽ hình ảnh người thầy thuốc trong Nhật Ký An Lộc được chính Nguyễn Văn Quý nói lên giản dị nhất:

“Tôi sẽ cố gắng trong khả năng của tôi để cứu sống họ, cố giữ cho họ được toàn vẹn thân thể. Phải cắt đi một bàn tay hay một cẳng chân của người khác là một điều tôi không bao giờ muốn vì nó làm tôi đau lòng không ít.”

Hơn nửa thế kỷ sau, có lẽ chính những dòng giản dị ấy nói rõ nhất giá trị nhân bản còn lại của Nhật Ký An Lộc: chứng từ của một người thầy thuốc cố gắng cứu người giữa những giới hạn khắc nghiệt nhất của chiến tranh.

 

BS Thân Trọng An

Chủ bút Tập San Y Sĩ VN Canada 

Montréal, tháng 9.2026

   


 

 

Thứ Ba, 22 tháng 9, 2026

Lời Tựa 2 Cho lần tái bản "Nhật Ký An Lộc" 2026

BS NGUYỄN VĂN QUÝ  




Thời gian thấm thoắt trôi qua. Hơn nửa thế kỷ đã lùi xa kể từ Mùa Hè Đỏ Lửa 1972. Những vết thương năm xưa đã khép miệng, nhưng ký ức về những ngày sống chết nơi chiến trường An Lộc vẫn còn nguyên trong tâm trí những người từng đi qua lửa đạn.

Hơn hai mươi năm trước, khi NHẬT KÝ AN LỘC lần đầu ra mắt độc giả vào năm 2002, một ngàn bản in đã nhanh chóng được đón nhận. Cuốn sách ban đầu chỉ xuất phát từ một ý nguyện giản dị: ghi lại cho gia đình biết những gì tôi đã trải qua nơi tiền tuyến. Nhưng sự đồng cảm của độc giả đã vượt ngoài mong đợi. Nhiều bạn bè, người quen sau khi đọc sách mới ngạc nhiên nhận ra những góc khuất tâm hồn và những tình cảm vốn ẩn sau vẻ ngoài kín đáo, ít nói của một bác sĩ giải phẫu dã chiến.

Theo thời gian, Nhà xuất bản Văn Nghệ đóng cửa, bản thảo điện tử cũng bị thất lạc. Cuốn sách sau đó được scan và lưu truyền dưới dạng PDF, rồi được thu âm thành audiobook trên YouTube, phần lớn không có sự đồng ý của tác giả. Dẫu vậy, bằng một con đường ngoài dự liệu, Nhật Ký An Lộc vẫn tiếp tục đến với những lớp độc giả mới.

Năm 2021, một nhóm cựu học sinh Chu Văn An, ra trường trước năm 1975, đã liên lạc xin phép đánh máy lại toàn bộ tác phẩm từ bản in, với dự tính tái bản nhân kỷ niệm 50 năm trận An Lộc (1972–2022). Dự định ấy sau cùng không thành, một phần vì sách đã được phổ biến khá rộng trên mạng, phần khác vì trong thời đại kỹ thuật số, thói quen đọc và mua sách giấy cũng đã thay đổi nhiều.

Mới đây, sự xuất hiện trở lại của một cuộc phỏng vấn thực hiện cách nay khoảng mười lăm năm đã bất ngờ khơi dậy nhiều ký ức. Khi ấy, một phóng viên Đài Truyền hình Dân Sinh từ San Jose xuống Orange County gặp tôi để tìm hiểu thêm về những ngày đêm tại Bệnh viện Tiểu khu Bình Long trong thời gian An Lộc bị tấn công và bao vây. Cuộc trò chuyện được phổ biến trở lại đã khiến nhiều bạn bè, đồng nghiệp nhớ về một thời lửa đạn, đồng thời khơi lại ý định đưa cuốn sách trở về với người đọc.

Trong lần tái bản này, tôi đặc biệt cảm ơn Bác sĩ Ngô Thế Vinh, một bác sĩ quân y, nhà văn và người nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực môi sinh, đã khuyến khích và tiếp thêm động lực cho tôi. Chính anh, từ bản in đầu tiên, đã đề nghị đổi tên bản thảo từ Bệnh Viện Tiểu Khu Bình Long thành NHẬT KÝ AN LỘC: 86 Ngày của Một Bác Sĩ Giải Phẫu tại Mặt Trận. Nhan đề ấy không chỉ giúp cuốn sách đến gần người đọc hơn mà còn nói lên khá đầy đủ hoàn cảnh đặc biệt của những trang nhật ký này. Với kinh nghiệm của một bác sĩ quân y cùng thế hệ, anh cũng chia sẻ sâu sắc những giới hạn, trách nhiệm và nỗi day dứt của người thầy thuốc giữa chiến trường.

Bác sĩ Ngô Thế Vinh còn vận động sự hỗ trợ của Viet Ecology Press (VEP) và nhóm bạn Tập San Y Sĩ Canada (TSYS), do Bác sĩ Thân Trọng An chủ bút. Các thân hữu VEP và TSYS đã nhiệt tình đảm nhận chi phí trình bày, thiết kế bìa và xuất bản với phương thức in theo nhu cầu (Print on Demand), nhờ đó cuốn sách có thể được lưu trữ và tiếp tục phát hành lâu dài.

Vì VEP và TSYS đều hoạt động trên tinh thần phi lợi nhuận, tôi đồng ý cho tái bản với một đề nghị: toàn bộ lợi nhuận từ việc bán sách, nếu có, sẽ được đóng góp vào quỹ hỗ trợ các Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hòa hiện còn gặp nhiều khó khăn tại quê nhà.

Trận An Lộc đã lùi xa, nhưng tình đồng đội, nghĩa đồng bào và giá trị nhân bản của sự sống vẫn còn đó. Năm mươi bốn năm nhìn lại, tôi xem những trang nhật ký này trước hết như chứng từ của một bác sĩ trẻ sống giữa một thành phố bị bao vây, ngày đêm đối diện với thương tích, cái chết và giới hạn của khả năng cứu người.

Tôi giữ nguyên những trang viết ấy, kể cả những xúc động và nhận định của một người trẻ trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, bởi chính dấu ấn của thời điểm đã làm nên giá trị của một chứng từ. Lần tái bản này vì thế không chỉ nhằm đưa một cuốn sách cũ trở lại với người đọc, mà còn để lưu giữ và chuyển trao một phần ký ức.

Tôi mong những thế hệ không trải qua chiến tranh, khi đọc NHẬT KÝ AN LỘC, sẽ hiểu thêm rằng phía sau mỗi trận đánh, mỗi địa danh và mỗi con số thương vong, bao giờ cũng là những con người cụ thể, với nỗi đau, tình thương, lòng can đảm và một sự sống cần được gìn giữ.

 

BS Nguyễn Văn Quý, 

California tháng 9, 2026

 

Thứ Hai, 21 tháng 9, 2026

Ngọn lửa thiêng Vũ Hoàng Chương

50 năm ngày giỗ Vũ Hoàng Chương (1976–2026). 

Trịnh Y Thư: 

Phát biểu của Trịnh Y Thư nhân buổi lễ Tưởng niệm 50 năm ngày qua đời của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương, ngày 20 tháng 9 năm 2026 tại Quận Cam, California.

Hôm nay, chúng ta cùng nhau họp mặt trong không gian trang trọng này để tưởng niệm 50 năm ngày qua đời của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương, một trong những tiếng thơ độc đáo và rực sáng nhất của thi ca Việt Nam thế kỷ XX. Nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng ánh lửa từ thơ ông vẫn còn cháy, âm thầm mà mãnh liệt, trong tâm tư những người yêu thơ, yêu văn chương.

Vũ Hoàng Chương là thi sĩ của men say và lửa cháy, của đam mê và cô độc, của cõi thế và tâm linh, của một tâm hồn luôn kiếm tìm cái đẹp tuyệt đối giữa những biến động khốc liệt của đất nước mà thế hệ, thời đại ông gánh chịu. Ông bước vào thi đàn với phong thái riêng: cổ điển mà phóng túng, u hoài mà rực rỡ, như một người đứng giữa giao lộ của truyền thống và hiện đại, mang theo tiếng thở dài của phương Đông và nỗi khắc khoải hoài nghi của kiếp nhân sinh.

Thơ ông không chỉ là những câu chữ hoặc vần điệu; đó là một khí chất, một cách sống, một cuộc đối thoại với định mệnh. Khi đọc Vũ Hoàng Chương, tai ta như nghe được tiếng vọng của trăng tàn, tiếng nấc của cuộc rượu, tiếng gọi của tự do, thứ tự do mà ông nâng niu đến tận cuối đời; mắt ta thấu thị từng góc cạnh ngõ ngách của nỗi đau kiếp người. Dù cuộc đời ông trải qua nhiều khúc quanh nghiệt ngã, thơ ông vẫn giữ được sự thanh sạch của một tâm hồn hướng về cái đẹp, cái thiện, và sự thật. 

TIN SÁCH II: Nhật Ký An Lộc sắp tái bản 2026

 Nhật ký An Lộc _ Cuốn nhật ký bỏ quên

Giao Chỉ Vũ Văn Lộc (1933–2025)



Đây là một bài điểm sách của nhà văn nhà báo Giao Chỉ Vũ Văn Lộc, viết ngày 26.12.2011, chín năm sau ngày Nhật Ký An Lộc được Nhà Xuất bản Văn Nghệ California phát hành năm 2002. 




Bìa trước cuốn Nhật Ký An Lộc do Hoạ sĩ Khánh Trường trình bầy,        Văn Nghệ California xuất bản lần đầu tiên năm 2002. 

                                           
         Cuốn sách 470 trang của bác sĩ giải phẫu tại mặt trận viết về 86 ngày tại An Lộc quả thực là tác phẩm hay nhất mà tôi đọc lần thứ hai trong năm 2011. 

        Giả thuyết đây là chuyện binh đoàn Mỹ bị vây tại Khe Sanh hay lính Liên hiệp Pháp bị vây tại Điện Biên Phủ thì dù kết quả ra sao, câu chuyện của một y sĩ giải phẫu duy nhất tại tiền tuyến như bác sĩ Nguyễn văn Quý cũng làm cho tác phẩm trở thành một Best Seller trên thị trường sách vở tây phương.

        Bằng một giọng văn của một bác sĩ trẻ tuổi, hết sức đơn giản, viết về những chuyện thực sự đã xẩy ra trong khoảng 3 tháng trên chiến trường Bình Long, tác phẩm đã làm cho độc giả hết sức xúc động.

        Bác sĩ Quý đã ghi lại dưới hình thức hồi ký những chuyện xẩy ra đầu tháng 4-1972 tại An Lộc cho đến khi rời khỏi Bình Long vào tháng 8-1972.
        Sau đó những trang nhật ký dường như bị bỏ quên cho đến khi tác giả ở lại Việt Nam, đi tù “cải tạo” rồi vượt biên. Khi đoàn tụ tại Hoa Kỳ cô em gái giữ được các trang nhật ký đã trao lại cho anh. Mãi đến năm 2002 cuốn sách mới được duyệt lại và do nhà Văn nghệ xuất bản.

        Quả thực tôi không rõ năm 2002 tác phẩm đã phát hành bao nhiêu cuốn. Được đáp ứng ra sao. Tuy nhiên hiện nay sách không còn thấy trong các tiệm sách. Cuốn sách tôi mua và đọc gần 10 năm trước hiện đã bị thất lạc.
         Cuốn sách đọc lại để giới thiệu tôi mới tìm thấy tại khu Việt ngữ của thư viện chính thành phố San Jose. Với nỗ lực tìm hiểu về trận An Lộc để làm DVD, tôi hết sức vui mừng gặp lại Nhật ký An Lộc. 

Chủ Nhật, 20 tháng 9, 2026

TIN SÁCH: Nhật Ký An Lộc sắp tái bản 2026

 ĐỌC “NHẬT KÝ AN LỘC” 

CỦA BÁC SĨ NGUYỄN VĂN QUÝ


Đặng Trần Huân (1929 - 2003)


Đây là một bài điểm sách của nhà văn, nhà báo Đặng Trần Huân, xuất hiện trên báo Đại Chúng, số 104, ngày 16/8/2002, ngay sau khi sách Nhật Ký An Lộc mới được Nhà Xuất bản Văn Nghệ phát hành cách đây 24 năm. 

Đọc “Nhật Ký An Lộc” của Bác sĩ Nguyễn Văn Quý – Đặng Trần Huân





Nhật Ký An Lộc của bác sĩ Nguyễn Văn Quý mới ra mắt thật sự là một cuốn nhật ký vì được viết từ 30 năm trước, ngay chính những ngày tác giả có mặt trong thời gian tử chiến 1972 ở Bình Long.

Nguyễn Văn Quý cho biết ông chỉ có ý định viết cho mẹ, các em ông và nếu có con để chúng biết về những gian khổ của ông tại Bình Long trong thời gian chiến cuộc đỏ lửa 1972 trên chiến trường Nam Việt Nam (trang 342). Nhật Ký An Lộc tuy không ghi từng ngày, tháng nhưng đầy đủ diễn tiến ba tháng tỉnh lỵ An Lộc bị bao vây, bị cô lập nhưng đã cầm cự quyết liệt và cuối cùng chiến thắng.

Nếu cuốn sách chỉ thuần túy là một cuốn nhật ký về đời riêng của mình từ lúc ấu thơ cho tới hiện tại thì cũng chả có gì đáng nói vì một bác sĩ tuy là một khuôn mặt cộng đồng nhưng Nguyễn Văn Quý không phải là một danh ca hay một siêu sao điện ảnh có đời tư sôi nổi, có những cuộc tình bốc cháy mà mà những người ái mộ tò mò muốn biết. 

Mở trang đầu Nhật Ký An Lộc ta có thể tưởng như đang đi vào cuộc đời tác giả từ thuở ấu thơ. Nhưng phần này chi vỏn vẻn có vài dòng mà thôi. Sau đó nội dung sách cuốn hút ta từ khi lúc sinh viên Nguyễn Văn Quý tuy đã tốt nghiệp bác sĩ và đủ điều kiện nhưng không xin miễn dịch mà xin nhập ngũ Khóa 10 Y Sĩ Trưng Tập. Ông nhận công tác tại bệnh viện tiểu khu Bình Long ở tỉnh lỵ An Lộc ngày 13. 4. 71 và đúng ngày đó một năm sau Việt cộng tấn công Bình Long mà ông cho là với ông đó là một trùng hợp lạ lùng. 

Nhật Ký An Lộc được viết với giọng văn rất thành thực, chân tình và nội dung bao chùm nhiều chi tiết khi anh hùng, khi bi thảm, đau thương trong mặt trận An Lộc mà trước nay chưa nghe ai kể. 

Hợp tác Lancang-Mekong:

Từ quan hệ bất đối xứng đến đối tác công bằng và trách nhiệm

Những điều Cơ chế Hợp tác Lancang-Mekong cần có trong thập kỷ thứ hai

Phạm Phan Long 


Thành tích tăng trưởng của LMC trong thập niên đầu

Trong mười năm đầu của Hợp tác Lancang-Mekong (LMC), tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Trung Quốc tăng từ khoảng 11,2 nghìn tỷ USD năm 2016 lên 19,5 nghìn tỷ USD năm 2025 — tăng khoảng 74%. Việt Nam và Campuchia tăng nhanh hơn, trên 250%. Thái Lan tăng chậm hơn, khoảng 42%. Myanmar chỉ tăng khoảng 21%. Lào gần như đứng, vì kip mất giá mạnh che mất phần tăng thực trong nước.


Bảng 1: Tổng sản lượng quốc gia của các nước trong hợp tác Lancang-Mekong

Trên giấy tờ, Hợp tác Lancang-Mekong (LMC) là một thành công. Sau Hội nghị cấp cao Tam Á năm 2016, thương mại giữa Trung Quốc với Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam nay đã tăng mạnh, đạt 500,9 tỷ USD năm 2025 — hơn 150% so với một thập kỷ trước. Đường sắt, đường bộ, đầu tư và giao lưu nhân dân cũng mở rộng (Bộ Ngoại giao Trung Quốc, 2026). Đây là con số tăng trưởng ngoạn mục.

Tiến bộ đó là thật. Nhưng đo thành công chỉ bằng thương mại và hạ tầng thì bỏ sót câu hỏi chính: đang xây dựng kiểu quan hệ nào?

Trung Quốc và năm đối tác Mekong không đứng cùng vị thế. Trung Quốc là nền kinh tế lớn nhất, nguồn hàng chế tạo, vốn và hạ tầng, đồng thời là quốc gia thượng nguồn sông Lancang. Các nước hạ nguồn cung cấp thị trường, nông sản, năng lượng và khoáng sản. Cả sáu nước đều hưởng lợi, nhưng quy mô, năng lực sản xuất và sức mặc cả chênh nhau rất lớn.

Thứ Tư, 16 tháng 9, 2026

BA TUẦN SAU THẢM HỌA NEPAL–TIBET

KHI KHOA HỌC LẦN BƯỚC THEO MỘT CHUỖI THẢM HỌA 

TỪ BĂNG ĐÁ TRÊN NÓC NHÀ THẾ GIỚI

 

LGT: “Ba tuần sau thảm họa Nepal–Tây Tạng ngày 26 tháng 8 năm 2026, bài viết này điểm lại những gì khoa học đã làm rõ và những câu hỏi vẫn còn bỏ ngỏ về chuỗi tai biến khởi đầu từ sườn bắc Langtang Lirung. Đây không phải tường thuật cứu nạn, mà là một tổng thuật khoa học–môi sinh với ba nhận định chính.Thứ nhất, đây không phải một trận Lũ do Hồ Băng Vỡ / GLOF điển hình, mà là chuỗi liên hoàn: sườn đá–băng sụp đổ → thác lở đá–băng → dòng bùn đá → lũ đậm đặc trầm tích.Thứ hai, khí hậu nóng lên, băng hà thoái lui và permafrost suy thoái tạo bối cảnh bất ổn lâu dài; nhưng những nghiên cứu mới cũng chỉ tới yếu tố cấu trúc địa chất và sự suy yếu của khối đá. Nguyên nhân trực tiếp của vụ sụp đổ vẫn chưa được xác định dứt khoát. Thứ ba, điều con người còn có thể chủ động là cảnh báo sớm và hợp tác xuyên biên giới, bởi nước lũ không cần sổthông hành. Từ tín hiệu địa chấn lúc 08:37 giờ Nepal đến “ký ức địa hình” / landscape memory của trận GLOF năm 2025, bài viết của BS Ngô Thế Vinh cho thấy tai biến Himalaya không dừng lại trên Nóc Nhà Thế giới. Tính tương thuộc ấy cũng gợi một cái nhìn xuống Mekong và Đồng bằng Sông Cửu Long. KS PHẠM PHAN LONG
Chair, Viet Ecology Foundation

 

 

NGÔ THẾ VINH

 

 

Lời Dẫn Nhập: Người viết sinh ra và lớn lên ở vùng nhiệt đới, tuy đã quan tâm tới các vấn đề môi sinh từ nhiều năm, nhưng khi theo dõi và tìm hiểu thảm họa từ vùng băng đá Nepal–Tây Tạng, một không gian với địa chất, địa mạo và môi trường băng hà hoàn toàn khác biệt, vẫn không khỏi bỡ ngỡ trước một số hiện tượng và thuật ngữ khoa học còn khá mới mẻ.

Nhưng chính từ vùng đất xa lạ ấy lại hiện ra một mối liên hệ rất gần: những gì xảy ra trên Nóc Nhà Thế Giới sẽ không bao giờ chỉ dừng lại trên những đỉnh trời Himalaya. Những biến động của băng hà, núi đá, nguồn nước và khí hậu ở thượng nguồn có thể khởi phát những chuỗi tai biến và hệ quả lan truyền rất xa về phía hạ lưu, đôi khi vượt qua cả biên giới quốc gia.

Với ý tưởng đó, người viết xin mời bạn đọc cùng tìm hiểu vùng đất đặc biệt này, đồng thời làm quen với một số khái niệm về băng hà, địa chất, địa mạo và môi sinh núi cao được sử dụng trong bài.

 

 

*




 


 

Dãy Himalaya, “Nóc Nhà của Thế Giới,” nhìn từ không gian. Những đỉnh núi phủ tuyết, các sông bang, các thung lũng và cao nguyên tạo thành một trong những hệ thống băng đá đồ sộ nhất hành tinh, thường được gọi là “Cực Thứ Ba” (The Third Pole) của trái đất. Những biến đổi đang diễn ra tại vùng núi cao này không chỉ giới hạn trong Himalaya mà còn có thể tác động tới các hệ thống sông ngòi và sinh cảnh của hàng tỷ cư dân ở hạ lưu châu Á. [Nguồn: NASA, 22.04.2026]

 


 

Ba tuần lễ đã trôi qua kể từ buổi sáng ngày 26 tháng 8 năm 2026, khi một khối lượng khổng lồ băng và đá bất ngờ đổ xuống từ sườn bắc núi Langtang Lirung của dãy Himalaya, khởi đầu cho một chuỗi thảm họa xuyên biên giới Nepal–Tibet.

Trong những giờ đầu tiên, trước sức tàn phá của dòng nước lũ, bùn, đá và băng cuốn xuống các thung lũng, người ta đã nghĩ tới một trận Lũ do Hồ Băng Vỡ – Glacial Lake Outburst Flood – GLOF, là một loại tai biến ngày càng được biết đến trên vùng Himalaya đang nóng lên.

Nhưng rồi các nhà khoa học không dừng lại ở lời giải thích đầu tiên.

 

Ảnh vệ tinh, tín hiệu địa chấn, dữ liệu radar và những mô hình thủy động lực học (hydrodynamic model) trong những ngày sau đó dần hé mở một câu chuyện phức tạp hơn nhiều.

 

Thảm họa 26 tháng 8 có lẽ không bắt đầu bằng một hồ băng vỡ / GLOF. Nó khởi đầu trên một sườn núi cao, nơi đá và băng cùng mất ổn định, rồi cả một khối đá-băng / rock–ice khổng lồ lao xuống thung lũng. Trên đường đi, nó nghiền vỡ băng, xói lòng thung lũng, cuốn theo luôn cả đất đá, trầm tích và nước, để từ một vụ sụp đổ trên sườn núi biến thành dòng bùn đá / debris flow, rồi thành một trận lũ mang nặng phù sa và đá vụn có sức tàn phá trên một khoảng cách lớn gần 100 km.

 

Đó không còn là một tai biến đơn độc. Đó là một chuỗi thảm họa – cascading disaster.

Và khi lần ngược chuỗi thảm họa ấy lên tận sườn núi Langtang Lirung, giới khoa học đang gặp một số câu hỏi lớn hơn: đâu là những nguyên nhân tiềm ẩn gây sự sụp đổ ấy trước đó nhiều năm, thậm chí nhiều thập niên trước?