Thứ Tư, 4 tháng 11, 2026

Trần Doãn Nho:

 Đọc “Vũ Hoàng Chương 

Ta Còn Để Lại Gì Không”

 
November 5, 2026

“Vũ Hoàng Chương Ta Còn Để Lại Gì Không”              
Hình: TDN


Tháng 9/2026 vừa qua, nhà xuất bản Văn Học Press (California) cho phát hành một tác phẩm biên khảo về cuộc đời và những tác phẩm tiêu biểu của thi sĩ Vũ Hoàng Chương: Vũ Hoàng Chương Ta Còn Để Lại Gì Không do giáo sư Trần Huy Bích cùng các tác giả Trần Mạnh Toàn, Trần Ngọc Khôi, Nguyễn Ngọc Dung và Phạm Thị Lệ Hương biên soạn.

Theo Trần Huy Bích trong “Lời Mở Đầu”, thi sĩ Vũ Hoàng Chương là một nhà thơ quan trọng trong văn học Việt Nam. “Là một người uyên bác và chịu ảnh hưởng của Hán học từ rất sớm, ông đã dùng khá nhiều điển tích và cũng hay trích dẫn thơ văn cổ khi sáng tác. Những điển tích, thơ văn cổ ấy, nếu không được phân giải ra, sẽ khiến nhiều người đọc, nhất là người ở thế hệ trẻ, khó nắm vững chủ ý của tác giả.” Vì thế, cùng với một số cựu môn sinh của thi sĩ, ông “cảm thấy sự cần thiết của một cuốn sách viết một cách nghiêm túc, để góp phần vào việc trình bày, nhằm giúp một số thi phẩm nhà thơ để lại có thể được hiểu dễ hơn.”

“Vũ Hoàng Chương Ta Còn Để Lại Gì Không” dày gần 400 trang, bìa cứng, hình thức trang nhã. Ngoài phần niên biểu khá chi li, ghi lại thời gian và các sự kiện tiêu biểu trong cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Vũ Hoàng Chương ở đầu sách, tập biên khảo gồm có 5 chương chính, do giáo sư Trần Huy Bích chấp bút:

  • Chương I: Từ thuở thiếu thời đến khi đất nước chia đôi.
  • Chương II: Duyên thơ nợ kịch – Những vần thơ viết cho Tuyết Khanh
  • Chương III: Tình tri âm với Nữ sĩ Ngân Giang
  • Chương IV: Bước ra thế giới: Ghi lại sinh hoạt văn học quốc tế mà Vũ Hoàng Chương tham gia, cũng như thơ của ông được dịch và xuất bản bằng các ngôn ngữ khác: Pháp, Anh, Đức và Ý.
  • Chương V: Nhà thơ Vũ Hoàng Chương từ khi vào Nam năm 1954: Ghi lại mọi mặt cuộc sống cũng như các sinh hoạt văn học của nhà giáo-nhà thơ Vũ Hoàng Chưong ở miền Nam, từ năm 1954 cho đến ngày ông từ trần vào năm 1976.

Bổ sung cho các chương trên là phần Phụ Lục ở cuối sách, khoảng 70 trang, chiếm đến ¼ tập biên khảo. Trong Phụ Lục I, các tác giả Trần Ngọc Khôi, Nguyễn Ngọc Dung và Trần Huy Bích giới thiệu và phân tích tư tưởng của một số bài thơ trong chuỗi 12 bài thơ “Ðọc Lại Người Xưa” của Vũ Hoàng Chương. Theo Trần Huy Bích, đó là những bài thơ cuối cùng của cố thi sĩ, làm trong thời gian bị chính quyền cộng sản giam ở khám Chí Hòa năm 1976, và trong mấy ngày chót lúc ông được đưa từ Chí Hòa về nhà, trước khi tạ thế. Trong Phụ Lục II, trích ‘Phù Giang Thi Thoại’, Trần Mạnh Toàn cung cấp thêm nhiều chi tiết về cuộc sống, sinh hoạt cũng như những bài thơ khác của Vũ Hoàng Chương.

Qua 5 chương sách, phần phụ lục cộng thêm một số hình ảnh của các người thân trong gia đình, các bạn thơ, thủ bút của nhà thơ, bìa sách một số tác phẩm đã xuất bản, vân vân và vân vân, tập biên khảo đã dựng lại chân dung đa dạng của một “Vũ Hoàng Chương nhà thơ”, lồng trong chân dung của một “Vũ Hoàng Chương con người”, trải qua suốt những giai đoạn thăng trầm đầy kịch tính của lịch sử đất nước trong thế kỷ trước. Thay vì tách thế giới thi ca ra khỏi thế giới đời thường để phân tích, nhận định như một cái gì riêng biệt, Trần Huy Bích và nhóm biên soạn đã gắn liền cuộc đời, sự nghiệp và thi ca của Vũ Hoàng Chương thành một. Yếu tố này vừa là nguyên nhân vừa là hậư quả của yếu tố kia. Có cái này nên có cái kia. Mặt khác, thay vì tập trung vào việc “tán hươu tán vượn” về tài năng, về ý nghĩa hay về ngôn ngữ…của nhà thơ, Trần Huy Bích và các tác giả cộng tác lấy sự chân thực làm đầu. Ông cho rằng, “tôn chỉ của chúng tôi là chính xác.”  (…) “Mỗi khi dẫn thơ Vũ Hoàng Chương, chúng tôi cố gắng nói rõ câu ấy được trích từ bài nào và được in lần đầu trong thi tập hay trên báo, tạp chí nào.” Tắt lại, “Vũ Hoàng Chương, Ta Còn Để Lại Gì Không” được hình thành trên nguyên tắc “nói có sách, mách có chứng.” Ông đồng ý với Nguyễn Mạnh Côn khi nhà văn này cho rằng Vũ Hoàng Chương đã là người của một phần lịch sử (phần văn học) thì tất cả mọi chi tiết liên quan đến cuộc đời nhà thơ trước sau gì cũng phải đưa ra ánh sáng. Chính vì thế, công trình biên khảo này là một tập tài liệu được sưu tầm và chọn lọc cẩn thận, đưa tất cả “ra ánh sáng” nhằm dựng lại một Vũ Hoàng Chương y-như-là-Vũ-Hoàng-Chương.

Trong 5 chương sách chính, Trần Huy Bích đã dành một phần lớn (chương I, II và III) đề cập đến vai trò của 3 phụ nữ, những người đã đóng một vai trò khá quan trọng, tạo ra niềm cảm hứng cho nhiều tác phẩm trong sự nghiệp thi ca của Vũ Hoàng Chương. Danh tính của 2 trong 3 phụ nữ đó đã được nên lên ngay trong tựa đề của chương II và chương III.

Chương II: “Duyên thơ nợ kịch – Những vần thơ viết cho Tuyết Khanh”. Tuyết Khanh, một “nữ nghệ sĩ tài hoa, nhan sắc”, là diễn viên chính xuất sắc trong vở kịch “Kiều Loan” của Hoàng Cầm, được nhà thơ này ca tụng là “viên kim cương đắc giá nhất trần gian”. Về sau, bà cũng đóng vai chính trong các vở kịch “Cô gái ma”, “Vân Muội” của Vũ Hoàng Chương, diễn chung với tác giả. Hai người có “nhiều điểm phù hợp, cùng yêu thơ, yêu kịch, xứng hợp vớì nhau”. Trần Huy Bích kể: “Khi ngồi cạnh Tuyết Khanh một đêm khuya ở Phù Lưu sau khi ban kịch đã diễn xong, Vũ Hoàng Chương cảm thấy thời gian như ngừng lại, không gian thu hẹp lại, và cả ‘một bầu trăng sáng’ đã ‘rót’ vào đôi mắt người đẹp:

Khoảnh khắc Thời gian nghỉ cánh bay
Không gian thu hẹp dưới đôi mày
Ta nghe cả một bầu trăng sáng
Rót cả vào đôi mắt đắm say”

Tuy vậy, Vũ Hoàng Chương giữ tình cảm đó ở mức “tình yêu tinh thần” hay “tình trong văn chương” mà thôi, vì Tuyết Khanh đã có người yêu là Hoàng Cầm, và ông thì cũng đã có vợ.

Chương III: “Tình tri âm với nữ sĩ Ngân Giang”. Hai người trạc tuổi nhau, nhưng Ngân Giang nổi tiếng trước Vũ Hoàng Chương. Quan hệ giữa hai người “có một số điểm đặc biệt hơn mức bình thường.” (…)  “Hai người có nhiều điểm thanh khí tương đồng. Ngân Giang có niềm tin cùng thiện cảm dành cho Vũ Hoàng Chương.” Mối giao tình giữa hai nhà thơ kéo dài qua nhiều giai đoạn lịch sử khốc liệt khác nhau, nhưng vẫn bền chặt. Họ đã từng có vài lúc làm thơ chung, được gọi là “liên ngâm”. Chẳng hạn bài liên ngâm do hai người cùng làm ở Hà Nội cuối hè năm 1953 để nói lên tâm sự ngổn ngang của Ngân Giang vào thời điểm đó. Trần Huy Bích viết: “Vì là bài thơ nói về mình, nữ sĩ giữ vai tác giả chính. Bà làm 3 câu đầu, hai câu 5,6, và câu kết. Vũ Hoàng Chương chỉ đóng góp câu 4 và câu 7.”

Sau trước nghìn thu một Quế Anh
Hòa Phiên từng đã xót phân tranh
Ngựa Hồ tiếng thét mười phương gió
Cung Hán màu trăng vạn dặm thành
Chí dẫu côn bằng e hẹp biển
Lòng còn sương khói ngại tan canh
Làm mây ải Nhạn chiều heo hút
Rồi cũng lang thang kiếp độc hành

Khác với Tuyết Khanh và Ngân Giang, hai “người tình văn chương”, người phụ nữ thứ ba. “người tình thực sự”, nằm ở chương I: “Từ thuở thiếu thời cho đến khi đất nước chia đôi”. Ngoài những chi tiết về gia thế, cuộc sống và các sinh hoạt văn học trong khoảng thời gian từ thuở thiếu thời đến 1954, chương này dành nguyên tiểu mục “Mối tình đầu, đuổi theo ám ảnh suốt cuộc đời”, dài đến 40 trang, đề cập đến mối tình đầu đời của Vũ Hoàng Chương với cô học trò mà ông dạy kèm Anh Văn tại nhà là Tố Uyển. Hai người phải lòng nhau, nhưng rồi cuộc hôn nhân không thành. Vì bố của Vũ Hoàng Chương “chê Tố là ‘học trò, trẻ con,’ lại theo ‘Tây học nhăng nhít’, không thể về làm dâu một gia đình nền nếp như gia đình ông bà.” Mối tình tan vỡ này là nguồn cảm hứng bất tận của nhà thơ kéo dài gần như cả cuộc đời của ông. Người yêu của Vũ Hoàng Chương đã kích thích cho ông sáng tác nên những vần thơ tuyệt tác, thì “tình yêu ấy không làm tổn thương danh dự của bất cứ người vợ hay người mẹ, bất cứ bà vua hay bà quan nào,” theo Nguyễn Mạnh Côn. Về sau, Tố Uyển lấy một người khác. “Đến ngày cưới Tố Uyển – ngày 12 tháng 6 năm Tân Tỵ (1941) – mối đau thương bi phẫn của Vũ Hoàng Chương bùng nổ mãnh liệt trong bài “Mười hai tháng sáu”.

“Mười hai tháng sáu”, với tôi, có lẽ là một trong những bài hay nhất và thấm thía nhất của thơ tình Vũ Hoàng Chương. Chả là, bài thơ này ghi dấu một kỷ niệm khó quên của tôi thuở thiếu thời. Lúc còn theo học lớp Đệ Tứ (lớp 9) vào những năm đầu thập niên 1960, tôi “thầm yêu trộm nhớ” một cô con gái học cùng lớp (nhưng không cùng trường), ngày nào cũng đạp xe đạp đi học ngang nhà. Ấy thế mà đùng một cái, cô vội vã lên xe hoa khi vừa mới đậu xong bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp, khiến cậu học trò mười lăm tuổi đầu đâm ra ngơ ngẩn ngẩn ngơ suốt một thời gian. Không biết làm gì hơn, cậu ghi vào trang đầu tập nhật ký học trò và học thuộc lòng 8 câu thơ mà cậu thích nhất trích từ bài thơ nói trên:

Trăng của nhà ai? trăng một phương
Nơi đây rượu đắng mưa đêm trường
Ờ! đêm tháng sáu mười hai nhỉ!
Tố của Hoàng ơi! hỡi nhớ thương

(…)

Men khói đêm nay sầu dựng mộ
Bia đề tháng sáu, ghi mười hai
Tình ta, ta tiếc; cuồng ta khóc.
Tố của Hoàng nay Tố của ai?…

Thành thật mà nói, hồi đó, tôi chẳng biết (mà cũng chẳng quan tâm) tìm hiểu xem cô Tố này là ai. Vì cùng tâm cảnh với nhà thơ, tôi đã đồng hóa cô Tố vào tên cô con gái nọ (cũng có vần T), xem đây cũng chính là tâm sự của mình.       

“Những ngày cuối cùng của thi sĩ Vũ Hoàng Chương”, tiểu mục cuối của chương V, mô tả cuộc sống hoàn toàn đảo lộn của người miền Nam sau biến cố tháng 4/1975. Cũng như mọi người, Vũ Hoàng Chương và gia đình phải trải qua những tháng ngày chật vật và căng thẳng. Gần một năm sau khi Sài Gòn thất thủ, ông bị nhà cầm quyền cộng sản bắt giam vào ngày 13/4/1976. Sau hơn 4 tháng bị giam giữ ở khám Chí Hoà, sức khỏe ông bị suy kiệt dần. Không muốn mang tiếng để ông chết trong nhà giam, nhà cầm quyền thả ông về ngày 2 tháng 9-1976. “Ngày thứ hai được ở nhà, nhằm ngày 9 tháng 8 âm lịch, ông nhắc bà Thục Oanh rằng hôm sau, 10 tháng 8 âm lịch, là ngày giỗ Nguyễn Du. Theo bà Thục Oanh, trong ngày giỗ, ông ‘khăn áo tề chỉnh, đứng trước bàn thờ tự tay thắp nhang, rót trà.’ (…) Theo bà Thục Oanh, đúng nửa đêm ngày 6 qua ngày 7 tháng 9-1976, thi sĩ Vũ Hoàng Chương từ biệt thế gian.” (…) Nhà cầm quyền muốn bịt kín tin tức, sợ cái chết của ông sẽ gây chấn động lớn. Đinh Hoài Ngọc đã đưa đăng Cáo Phó trên tờ Tin Sáng, nhóm Ngô Công Đức đã nhận tiền, nhưng hôm sau gửi trả lại và nói “An Ninh Thành Ủy không cho đăng.” Nhà cầm quyền địa phương cấm hàng xóm láng giềng phường Cây bàng không được tới phúng điều, chia buồn.” (…) Đám tang lặng lẽ và hiu hắt.”

                                                              *

 “Vũ Hoàng Chương Ta Còn Để Lại Gì Không” được phát hành chính thức trên trang mạng Barnes & Noble:

https://www.barnesandnoble.com/w/vu-hoang-chuong-ta-con-de-lai-gi-khong-tran-huy-bich/1151084319?ean=9798182563390

Tin tức từ nhà xuất bản Văn Học Press cho biết, sau khi phát hành, có hơn 30 trang mạng khác đã “nhập cuộc” tiếp tay giới thiệu tác phẩm. Các trang này thuộc nhiều quốc gia trên thế giới: Hoa Kỳ, Anh, Đức, Ý, Đan Mạch, Hòa Lan, Ấn Độ, Úc, Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan, Bulgaria (Đông Âu), Namibia (Phi Châu) …Xin ghi lại một vài trang điển hình:

Ở Anh:

         Vu Hoang Chuong Ta Con De Lai Gi Khong – Sammin Online Bookstore            

vân vân…

Hy vọng đây là một cách giúp đưa văn chương Việt Nam vươn xa vào thế giới.

                                                              *

Phụ trách biên soạn “Vũ Hoàng Chương Ta Còn Để Lại Gì Không” là các tác giả sau đây, trích từ “Vài dòng tiểu sử của các tác giả” ở cuối sách:

  • Trần Huy Bích: Học Quốc văn với thi sĩ Vũ Hoàng Chương ở lớp Đệ Nhị C trường Trung học Chu Văn An, Sài Gòn. Tốt nghiệp Đại Học Văn Khoa Sài Gòn. Dạy học nhiều năm ở Việt Nam. Ở Hoa Kỳ, học và đậu về Chính Trị & Giáo Dục Đối Chiếu, chuyên về Trung Hoa. Đã về hưu.
  • Trần Mạnh Toàn: Ngoài một số chuyên khảo về Vũ Hoàng Chương, còn viết một số tiểu luận về một vài nhà thơ miên Nam như Đặng Tấn Tới, Nam Chữ, Bùi Giàng, Huy Tưởng, Nhất Hạnh.
  • Trần Ngọc Khôi: Đã xuất bản một số tập thơ, đồng thời sưu tầm và in lại nhiều thi phẩm của Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng và Nguyễn Bính.
  • Nguyễn Ngọc Dung: Yêu thích thơ Vũ Hoàng Chương từ tuổi 12, bây giờ cũng còn chép thơ ông vào sổ tay.

Trần Doãn Nho
(11/2026)


    Thứ Ba, 3 tháng 11, 2026

    QUẢN TRỊ AI:

     ĐÃ ĐẾN LÚC LIÊN HIỆP QUỐC PHẢI THỂ HIỆN VAI TRÒ LÃNH ĐẠO VỀ MÔI TRƯỜNG

    Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc cần kết nối các quốc gia và nhà phát triển trí thông minh nhân tạo, AI trong một chương trình nghị sự chung cho hành tinh.


    Tác giả: Phạm Phan Long, P.E.

    Ngày 3 tháng 11 năm 2026

    Nguồn: Asia Sentinel, ngày 3 tháng 11 năm 2026


    Lời giới thiệu: Hoa Kỳ và Trung Quốc đang cạnh tranh quyết liệt trong cuộc đua AI nhằm giành lợi thế vượt trội. Nhưng không vì thế mà chúng ta có thể mặc cho cuộc cạnh tranh này dẫn đến những tổn thất và bất công nghiêm trọng đối với xã hội, đồng thời đẩy hành tinh vượt quá những giới hạn an toàn sinh thái.

    Vai trò lãnh đạo của UN trong Nghị định thư Montreal là một tiền lệ đáng chú ý. UN đã góp phần đưa các quốc gia ngồi lại với nhau trên cơ sở bằng chứng khoa học và một khuôn khổ chung nhằm từng bước loại bỏ các chất làm suy giảm tầng ozone, mà không tự biến mình thành một cơ quan quản lý toàn cầu. AI đặt ra thách thức địa chính trị phức tạp hơn, nhưng bài học vẫn còn nguyên giá trị: hợp tác quốc tế có thể bắt đầu từ những bằng chứng chung, hành động tự nguyện và những lợi ích đã được chứng minh.

    Vai trò của UN sẽ là xây dựng một khuôn khổ môi trường chung để đánh giá dấu chân vật chất của AI, trong khi quyền quản lý và điều tiết vẫn thuộc về các chính phủ. Cả Hoa Kỳ lẫn Trung Quốc đều có những lý do thực tế để tham gia: AI phụ thuộc vào điện năng, nước, khoáng sản và cơ sở hạ tầng; trong khi tổn hại môi trường và những hạn chế về tài nguyên sẽ gây ra những chi phí thực sự.

    UN không thể buộc Hoa Kỳ và Trung Quốc hợp tác, nhưng có thể tạo điều kiện để sự hợp tác trở nên thiết thực và mang lại lợi ích cho cả hai bên. Các quốc gia và thể chế khác cũng có thể góp phần thúc đẩy những giải pháp khả thi, tạo động lực để ngày càng nhiều bên tham gia. Mục tiêu không phải là kiểm soát AI, mà là xây dựng một chiếc la bàn thể chế cần thiết để định hướng sự phát triển của công nghệ này trong giới hạn môi trường của hành tinh.

     





    Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc (UNEP) cần kết nối các quốc gia và nhà phát triển AI trong một chương trình nghị sự chung về môi trường toàn cầu, gắn kết các mục tiêu chung với những tiêu chuẩn có thể so sánh, cơ chế báo cáo minh bạch và trách nhiệm giải trình xuyên suốt toàn bộ vòng đời và dấu chân môi trường của AI. Các đánh giá tại địa phương phải chuyển hóa những cam kết này thành các quyết định phản ánh đúng điều kiện thực tế. Luật pháp quốc gia vẫn giữ vai trò thiết yếu, nhưng mục tiêu rộng lớn hơn phải là cùng nhau gìn giữ và bảo vệ hành tinh.

    AI Governance:

     It’s Time for UN Environmental Leadership

    The United Nations Environment Programme should bring nations and AI developers together under a shared planetary agenda.

     

    By Pham Phan Long, P.E.

    November 3, 2026

    Source: Asia Sentinel November 3, 2026



    The United Nations Environment Programme (UNEP) should bring nations and AI developers together under a shared planetary environmental agenda, connecting common goals with comparable standards, transparent reporting and accountability across AI’s full environmental footprint and lifecycle. Local assessments must translate these commitments into decisions that

    Public attention has focused on AI’s potential threats to humanity, from misuse and loss of control to risks to security and human rights. Far less attention has been paid to its growing physical footprint: the electricity, water, land and minerals required by AI infrastructure, and the resulting pressures on ecosystems and communities at a time when the planet is already under severe environmental stress.  

    Thứ Hai, 2 tháng 11, 2026

    Winning in the shadows:

     

    Sections
    The story of a ‘secret’ annual literary prize in Vietnam

     
    The ceremony for the 2017 Văn Việt literary prize. (Supplied)

    At the 10th Viet Literature Prize in 2024, which was open to Vietnamese-language writers around the world, a collection of poems by a young poet won the unanimous backing of the five-member jury: literary critic Lý Đợi, writer and Facebooker Thái Hạo, poet Ý Nhi, poet and painter Giáng Vân, and novelist Nguyễn Đức Tùng. The collection was named winner in the poetry category.

    Yet unlike the winners in the other categories of that edition (prose, criticism, translation and the chairman’s special award), neither the poet nor the winning collection was revealed.

    On the prize’s official website, the organizers said they would announce the winner’s name “at an appropriate time.”

    Two years on, the author and the poems remain a mystery to the public.

    The secrecy is not without reason. The organizers learned hard lessons early on. The caution dates back to 2018, when a young winner was harassed by police after accepting the prize. In 2022, another young winner was dissuaded by police from attending the award ceremony in Hồ Chí Minh City. On his way to the airport, he was reportedly beaten by strangers in front of police officers, for no apparent reason, and missed his flight and the ceremony. Since then, the organizers have decided to withhold the names of young winners who are living inside Vietnam to keep them safe.

    “To avoid disadvantaging talented writers, and to avoid leaving gaps in the prize’s record, the award-winning authors whose names are being temporarily withheld will be announced by Văn Việt at an ‘appropriate time,’” says Nguyễn Viện, a writer based in Hồ Chí Minh City and a member of the jury of the poetry category.

    The prize was officially launched in 2016 by the Independent Writers Club, or Văn Việt for short, a collective established in 2014 by 61 intellectuals led by the eminent writer Nguyên Ngọc, a former colonel and former deputy of the National Assembly. It has never received recognition from the Vietnamese government.

    Despite the constitutionally guaranteed freedom of association, Vietnam does not allow fully independent nongovernment organization. While the motto “Independence — Freedom — Happiness” has headed Vietnam’s official documents since 1945, the government grows wary of “independence” when anyone outside the state claims it. A legally recognized collective must be affiliated with a state agency and, once approved, needs permission for every single project. Yet Nguyên Ngọc and his colleagues have refused to compromise their autonomy, undeterred by shrinking civil liberties. They have founded the collective without registration, published banned books on their own website, brought politically sensitive news stories to public attention, raised their own funds, held annual awards and connected with Vietnamese-language writers and enthusiasts overseas. Staying unauthorized, however, does not mean enjoying unfettered freedom. Despite risks, the group continues its work true to their slogan, “for a free and humane Vietnamese literature,” to prevent literary talents from fading into oblivion. 

    Chiến thắng trong bóng tối

    Câu chuyện về một giải thưởng văn học thường niên ‘bí mật’ tại Việt Nam

    Hướng Thiện, Mekong Indepentdent 1.11.2026

    Văn Việt dịch và chú thích,  Thứ Ba, 3 tháng 11, 2026


    Trao Giải Văn Việt năm 2017

    Tại Giải thưởng Văn học Việt lần thứ 10 vào năm 2024 – giải thưởng mở cửa cho các cây bút tiếng Việt trên toàn thế giới – một chùm thơ của một nhà thơ trẻ đã giành được sự ủng hộ tuyệt đối từ hội đồng xét giải 5 thành viên: nhà phê bình văn học Lý Đợi, nhà văn kiêm người dùng Facebook Thái Hạo, nhà thơ Ý Nhi, nhà thơ kiêm họa sĩ Giáng Vân, và tiểu thuyết gia Nguyễn Đức Tùng. Chùm thơ này đã được đoạt giải ở hạng mục thơ ca.

    Tuy nhiên, không giống như những người chiến thắng ở các hạng mục khác trong năm đó (văn xuôi, phê bình, dịch thuật và giải thưởng đặc biệt của chủ tịch), cả tác giả lẫn tập thơ đoạt giải đều không được tiết lộ.

    Trên trang web chính thức của giải thưởng, ban tổ chức cho biết họ sẽ công bố tên người chiến thắng “vào thời điểm thích hợp”.

    Hai năm trôi qua, tác giả và những bài thơ ấy vẫn là một bí ẩn đối với công chúng.

    Sự che giấu này không phải là không có lý do. Ban tổ chức đã rút ra những bài học xương máu từ sớm. Sự thận trọng bắt đầu từ năm 2018, khi một nhà văn trẻ đoạt giải bị công an quấy rối sau khi nhận giải. Đến năm 2022, một người chiến thắng trẻ tuổi khác đã bị công an khuyên không tham dự lễ trao giải tại Thành phố Hồ Chí Minh. Trên đường ra sân bay, anh được cho là đã bị những kẻ lạ mặt hành hung không vì lý do gì rõ ràng ngay trước mặt công an, khiến anh lỡ chuyến bay và bỏ lỡ lễ trao giải. Kể từ đó, ban tổ chức quyết định giữ kín tên của những người đoạt giải trẻ tuổi[1] đang sống trong nước để giữ an toàn cho họ. 

    THE NEW CLASS AND RED CRONY CAPITALISM

     From Milovan Djilas (1957) to Vietnam (2026)

     

    Cover of Milovan Djilas’s The New Class: An Analysis of the Communist System, first published in 1957. Shown here is the Harcourt/HBJ American edition.

     

    Ngo The Vinh

    Essay | October 31, 2026

    ABSTRACT

     

    This essay examines the emergence of politically and economically privileged strata in Vietnam through the theoretical lens of Milovan Djilas’s The New Class (1957), against the backdrop of the transition from a centrally planned economy to a market economy following the Đổi Mới economic reforms of 1986.

    Drawing on scholarship on Vietnam’s political economy and data on economic growth, income distribution, and wealth concentration, the essay analyzes the contrast between economic development and the unequal distribution of its benefits. It also emphasizes that economic inequality, by itself, is insufficient to establish the existence or influence of a politically privileged class.

    On this basis, the essay explores the relationship between public authority and private interests, particularly the phenomenon of red crony capitalism, while raising questions about institutional transparency and accountability in Vietnam’s economic development.

     

    KEYWORDS

     

    New Class; Milovan Djilas; Red Crony Capitalism; Vietnam; Đổi Mới (Economic Reforms); Political Power and Economic Interests; Wealth Inequality; Accountability.

     

    INTRODUCTION

     

    In The New Class: An Analysis of the Communist System (1957), Milovan Djilas, a former Yugoslav communist leader, identified a fundamental paradox: a system committed to building a classless society could nevertheless produce a new privileged stratum that monopolized political authority and controlled economic resources.

    Nearly seven decades later, Vietnam presents a question worthy of investigation: after forty years of Đổi Mới (1986–2026), does the concentration of political power, together with privileged access to land, public assets, and economic opportunities, reflect the emergence of a stratum sharing characteristics of the New Class described by Djilas?

    Answering this question requires moving beyond political assertions and relying on verifiable evidence and political-economic research. The central issue is not merely who owns assets, but who has the authority to allocate national resources, who benefits from those decisions, and what mechanisms ensure transparency and public accountability.

    This is also a book I read more than once during my early university years, a period of youthful aspirations and questions about society’s future.

     

    The photograph accompanying “Hoover Acquires Milovan Djilas Literary Archives” shows Milovan Djilas (1911–1995), author of The New Class, on the left, and William “Bill” Jovanovich (1920–2001), Djilas’s friend and the publisher at Harcourt Brace Jovanovich, on the right. Taken at Princeton University in spring 1968; courtesy of Aleksa Djilas, historian and son of Milovan Djilas. 

    Thứ Sáu, 30 tháng 10, 2026

    GIAI CẤP MỚI VÀ TƯ BẢN ĐỎ

      

    Từ Milovan Djilas (1957) đến Việt Nam (2026) 

     

    Bìa sách The New Class: An Analysis of the Communist System (Giai Cấp Mới: Phân Tích Hệ Thống Cộng Sản) của Milovan Djilas, xuất bản lần đầu năm 1957. Hình trên là ấn bản của Harcourt/HBJ, Hoa Kỳ.


    Ngô Thế Vinh 

    Tiểu luận | 31 Tháng 10 năm 2026

     

    TÓM TẮT / ABSTRACT

    Bài viết khảo sát sự hình thành tầng lớp đặc quyền chính trị và kinh tế tại Việt Nam dưới góc nhìn lý thuyết Giai cấp mới (The New Class, 1957) của Milovan Djilas, trong bối cảnh chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường sau Đổi Mới năm 1986.

    Dựa trên các công trình nghiên cứu về kinh tế chính trị Việt Nam, cùng những số liệu về tăng trưởng, phân phối thu nhập và tập trung tài sản, bài viết phân tích sự tương phản giữa thành tựu phát triển kinh tế và tình trạng phân phối không đồng đều những thành quả ấy. Đồng thời, bài viết nhấn mạnh rằng bất bình đẳng kinh tế, tự nó, chưa đủ để chứng minh sự tồn tại hoặc tác động của một giai cấp đặc quyền chính trị.

    Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát mối quan hệ giữa quyền lực công và lợi ích tư, đặc biệt qua hiện tượng tư bản đỏ bè cánh (red crony capitalism), đồng thời đặt ra những vấn đề về tính minh bạch thể chế và trách nhiệm giải trình trong tiến trình phát triển kinh tế Việt Nam.

     

    TỪ KHÓA / KEYWORDS

    Giai cấp mới (New Class); Milovan Djilas; Tư bản đỏ bè cánh (Red Crony Capitalism); Việt Nam (Vietnam); Đổi Mới (Economic Reforms); Quyền lực chính trị và lợi ích kinh tế (Political Power and Economic Interests); Bất bình đẳng tài sản (Wealth Inequality); Trách nhiệm giải trình (Accountability).

     

    LỜI DẪN NHẬP

    Trong The New Class: An Analysis of the Communist System (1957), Milovan Djilas, cựu lãnh đạo cộng sản Nam Tư, đã chỉ ra một nghịch lý căn bản: một hệ thống chủ trương xây dựng xã hội không giai cấp vẫn có thể sản sinh một tầng lớp đặc quyền mới, nắm giữ quyền lực chính trị và chi phối các nguồn lực kinh tế.

    Gần bảy thập niên sau, thực tế Việt Nam đặt ra một câu hỏi đáng khảo sát: sau bốn mươi năm Đổi Mới (1986–2026), liệu sự tập trung quyền lực chính trị, cùng những đặc quyền trong tiếp cận đất đai, tài sản công và cơ hội kinh tế, có phản ánh sự hình thành một tầng lớp mang những đặc điểm của Giai cấp mới mà Djilas từng mô tả?

    Để trả lời, cần vượt ra ngoài những nhận định mang tính chính trị, dựa trên các chứng cứ thực tế và những nghiên cứu kinh tế chính trị có thể kiểm chứng. Vấn đề cốt lõi không chỉ là ai nắm giữ tài sản, mà còn là ai có quyền quyết định việc phân bổ nguồn lực quốc gia, ai được hưởng lợi từ những quyết định ấy, và những cơ chế nào bảo đảm tính minh bạch cùng trách nhiệm giải trình trước xã hội.

    Đây cũng là một cuốn sách mà người viết đã hơn một lần đọc trong những năm đầu đại học, giữa một thời tuổi trẻ nhiều khát vọng và những câu hỏi về tương lai xã hội.

    *



    Bức ảnh trong bài 
    “Hoover Acquires Milovan Djilas Literary Archives” có hai nhân vật, bên trái: Milovan Djilas (1911–1995), tác giả The New Class, bên phải: William “Bill” Jovanovich (1920–2001), người bạn của Djilas, nhà xuất bản Harcourt Brace Jovanovich. Ảnh chụp tại Princeton University, mùa xuân năm 1968, do Aleksa Djilas, sử gia và cũng là con trai của Milovan Djilas, cung cấp.

    *

    MILOVAN DJILAS: TIỂU SỬ TÓM LƯỢC

    Milovan Djilas (12/6/1911 – 20/4/1995) là nhà cách mạng, chính khách, nhà văn và nhà tư tưởng chính trị người Nam Tư, sinh tại Montenegro. Ông từng thuộc nhóm bốn lãnh đạo cao cấp nhất của Đảng Cộng sản Nam Tư, bên cạnh Josip Broz Tito, Edvard Kardelj và Aleksandar Ranković, trước khi trở thành một trong những nhân vật bất đồng chính kiến nổi bật của thế giới cộng sản thời Chiến tranh Lạnh.

    Gia nhập Đảng Cộng sản Nam Tư năm 1932, Djilas tham gia phong trào kháng chiến chống phát xít trong Thế chiến thứ hai và trở thành cộng sự thân cận của Tito. Sau chiến tranh, ông giữ nhiều chức vụ quan trọng, trong đó có Chủ tịch Quốc hội Nam Tư (1953–1954).

    Từ đầu thập niên 1950, Djilas ngày càng bất đồng với giới lãnh đạo cộng sản. Những bài viết năm 1953–1954 phê phán đặc quyền của tầng lớp cầm quyền và đề nghị mở rộng tự do chính trị đã dẫn đến việc ông bị loại khỏi ban lãnh đạo năm 1954.

    Năm 1957, tác phẩm nổi tiếng nhất của ông, The New Class: An Analysis of the Communist System (Giai cấp mới: Phân tích hệ thống cộng sản), được xuất bản tại Hoa Kỳ. Cuốn sách đánh dấu bước chuyển quan trọng của Djilas từ một nhà lãnh đạo cộng sản trở thành một nhà phê bình có ảnh hưởng lớn đối với chính hệ thống mà ông từng góp phần xây dựng.

    Trải qua nhiều đợt tù đày, với tổng thời gian bị giam giữ khoảng chín năm, Djilas được trả tự do năm 1966. Ông tiếp tục viết và phê phán chế độ độc đảng cho đến cuối đời. Ông mất tại Belgrade ngày 20/4/1995, hưởng thọ 83 tuổi.

     

    I. MILOVAN DJILAS VÀ KHÁI NIỆM GIAI CẤP MỚI 

    Cuốn sách đã gây tiếng vang lớn, không chỉ vì những luận điểm phê bình hệ thống chính trị cộng sản, mà còn vì tác giả từng giữ vị trí quan trọng ngay trong cơ cấu lãnh đạo của hệ thống ấy. 

    Djilas đặt ra một câu hỏi căn bản: nếu một cuộc cách mạng chủ trương xóa bỏ sự phân chia giai cấp, vì sao sau khi giành được chính quyền lại có thể hình thành một tầng lớp được hưởng những ưu thế đặc biệt về chính trị, kinh tế và đời sống? Câu hỏi ấy vẫn còn sức gợi mở khi nhìn lại bốn mươi năm Đổi Mới, bắt đầu từ năm 1986 tại Việt Nam, nơi nền kinh tế thị trường phát triển trong khuôn khổ một hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. 

    Nam Tư thời Djilas là một hệ thống xã hội chủ nghĩa với nền kinh tế chủ yếu do nhà nước quản lý. Việt Nam ngày nay đã có một khu vực kinh tế tư nhân, đầu tư quốc tế, thị trường tài chính và sự xuất hiện những doanh nghiệp lớn. Chính trong bối cảnh ấy, câu hỏi đặt ra là liệu có đang hình thành một tầng lớp có ưu thế đặc biệt nhờ sự kết hợp giữa quyền lực chính trị và khả năng tiếp cận các nguồn lực kinh tế. 

    Khi Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và giữ vai trò quyết định trong phân bổ nhiều nguồn lực quan trọng, vấn đề minh bạch và trách nhiệm giải trình càng cần được quan tâm: ai thực sự có quyền quyết định, ai được hưởng lợi và những cơ chế nào có thể bảo đảm sự công bằng? 

    Luận điểm chính của Djilas là trong một hệ thống cộng sản, tầng lớp quan chức đảng và nhà nước có thể trở thành một giai cấp nắm quyền chi phối, dù trên danh nghĩa không sở hữu nhà máy hay ruộng đất theo cách của các nhà tư bản cổ điển. Quyền sở hữu pháp lý thuộc về nhà nước, nhưng quyền bổ nhiệm, điều hành, phân phối và sử dụng tài nguyên lại tập trung vào những người có vị trí trong bộ máy quyền lực. 

     

    Djilas đặc biệt chú ý đến khoảng cách giữa lý tưởng bình đẳng được tuyên bố và những ưu đãi trong thực tế dành cho người giữ chức vụ trong hệ thống chính trị. Ông không chỉ bàn về tiền bạc. Nhà ở, phương tiện đi lại, cơ hội học hành, điều kiện chăm sóc sức khỏe, khả năng thăng tiến của con cái, quyền tiếp cận thông tin và những ưu thế khác đều có thể trở thành biểu hiện của địa vị xã hội. 

     

    Những ưu thế ấy không nhất thiết được ghi nhận thành quyền sở hữu cá nhân. Chúng có thể tồn tại thông qua một hệ thống phân phối dựa trên chức vụ, quan hệ và sự trung thành chính trị. Một đóng góp quan trọng của Djilas là giúp người đọc phân biệt ba vấn đề: tài sản đứng tên ai; ai thực sự quyết định việc sử dụng tài sản; và cuối cùng, ai được hưởng lợi từ những quyết định đó. Một tài sản được xác định là thuộc sở hữu toàn dân vẫn có thể được sử dụng theo hướng ưu tiên lợi ích của một nhóm nhỏ nếu thiếu những cơ chế kiểm tra độc lập, tính minh bạch và trách nhiệm giải trình (transparency and accountability).

     

    Bài viết không chủ trương đồng nhất tầng lớp lãnh đạo chính trị Việt Nam hiện nay với mô hình giai cấp mới của Djilas năm 1957. Tuy nhiên, những đặc quyền trong việc kiểm soát và phân bổ nguồn lực kinh tế, cùng các trường hợp lạm dụng quyền lực đã được xét xử, cho thấy những cơ chế đáng khảo sát về sự chuyển hóa quyền lực chính trị thành lợi ích kinh tế. Vấn đề đặt ra không chỉ là sự tồn tại của những cá nhân tham nhũng, mà còn là liệu những điều kiện thể chế có tạo thuận lợi cho sự hình thành và duy trì một tầng lớp đặc quyền kinh tế hay không.