Thứ Năm, 5 tháng 3, 2026

Mémoires de Phạm Duy, un musicien Vietnamien dans un siècle tourmenté

Quatre Volumes: 

I. Devenir adulte dans le Nord (1921 - 1945)

II. La Résistance (1946 - 1951) 

III. La Période de Division Nord-Sud (1951 - 1975)

IV. Mon Séjour à l'Étranger (1975 - 1999) 

AVEC L'AIMABLE AUTORISATION DE CORNELL UNIVERSITY PRESS 


ÉDITÉ PAR ERIC HENRY
TRADUIT PAR ERIC HENRY

BROCHÉ
34,95 $
LIVRE NUMÉRIQUE
23,99 $
Précommande

Mémoires de Phạm Duy, un musicien vietnamien dans un siècle tourmenté raconte l’histoire des triomphes, des scandales et des aventures du compositeur le plus prolifique du Vietnam. Né en 1921, Phạm Duy atteint l’âge adulte sous la domination coloniale, rejoint la résistance anti-française, puis devient une voix majeure de la République du Sud avant de venir aux États-Unis en exil après 1975. Ces mémoires en quatre volumes, traduits en anglais par Eric Henry avec clarté et soin, couvrent un siècle d’histoire vietnamienne tel qu’il a été vécu, chanté et interrogé par un conteur infatigable voué à la liberté d’expression.

La traduction nuancée de Henry restitue les complexités d’une vie vécue à travers des régimes, des idéologies et des continents. Tout au long de Mémoires de Phạm Duy, un musicien vietnamien dans un siècle tourmenté, les lecteurs rencontrent des souvenirs vivants d’artistes, de révolutionnaires, d’exilés et de la vie quotidienne — offrant un regard intime sur les intersections entre politique, culture et mémoire personnelle dans le Vietnam mouvementé du XXᵉ siècle. Le résultat est une archive culturelle rare, riche de paroles de chansons, de critiques politiques et de réflexions sur l’identité, l’exil et l’expression artistique.

À la fois profondément personnel et historiquement vaste, ce mémoire constitue un témoignage essentiel sur le Vietnam moderne et ses résonances à l’échelle mondiale.

Eric Henry est maître de conférences émérite au département d’études asiatiques de l’Université de Caroline du Nord. Il est le traducteur de The Garden of Eloquence.


Les mémoires emblématiques de Phạm Duy accomplissent un exploit rare : en humanisant les tumultes du XXᵉ siècle vietnamien, elles nous rappellent que tous n’en furent pas prisonniers. Une traduction essentielle et opportune.
— Charles Keith, auteur de Subjects and Sojourners

Un important musicien vietnamien du XXᵉ siècle raconte son rôle dans la nouvelle musique apparue dans les années 1940, avec une profusion de détails sur les poètes, les compositeurs, les interprètes et les chansons — le récit d’une jeunesse peu intéressée par les événements politiques qui remplissent presque tous les autres ouvrages consacrés au Vietnam moderne.
— K. W. Taylor, auteur de A History of the Vietnamese

 

ISBN-13 : 9781501785214
Date de publication : 15/05/2026
Pages : 336
Illustrations : 10 planches en demi-teintes noir et blanc
Dimensions : 6 × 9 × 0 pouces

Memoirs of Phạm Duy, A Vietnamese Musician in a Turbulent Century

Four Volumes: 

I. Coming of Age in the North (1921-1945)

II. War of Resistance (1946-1951)

III. The Period of North-South Division (1951-1975)

IV. My Sojourn Abroad (1975-1999)


Memoirs of Phạm Duy, a Vietnamese Musician in a Turbulent Century                                                 Courtesy of Cornell university press

                                                 

EDITED BY ERIC HENRY

TRANSLATED BY ERIC HENRY

Pre-Order

Memoirs of Phạm Duy, A Vietnamese Musician in a Turbulent Century tells the story of the triumphs, scandals, and adventures of Vietnam's most prolific songwriter. Born in 1921, Phạm Duy came of age during colonial rule, joined the anti-French resistance, and later became a major voice of the southern Republic before coming to the United States as an exile after 1975. This four-volume memoir, translated into English by Eric Henry with clarity and care, spans a century of Vietnamese history as lived, sung, and questioned by an unrelenting truthteller dedicated to freedom of expression. 

Henry's nuanced translation captures the complexities of a life lived across regimes, ideologies, and continents. Throughout Memoirs of Phạm Duy, A Vietnamese Musician in a Turbulent Century, readers encounter vivid recollections of artists, revolutionaries, exiles, and everyday life—offering an intimate view into the intersections of politics, culture, and personal memory in Vietnam's turbulent twentieth century. The result is a rare cultural archive, rich with song lyrics, political critique, and reflections on identity, exile, and artistic expression.

At once deeply personal and historically expansive, this memoir is an essential record of modern Vietnam and its global resonances.

Eric Henry is Senior Lectutrer Emeritus inthe Deparptment of Asian Studies at the university of North Carolina. He is the translator of The Garden of Eloquence.

  1. Phạm Duy's iconic memoir achieves a rare feat: by humanizing the tumult of Vietnam's twentieth century, it reminds us that not all were its captives. An essential and timely translation.

    Charles Keith, author of Subjects and Sojourners

    An important twentieth-century Vietnamese musician recounts his role in the new music that emerged in the 1940s with a storehouse of detail about poets, composers, performers, and songs, a youth uninterested in the political events filling nearly every other book about modern Vietnam.

    K. W. Taylor, author of A History of the Vietnamese
    1. ISBN13: 9781501785214

      Publication date: 05/15/2026

      Pages: 336

      Illustrations: 10 b&w halftones

      Dimensions: 6 x 9 x 0 in

     

Hồi ký của Phạm Duy – Một nhạc sĩ Việt Nam trong thế kỷ đầy biến động


Tập 1: Trưởng thành ở miền Bắc (1921 - 1945)  
Tập II: Thời kỳ Kháng chiến (1946 -1951) 
Tập III: Thời kỳ phân chia Bắc-Nam (1951-1975) 
Tập IV: Thời kỳ ở nước ngoài (1975 - 1999)

 

   TƯ LIỆU CỦA NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC CORNELL



Eric Henry

Nhà xuất bản Cornell University Press, 15/5/2026 – Khoa học xã hội – 336 trang

 

Hồi ký của Phạm Duy – Một nhạc sĩ Việt Nam trong thế kỷ đầy biến động* kể lại cuộc đời nhiều vinh quang, tranh cãi và phiêu lưu của một trong những nhạc sĩ sáng tác nhiều và có ảnh hưởng nhất của Việt Nam. Sinh năm 1921, Phạm Duy lớn lên trong thời kỳ Việt Nam còn dưới ách thuộc địa. Ông từng tham gia kháng chiến chống Pháp, sau đó trở thành một tiếng nói quan trọng của nền văn hóa miền Nam trước năm 1975, rồi sang Hoa Kỳ sống lưu vong sau biến cố lịch sử.

 

Bộ hồi ký gồm bốn tập này được Eric Henry chuyển ngữ sang tiếng Anh với sự cẩn trọng và sáng rõ. Qua đó, người đọc được theo dõi gần như trọn vẹn một thế kỷ lịch sử Việt Nam – được nhìn, được sống và được kể lại qua góc nhìn thẳng thắn của một nghệ sĩ luôn đề cao tự do biểu đạt.

 

Bản dịch tinh tế của Henry tái hiện đầy đủ những phức tạp của một cuộc đời trải qua nhiều chế độ chính trị, nhiều hệ tư tưởng và nhiều châu lục khác nhau. Xuyên suốt cuốn sách là những hồi ức sinh động về các nghệ sĩ, những người hoạt động cách mạng, những người sống lưu vong cũng như đời sống thường nhật của xã hội Việt Nam. Tất cả tạo nên một cái nhìn gần gũi về sự giao thoa giữa chính trị, văn hóa và ký ức cá nhân trong thế kỷ XX đầy biến động của đất nước.

 

Cuốn hồi ký vì thế không chỉ là câu chuyện đời của một nhạc sĩ, mà còn là một tư liệu văn hóa hiếm có, chứa đựng lời ca, những suy tư chính trị và những chiêm nghiệm sâu sắc về bản sắc, lưu vong và sáng tạo nghệ thuật.


Vừa thấm đẫm dấu ấn cá nhân sâu sắc, vừa mở rộng trên phông nền lịch sử rộng lớn, cuốn hồi ký này là một chứng tích quan trọng về Việt Nam hiện đại cùng những dư vang của nó trên toàn thế giới.


Về dịch giả (2026)

 

Eric Henry là Giảng viên cao cấp danh dự (Senior Lecturer Emeritus) thuộc Khoa Nghiên cứu châu Á của Đại học North Carolina. Ông cũng là dịch giả của cuốn The Garden of Eloquence.

 


Thông tin thư mục

 

Tựa sách: Hồi ký của Phạm Duy – Một nhạc sĩ Việt Nam trong thế kỷ đầy biến động: Trưởng thành ở miền Bắc (1921–1945)

Biên tập và Dịch: Eric Henry

Nhà xuất bản: Cornell University Press, 2026

ISBN: 1501785230; 9781501785238

Số trang: 336

 

Chủ đề:

 

Tiểu sử – Hồi ký

Lịch sử châu Á / Đông Nam Á

Khoa học xã hội / Nghiên cứu văn hóa & dân tộc / Nghiên cứu châu Á


Nhận định: 

Hồi ký mang tính biểu tượng của Phạm Duy đạt được một điều hiếm có: bằng cách nhân bản hóa những biến động dữ dội của Việt Nam trong thế kỷ XX, tác phẩm nhắc nhở chúng ta rằng không phải ai cũng là tù nhân của những biến động ấy. Một bản dịch thiết yếu và kịp thời.
Charles Keith, tác giả Subjects and Sojourners

Một nhạc sĩ Việt Nam quan trọng của thế kỷ XX kể lại vai trò của mình trong nền tân nhạc xuất hiện từ thập niên 1940, với kho chi tiết phong phú về các nhà thơ, nhạc sĩ, ca sĩ biểu diễn và những bài hát, cùng hình ảnh một tuổi trẻ ít quan tâm đến các biến cố chính trị vốn chiếm gần như mọi trang sách khác viết về Việt Nam hiện đại.
K. W. Taylor, tác giả A History of the Vietnamese




 

 

Thứ Sáu, 20 tháng 2, 2026

Những hứa hẹn và hiểm họa của Hiệp định sông Mekong năm 1995 sau 30 năm

Tác giả: Phạm Phan Long, P.E.
Tháng hai 2026

Giới thiệu: Ba mươi năm — Thịnh vượng trong hiểm họa

Hiệp định Mekong năm 1995 là nền tảng của sự hợp tác cho Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam – qua đó các quốc gia thành viên long trọng hứa hẹn sẽ tôn trọng công bằng, không gây tổn hại cho nhau và cùng chung quản lý sông Mekong. Ủy hội sông Mekong, MRC là cơ quan được lập ra với nhiệm vụ quản lý, quan trắc kiểm soát dòng nước, chia sẻ dữ liệu, điều hợp tham vấn các dự án trên sông và bảo vệ sự lành mạnh cho lưu vực. Nhân dịp Lễ Kỷ Niệm 30 Năm ngày thành lập, tháng 11 năm 2025, MRC mô tả cho lưu vực một thành tích vẻ vang là đạt được: "Thịnh vượng chung“. Các quan chức MRC nhấn mạnh khả năng cảnh báo lũ lụt, nghiên cứu môi trường, lập quy hoạch phát triển, và cả những nhượng bộ (bất đắc dĩ) của Đối Tác Trung Quốc về việc chia sẻ dữ liệu dòng chảy của Lạn Thương giang, thượng nguồn sông Mekong trên Vân Nam.

MRC tuyên bố rằng "làm việc cùng nhau là con đường duy nhất để tiến lên" với "các giải pháp mới" để giữ cho sông Mekong trở thành "dòng sông của sự sống, không phải xung đột", những lời hứa hùng biện lạc quan quen thuộc này đã vang vọng trong 30 năm. Trên thực tế, sông Mekong đã và đang phải đối diện với "một cái chết bởi cả ngàn vết cắt"—đó là sự suy thoái tích lũy của lưu vực của các con đập thủy điện, của cát tặc và lâm tặc, làm chu trình thủy văn biến đổi, cướp đi vai trò điều tiết tự nhiên của Hồ Tonle Sap. Khi Sông Mekong đứng trước những nguy hại kể trên, MRC chú trọng vào lời nói nhiều hơn hành động cụ thể. Ở bước cao nhất và cuối cùng của PNPCA, Hội Đồng Thành Viên Quốc Gia-MRC Council Members đàm phán nhưng tệ liệt vì không hề đạt được quyết định hủy bỏ hay thông qua một dự án thủy điện nào suốt 30 năm qua.

Thứ Tư, 18 tháng 2, 2026

Thứ Năm, 12 tháng 2, 2026

BÚT, NGHIÊN, GIẤY, MỰC _ Nguyễn Duy Chính

 



Thời thượng cổ, người Trung Hoa ghi lại những điều cần nhớ bằng cách thắt nút dây (kết thằng) hay vạch trên gỗ. Khoảng bốn nghìn năm trước, họ bắt đầu dùng vạch để tượng trưng cho một số những gì mắt thấy tai nghe. Phương pháp dùng hình vẽ diễn tả đời sống được gọi là phép tượng hình (pictograph) và dần dần được phát triển để thành chữ viết.

Theo những nhà nghiên cứu thì văn tự Trung Hoa không phải là phép tượng hình lâu đời nhất của nhân loại. Nhiều dân tộc khác, chẳng hạn như Ai Cập cũng dùng hình vẽ để mô tả sự việc trước người Trung Hoa cả mấy trăm năm. Thế nhưng chữ Hán là thứ chữ tượng hình gần như duy nhất còn tồn tại và sử dụng đến ngày nay. Và quan trọng hơn hết, chữ viết của họ lại chuyên chở một phần lớn sinh hoạt, vũ trụ quan cũng như nhân sinh quan của họ. Phép viết chữ, phép hội họa, nội dung và ý nghĩa toàn cục kết thành một khối không thể tách rời, luôn luôn là một biểu tượng chính xác cho tác giả của nó. 

Người Trung Hoa gọi bút, giấy, mực, nghiên là văn phòng tứ bảo nghĩa là bốn món đồ quí của chốn làm văn, trung gian chuyên chở ngôn ngữ, ý nghĩa và nghệ thuật. Người Tàu đã chế tạo được giấy từ hai nghìn năm và đến thế kỷ thứ XVI, khi ngành in đã tương đối phát triển thì sách vở của họ tính ra tổng số nhiều hơn toàn thế giới gom lại. Khi Âu Châu vẫn còn chưa có một hệ thống văn tự thì cung đình nước Tàu đã có được một tàng thư các chứa đến 50,000 quyển sách. Từ thế kỷ thứ VI, người Trung Hoa đã có một hệ thống giáo dục và thi cử để tuyển dụng nhân tài thay thế cho hình thức đề bạt, tiến cử.[1]

VÓ NGỰA VÀ CÁNH CUNG _ Nguyễn Duy Chính

  


Ở trên là tác phẩm của

Vương Hoài Khánh (王懷慶 – Wang Huaiqing)

 nhan đề Bá Nhạc (Bole, a Wise Old Man Who Knows How to Choose Horses) - 1980. Sáng tác sau cuộc Cách Mạng Văn Hóa của Trung Quốc

Tranh sơn dầu, trưng bày tại National Art Gallery Collection, Beijing 1980 

Miêu tả cảnh Bá Nhạc đau lòng khi trông thấy một con tuấn mã bị bắt đi kéo một chiếc cối xay lúa. 

Trích trong The New Chinese Painting (1949-1986)

của Joan Lebold Cohen (Harry N. Abrams, Inc. 1987) tr. 78


Ngựa nghe nói, tím gan, nổi phổi,
Liền chạy ra hầm hí vang tai :
"Ớ ! này, này, tao bảo chúng bay,
Ðố mặt ai dài bằng mặt ngựa ?

(Lục súc tranh công)

 

LỜI MỞ ÐẦU

Mấy câu thơ dẫn thượng là phần mở đầu của Con Ngựa trong tác phẩm Lục Súc Tranh Công học hồi đệ Thất (lớp 6) mà nay người viết còn nhớ được. Con ngựa là một sinh vật quan trọng có ảnh hưởng lớn đến lịch sử phát triển của loài người, chắc chắn phải có nhiều điều đáng nói hơn cái tự hào hết sức lạc quan kia.

Ở nước ta, con ngựa không quan trọng bằng con trâu, con lợn (heo) – và cũng hiếm có – nhưng ở Trung Hoa cũng như trong lịch sử nhân loại, vai trò của nó to lớn hơn nhiều. Có lẽ vì ngựa không phải là một con vật bản địa nên chúng ta ít thấy ngoài những con ngựa ở trường đua và mấy con ngựa còm, đầu có một túm lông gà uể oải kéo xe thổ mộ khá thông dụng ở miền Nam vài chục năm trước. 

Trong ngôn ngữ thường ngày người Tàu chúc tụng nhau bằng câu Mã Ðáo Thành Công (馬到成功) và khi nói tới một nghệ thuật phi phàm ngưòi ta mô tả bằng bốn chữ Thiên Mã Hành Không (天馬行空). Người Trung Hoa cũng thường treo những bức tranh tám con ngựa dưới nhan đề “Bát Tuấn Ðồ”. 

Ngựa là một con vật ảnh hưởng nhiều đến văn hóa Trung Hoa. Trong mười hai con giáp, con Ngựa tượng trưng cho năm Ngọ, nằm giữa năm Tị (con Rắn) và năm Mùi (con Cừu theo người Trung Hoa và con Dê theo Việt Nam). Trong văn chương và hội họa, ngựa lại càng quan trọng, nhiều thời kỳ con vật này được coi như một đề tài phổ thông và nhiều danh sĩ nổi danh gắn liền với tài vẽ ngựa như Hàn Cán (韓幹 - Han Gan), Vương Duy (王維 - Wang Wei), Lý Công Lân (李公麟 - Li Gonglin) đời Ðường, Triệu Mạnh Phủ (趙孟頫 - Zhao Mengfu), Nhiệm Nhân Phát (任仁發 - Ren Renfa) đời Nguyên. Tuy nhiên nổi tiếng hơn cả có lẽ là họa sĩ Giuseppe Castiglione, một nhà truyền giáo người Ý được giữ lại trong cung nhà Thanh dưới Hán danh Lang Thế Ninh (郎世寧 - Lang Shining). Ông vẽ nhiều bức tranh truyền thần màu rất đẹp, trong đó có những bức tranh vẽ người Tây Vực tiến cống ngựa. Ngoài ra chúng ta còn thấy rất nhiều điêu khắc, tượng, hình ảnh lịch sử có liên quan đến con vật, đóng góp một phần không nhỏ vào việc tìm hiểu văn hóa cổ thời.

Ngựa trở thành một biểu tượng cho quyền quí và thanh cao từ đời Ðông Chu khi người ta đề cập đến “thiên lý mã”, là những con bảo câu có thể chạy nghìn dặm một ngày (khoảng 300 km ngày nay). Người nổi tiếng nhất trong những tướng sư chuyên coi tướng ngựa là Tôn Dương (孫陽 - Sun Yang), sống vào khoảng thế kỷ thứ VII trước TL. Vì tài của ông, người ta gọi ông là Bá Nhạc (hay Lạc – 伯樂 - Bole) là tên chòm sao Scorpio được coi là cai quản các giống thiên mã trên trời. Bá Nhạc xem xét xương và cấu trúc của con ngựa rồi có thể nói đúng các đặc tính của nó, và ông chỉ cần liếc qua con ngựa nào trong chợ là con đó tăng giá ngay.

Người ta còn huyền thoại hóa rằng Bá Nhạc có thần giao với giống ngựa nên một con bảo mã bị bắt phải kéo xe, trông thấy ông liền hí lên khiến ông phải xuống vừa vỗ về con vật vừa khóc. Hàn Dũ đời Hán cũng đã từng viết rằng nếu không có Bá Nhạc thì không có tuấn mã cũng như không có vua hiền thì không có tôi trung để khuyến khích các bậc quân vương trọng dụng người hiền tài.

Ngày nay còn truyền lại một cuốn Mã Kinh (馬經 - Classic of Judging Horses) tương truyền là do Bá Nhạc viết, trong đó nói rằng thiên lý mã có mười lăm xương sườn thay vì mười như ngựa thường.[1] Chính vì thế nhiều họa sĩ đã vẽ những bức tranh ngựa còm (emaciated horse) với dụng ý nhắc nhở con người là gian khổ giúp chúng ta mạnh mẽ hơn.

Lịch sử nước Tàu, trong chính sử cũng như trong tiểu thuyết đã nhắc nhở đến tên nhiều con ngựa nổi tiếng chẳng hạn con Xích Thố của Quan Vũ trong Tam Quốc Chí, con Ô Truy của Hạng Vũ trong Tây Hán Chí, hay con Hoàng Phiêu của Tần Quỳnh (Thúc Bảo) trong Thuyết Ðường. Trên thực tế những con bảo mã đó không phải là yếu tố quyết định thành bại của chủ tướng như những tiểu thuyết gia thêm mắm dặm muối, mà vai trò của loài ngựa như một phương tiện di chuyển hay dụng cụ chiến tranh mới thực sự quan trọng. Cũng tương tự, cây cung là dụng cụ săn bắn gắn liền với sinh hoạt của loài người không biết từ bao giờ nhưng xuất hiện khắp mọi nơi, từ rừng sâu núi thẳm đến những quốc gia đã văn minh nhưng cũng chỉ là một trong nhiều loại vũ khí khác nhau của con người nguyên thủy.

Tuy nhiên, chỉ khi người du mục ở Trung Á biết kết hợp sức mạnh và lợi điểm của cây cung liên hợp (composite bow) với sức di động (mobility) của giống ngựa vùng mạc bắc, họ mới tạo thành được sức mạnh khủng khiếp để trở thành một đế quốc hùng mạnh vào thế kỷ XIII, XIV. Ðế quốc đó như một vết dầu loang, lan rộng sang khắp vùng Tây Á, tiêu diệt những quốc gia hết sức bạo tợn và dũng mãnh trong thế giới Hồi giáo và Thiên Chúa giáo rồi theo đà tràn xuống miền nam chiếm lĩnh cả một khu vực văn minh bậc nhất thế giới là nước Trung Hoa.

Một điều lạ là sức mạnh tưởng như vô địch đó lại bị chặn đứng bởi những quốc gia nhỏ bé vùng Ðông Nam Á, trong đó có Ðại Việt. Những quốc gia đó có chung một mẫu số là biết khai thác cái sở trường của mình, dựa lưng vào thành lũy thiên nhiên, dùng chiến tranh du kích để tiêu hao, lấy trường kỳ nhàn nhã để chống với nhọc mệt. 

Riêng trong bài này, chúng tôi muốn xuyên qua vai trò giống ngựa và cây cung của những bộ tộc du mục để đưa ra cái tương phản của khung cảnh thế giới vào thời đại Nguyên – Mông, cái ưu thắng của người biết vận dụng phương tiện chiến tranh vào việc chinh phục những khu vực khác, đồng thời cũng nhắc đến sự diệu dụng của một dân tộc còn rất sơ khai đã đem cái “đoản” của mình để chống với cái “trường” của địch.