Thứ Sáu, 25 tháng 9, 2026

LỜI GIỚI THIỆU NHẬT KÝ AN LỘC CỦA BS NGUYỄN VĂN QUÝ


Một Y Sĩ Tiền Tuyến giữa 86 ngày đêm lửa đạn

 

BS NGÔ THẾ VINH


Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ Mùa Hè Đỏ Lửa 1972.

Thời gian đủ dài để những chiến trường năm xưa trở thành địa danh trong quân sử: Kontum, An Lộc, Quảng Trị. Những bản đồ hành quân đã ngả màu, những đơn vị tham chiến đã giải thể, nhiều người lính của cả hai phía không còn nữa. Nhưng chiến tranh, nếu chỉ được nhớ bằng những mũi tên đỏ xanh trên bản đồ, bằng số xe tăng bị bắn cháy hay những con số thương vong, thì vẫn còn thiếu một phần rất quan trọng: số phận con người ở bên trong cuộc chiến ấy.


Nhật Ký An Lộc của Bác sĩ Nguyễn Văn Quý giữ lại cho chúng ta phần ký ức đó.


Tôi được đọc cuốn sách này từ trước năm 2002 dạng bản thảo khi anh Từ Mẫn Võ Thắng Tiết, Giám đốc Nhà xuất bản Văn Nghệ California gửi cho tôi và cho biết đang chuẩn bị xuất bản tác phẩm này.  Trước hết không phải như đọc một tác phẩm quân sử. Tôi đã đọc Nhật Ký An Lộc từ tâm thế của một người cùng thế hệ, cùng bước ra từ một trường Y khoa Sài Gòn, và cũng từng khoác áo lính và hiểu rằng đối với một người thầy thuốc trong quân đội, có một thời điểm mà khoảng cách giữa giảng đường và chiến trường chỉ còn được tính bằng vài dặm đường.


Và ở An Lộc năm 1972, với Nguyễn Văn Quý, khoảng cách ấy gần như không còn nữa.


TỪ ĐẠI HỌC Y KHOA SÀI GÒN ĐẾN AN LỘC

Nguyễn Văn Quý tốt nghiệp Đại học Y khoa Sài Gòn năm 1967, là con trai độc nhất trong một 

gia đình mà mẹ là quả phụ và em gái. Lẽ ra được miễn quân dịch Quý vẫn tình nguyện gia 

nhập Khóa 10 Y Sĩ Trưng Tập năm 1968. Ban đầu, anh phục vụ trong một Trung đòn Bộ binh. 

Sau mấy cuộc hành quân và đụng trận, chứng kiến tổn thất thương vong, anh nhận ra mình 

không thể làm được nhiều giữa trận địa, anh đã xin theo học khoá Giải Phẫu Dã chiến tại Tổng 

Y Viện Cộng Hoà. Một năm sau, anh tốt nghiệp và chọn về phục vụ tại Bệnh viện Tiểu khu 

Bình Long vì nơi này gần gia đình.

Anh tới Bình Long ngày 13 tháng 4 năm 1971.

Gần đúng một năm sau, chiến tranh tìm tới tận cửa bệnh viện.

Tháng 4 năm 1972, cuộc Tổng Công Kích Mùa Hè bắt đầu. Sau khi Lộc Ninh thất thủ, An Lộc 

trở thành mục tiêu của những cuộc tấn công dữ dội. Quốc lộ 13 bị cắt. Thành phố bị vây. Tiếp 

tế chủ yếu trông vào không vận. Pháo kích diễn ra ngày đêm. Quân nhân và thường dân 

thương vong ngày một nhiều.

Bệnh viện Bình Long từ một bệnh viện tỉnh nhỏ với trang bị thật thô sơ, bỗng trở thành một 

bệnh viện tiền tuyến.

Nguyễn Văn Quý từ một bác sĩ giải phẫu trở thành một Y Sĩ Tiền Tuyến đúng theo nghĩa trọn 

vẹn và khắc nghiệt nhất của danh xưng ấy.

Đó cũng là điểm khiến Nhật Ký An Lộc có một vị trí riêng.

Đã có nhiều sách viết về An Lộc từ góc nhìn của các đơn vị tác chiến, của những cấp chỉ huy, 

của các phóng viên chiến trường. Nhưng Nguyễn Văn Quý nhìn trận đánh từ một nơi khác: 

bàn mổ.

Ở đó, bản đồ hành quân được thay bằng những thân thể đầy thương tích.

Ở đó, một cuộc tấn công không được đo bằng số chiến xa xuất hiện ngoài phòng tuyến, mà 

bằng số thường dân và thương binh được khiêng vào bệnh viện.

Và ở đó, mỗi phút đều có thể là khoảng cách giữa sống và chết.


NHẬT KÝ ĐƯỢC VIẾT KHI CHƯA BIẾT NGÀY MAI

Có một khác biệt căn bản giữa nhật ký và hồi ký.

Người viết hồi ký đã biết kết thúc của câu chuyện. Người viết nhật ký thì không.

Nguyễn Văn Quý ghi lại những ngày An Lộc khi anh đang sống trong biến cố ấy. Anh không 

biết trận đánh sẽ kéo dài bao lâu. Không biết thành phố có đứng vững hay không. Và cũng 

không biết chính mình có sống để đọc lại những dòng đang viết.

Theo lời tác giả, lúc đầu anh còn có thể ghi chép khá đều. Nhưng khi chiến trận ngày càng 

khốc liệt, thương binh tràn vào bệnh viện, công việc giải phẫu liên tục, có những khoảng thời 

gian anh không còn thì giờ cầm bút.

Những khoảng trống ấy không phải là khuyết điểm của cuốn nhật ký.

Ngược lại, chúng là dấu vết trung thực của chiến tranh.

Có những ngày không thể viết được, bởi vì người bác sĩ phải dành từng giờ, từng phút cho 

những người đang chờ được cứu sống.

Ba mươi năm sau, tập nhật ký mới được xuất bản thành sách tại California năm 2002. Khoảng 

cách ba thập niên ấy cho phép tác giả bổ sung và sắp xếp một số dữ kiện, nhưng phần cốt lõi 

vẫn mang sức nóng của những ghi chép tại chỗ.

Và điều đáng chú ý hơn nữa: Nguyễn Văn Quý ban đầu không viết với ý nghĩ mình đang để 

ại một tài liệu lịch sử.

Anh viết cho gia đình.

Anh nghĩ rằng nếu mình chết ở An Lộc, mẹ và các em sau này ít nhất sẽ biết anh đã sống 

những ngày cuối cùng như thế nào.

Từ một động cơ rất riêng tư ấy, lịch sử đã giữ lại được một chứng từ.


254 CUỘC GIẢI PHẪU LỚN

Trong những con số của Nhật Ký An Lộc, có một con số khiến tôi dừng lại rất lâu:

254 cuộc giải phẫu lớn.

Nguyễn Văn Quý ghi nhận trong thời gian trận An Lộc, Anh đã thực hiện 254 trường hợp giải 

phẫu lớn, với sáu trường hợp tử vong tại chỗ; còn những thương binh sau mổ được di tản đi 

nơi khác thì anh không thể theo dõi được kết quả.

Với một bác sĩ, con số 254 không đơn thuần là một thống kê.

Mỗi ca là một con người.

Một vết thương bụng.

Một lồng ngực bị xuyên thủng.

Một cánh tay hay một chân không còn có thể giữ lại.

Một người lính mất quá nhiều máu.

Một người dân vừa được khiêng ra từ một căn nhà trúng pháo.

Và trước mỗi bệnh nhân là một chuỗi quyết định mà người bác sĩ phải đưa ra trong vài phút, 

đôi khi vài giây, với phương tiện hết sức giới hạn.

Ở một bệnh viện dân sự thời bình, bác sĩ giải phẫu có phòng mổ, ánh sáng, dụng cụ, ngân hàng máu, thuốc men, ê-kíp gây mê và các chuyên khoa hỗ trợ.

Ở An Lộc, tất cả những điều ấy có thể thiếu.

Chỉ có thương binh thì không thiếu.

Đọc những trang ấy, một người đã học và hành nghề y sẽ hiểu thêm sức nặng của hai chữ giải 

phẫu trong hoàn cảnh chiến trường.

Không còn là một ca mổ lý tưởng như trong sách giáo khoa.

Đó là y khoa của lựa thương.

Ai phải mổ ngay?

Ai có thể chờ?

Phần chân tay nào còn cứu được?

Khi nào một phần của thân thể phải cắt đi để cứu mạng?

Lượng huyết thanh ít ỏi còn lại dành cho ai?

Đó là những câu hỏi không một sinh viên y khoa nào muốn gặp, nhưng người Y Sĩ Tiền Tuyến 

có thể phải trả lời hàng ngày.


TRUYỀN THỐNG Y SĨ TIỀN TUYẾN

Nguyễn Văn Quý không phải một trường hợp đơn độc.

Anh thuộc về một thế hệ bác sĩ miền Nam mà chiến tranh đã đưa từ giảng đường vào quân 

đội.

Sau khi tốt nghiệp, nhiều bác sĩ trẻ gia nhập các khóa Y Sĩ Trưng Tập, rồi được đưa về các 

quân y viện, bệnh viện tiểu khu, sư đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn hay những đơn vị tác chiến 

tổng trừ bị.

Họ có mặt từ Đồng Bằng Cửu Long tới Cao nguyên, từ miền Đông Nam phần tới vùng giới 

tuyến.

Có người làm việc trong những quân y viện lớn.

Có người sống với một đơn vị ngoài mặt trận, mang theo một túi y cụ nhỏ hơn rất nhiều so với 

nhu cầu của những thương tích mà họ sắp phải đối diện.

Họ là một thành phần của Quân Y Việt Nam Cộng Hòa, nhưng trước hết họ vẫn là những 

người thầy thuốc.

Đó là một nét cần được nhắc lại khi nói về truyền thống Y Sĩ Tiền Tuyến.

Người bác sĩ mặc quân phục, có cấp bậc và đơn vị. Nhưng khi một thương binh được đặt trước 

mặt mình, bổn phận y khoa vượt lên trên những phân chia khác.

Trong Nhật Ký An Lộc, bệnh nhân không chỉ có quân nhân Việt Nam Cộng Hòa. Còn có 

thường dân, người già, phụ nữ, trẻ em, và cả những người lính phía bên kia khi họ trở thành 

thương binh.

Một người đang chảy máu trên bàn mổ không còn là một khẩu hiệu chính trị.

Đó là một bệnh nhân.

Tôi nghĩ đây chính là phần đẹp nhất của truyền thống Quân Y: giữa một cuộc chiến mà 

nhiệm vụ của người lính là chiến đấu, nhiệm vụ của người thầy thuốc vẫn là cứu người.

Hai bổn phận ấy cùng tồn tại trong một bộ quân phục.


LÒNG CAN ĐẢM KHÔNG CẦN ĐƯỢC NÓI RA 

Điều tôi quý ở Nguyễn Văn Quý là anh không viết để dựng cho mình một tượng đài.

Trong sách có sợ hãi.

Có mệt mỏi.

Có lo âu.

Có những giây phút con người rất bình thường trước cái chết.

Và chính điều ấy làm cuốn sách đáng tin hơn.

Can đảm không phải là không biết sợ.

Người bác sĩ nghe tiếng pháo vẫn biết sợ như bất cứ ai. Nhưng khi thương binh được khiêng 

vào, anh vẫn trở lại bàn mổ.

Không cần một câu tuyên bố nào khác.

Có lẽ hình ảnh tiêu biểu nhất về Nguyễn Văn Quý ở An Lộc không phải hình ảnh một người 

cầm súng, mà là một bác sĩ cúi xuống một bệnh nhân trong khi bên ngoài pháo vẫn rơi.

Ở đó, lòng can đảm không mang hình thức của một cuộc xung phong.

Nó là sự ở lại.

Ở lại với bệnh viện.

Ở lại với thương binh.

Ở lại với trách nhiệm của một người thầy thuốc khi chính mạng sống của mình cũng không 

được bảo đảm.


MỘT CHỨNG TỪ Y KHOA VÀ MỘT CHỨNG TỪ NHÂN BẢN

Đọc Nhật Ký An Lộc hơn nửa thế kỷ sau, chúng ta có thể đọc cuốn sách trên nhiều tầng.

Đó là một tài liệu về trận An Lộc.

Đó là một chứng từ về đời sống của một thành phố bị vây hãm.

Đó là một tài liệu hiếm về hoạt động y tế và giải phẫu trong điều kiện chiến tranh.

Nhưng đối với tôi, giá trị lâu dài hơn cả vẫn là tính cách nhân bản.

Chiến tranh thường biến con người thành những con số.

Bao nhiêu chết.

Bao nhiêu bị thương.

Bao nhiêu mất tích.

Bao nhiêu tù binh.

Nhưng người bác sĩ không được phép nhìn bệnh nhân như một con số.

Trước mắt anh là một khuôn mặt.

Một cái tên.

Một mạch đập đang yếu dần.

Một huyết áp đang tụt xuống.

Một sinh mạng mà mình phải tìm cách giữ lại.

Vì vậy, nếu người lính ngoài chiến hào phải chiến đấu để giữ An Lộc, thì những người trong 

bệnh viện cũng có một mặt trận khác.

Mỗi sinh mạng cứu được là một phần đất của sự sống được giành lại từ chiến tranh.


ĐàHƠN NỬA THẾ KỶ SAU

Thế hệ chúng tôi nay đã đi rất xa khỏi tuổi hai mươi, ba mươi của những năm chiến tranh.

Nhiều bạn đồng môn đã mất.

Nhiều đồng đội không còn.

Những người từng sống sót qua An Lộc năm 1972 nay cũng ngày một ít đi.

Bởi vậy, việc tái bản Nhật Ký An Lộc không chỉ là đưa trở lại lưu hành một cuốn sách đã xuất 

bản từ năm 2002.

Đó còn là một hành động gìn giữ ký ức.

Ký ức ấy không cần được tô đậm thêm bằng những mỹ từ.

Những gì Nguyễn Văn Quý đã ghi lại đủ sức tự nói.

Và cũng không nên đọc cuốn sách này chỉ để tìm thêm những lý lẽ cho những tranh luận thắng 

thua kéo dài từ một cuộc chiến đã kết thúc hơn nửa thế kỷ.

Hãy đọc nó để hiểu một thế hệ.

Một thế hệ sinh viên y khoa vừa rời giảng đường đã mặc quân phục.

Một thế hệ bác sĩ chưa kịp có một phòng mạch riêng đã có một đơn vị.

Một thế hệ học cách cứu người trong khi chung quanh là chiến tranh.

Trong thế hệ ấy có Nguyễn Văn Quý.

Và trong 86 ngày đêm ở An Lộc, anh đã sống trọn vẹn căn cước của một Y Sĩ Tiền Tuyến.

Khi gấp lại những trang cuối của Nhật Ký An Lộc, điều còn lại trong tôi không phải tiếng đại 

bác, cũng không phải những bản đồ hành quân.

Tôi nghĩ tới một căn phòng mổ nhỏ giữa thành phố bị vây khổn.

Ngoài kia, chiến tranh vẫn đang tìm cách lấy đi mạng sống.

Bên trong, một người bác sĩ vẫn đang tìm cách giữ lại từng mạng người.

Hai sức mạnh đối nghịch ấy gặp nhau trên một bàn mổ.

Và có lẽ không có hình ảnh nào nói rõ hơn ý nghĩa của nghề y giữa chiến tranh.

Người lính có thể được lệnh rời một vị trí.

Nhưng người thầy thuốc không thể rời một thương binh đang cần mình.

Đó là Nguyễn Văn Quý ở An Lộc năm 1972.

Đó cũng là một nét đẹp cần được ghi nhớ trong truyền thống Y Sĩ Tiền Tuyến, Quân Y Việt 

Nam Cộng Hòa.

Và đó là lý do, hơn nửa thế kỷ sau, Nhật Ký An Lộc vẫn cần được tái bản, lưu giữ và trao lại 

cho những thế hệ mai sau.


Hướng tới một ấn bản Anh ngữ học thuật

Lần tái bản 2026 này đồng thời mở ra một hướng đi kế tiếp: chuẩn bị ấn bản Anh ngữ của 

Nhật Ký An Lộc, nhằm đưa một chứng từ Việt Nam từ chiến trường An Lộc vào không 

gian nghiên cứu quốc tế. Trong tiến trình ấy, sự trao đổi và đóng góp của các học giả về 

Chiến tranh Việt Nam, lịch sử Đông Nam Á và quân y sẽ được trân trọng đón nhận.

Với dẫn nhập lịch sử, niên biểu, bản đồ, tư liệu, chú giải và thư mục chọn lọc, ấn bản tương 

lai hy vọng góp thêm một nguồn tư liệu trực tiếp của người Việt cho nghiên cứu về chiến 

tranh, y học và trải nghiệm con người.



BS NGÔ THẾ VINH 

Long Beach, tháng 9, 2026







 

Thứ Tư, 23 tháng 9, 2026

Cảm Nhận Khi Đọc Nhật Ký An Lộc

Góc nhìn của một Bác sĩ quân y 

đến An Lộc sau cuộc chiến 1972

BS Thân Trọng An

 


BS Thân Trọng An gặp lại anh chị BS Nguyễn Văn Quý tại Nam California trong dịp Hội ngộ Kỷ niệm 50 năm ngày chiến thắng An Lộc 1972 – 2022. [Photo by Vĩnh Chánh]



Nhân dịp sửa soạn tái bản cuốn Nhật Ký An Lộc của Bác sĩ Nguyễn Văn Quý, tôi được yêu cầu viết đôi điều cảm nhận về cuốn sách.

Tôi đến phục vụ tại Bệnh viện Tiểu Khu Bình Long cuối năm 1973, hơn một năm sau trận An Lộc, trong cương vị một y sĩ giải phẫu. Vì vậy, khi đọc Nhật Ký An Lộc, tôi không chỉ đọc một chứng từ chiến tranh mà còn gặp lại một nơi chốn và một môi trường quân y mà chính mình từng sống và làm việc. 


Cảm nhận

Trong sách, anh Quý viết:

“Có thể nói thế hệ chúng tôi là một thế hệ không may mắn, đã sinh ra trong chiến tranh, trưởng thành trong chiến tranh, và nay chính thức gia nhập chiến tranh. Trong suốt cuộc đời lớn lên của những người thuộc thế hệ chúng tôi, không bao giờ là không nghe thấy tiếng súng.”

Câu ấy nói lên hoàn cảnh của cả một thế hệ và cũng giúp người đọc hiểu những lựa chọn của anh. Đủ điều kiện hoãn dịch, anh vẫn tình nguyện nhập ngũ, muốn có thêm kinh nghiệm sống và từng nghĩ tới việc chọn một đơn vị Tổng Trừ Bị. Khi An Lộc trở thành chiến trường khốc liệt, những lựa chọn ấy đưa người y sĩ trẻ vào một thử thách mà có lẽ chính anh cũng không thể hình dung trước. 

Lên An Lộc với chức vụ Y sĩ Giải phẫu, trong những ngày đầu của cuộc tử thủ, khi người chỉ huy đi vắng, anh vừa phải lo giải phẫu vừa đảm trách công việc của bệnh viện. Anh không tự mô tả mình như một người không biết sợ. Khi được hỏi có sợ không, anh trả lời thẳng: “có chứ”. Nhưng giữa pháo kích, thiếu thốn và hiểm nguy, là y sĩ giải phẫu duy nhất, anh vẫn phải tiếp tục công việc, có khi trực suốt ngày đêm.

Giữa những trang viết về thương vong và bom đạn vẫn xuất hiện những chi tiết rất đời thường: một lần thoát chết tình cờ khi quả pháo rơi đúng nơi anh thường ngủ, những câu nói đùa với nhân viên, một chút dí dỏm giữa căng thẳng. Chính những chi tiết ấy khiến Nhật Ký An Lộc không chỉ có chiến tranh. Trong đó còn có nỗi sợ, sự may rủi, tình đồng đội và những nét rất người. 

 

Những ứng biến quân y tại An Lộc

Một phần đặc biệt đáng chú ý trong nhật ký là những ứng biến y khoa trong điều kiện chiến trường.

Khi còn ở Trung Đoàn Xung Kích 43, Sư Đoàn 18 Bộ Binh, anh dùng dung dịch Nitrate Bạc 0,5% để chữa trị và phòng lở loét chân cho binh sĩ phải lội sình lầy. Trước và trong trận chiến, anh tổ chức việc lựa thương, phòng cấp cứu, phòng mổ, trại bệnh, dụng cụ y dược, lương thực và nơi tiếp nhận thương binh.

Khi không còn lò hấp và thiếu thuốc khử trùng, anh sử dụng Eau de Javel pha loãng, xà bông hoặc alcool để xử lý dụng cụ. Khi thiếu vật liệu khâu, có lúc nylon cột bao cát được dùng làm chỉ khâu đóng thành bụng trong những trường hợp mổ lớn. Anh còn cho người quan sát bầu trời để đề phòng những kiện tiếp tế bằng dù rơi trúng bệnh viện.

Những chi tiết tưởng nhỏ ấy cho thấy một y sĩ ở An Lộc không chỉ phải làm công việc chuyên môn. Trong điều kiện phương tiện ngày càng cạn kiệt, người thầy thuốc còn phải liên tục ứng biến để duy trì hoạt động của bệnh viện và bảo vệ bệnh nhân cùng nhân viên. 

 

Một người thầy thuốc giữa chiến trường

Qua nhật ký, người đọc có thể hình dung hoàn cảnh mà Bác sĩ Quý và nhân viên quân dân y phải chịu đựng: pháo kích triền miên, thương vong dồn dập, thiếu nước, thiếu thực phẩm, thiếu thuốc men và dụng cụ, xác chết không kịp chôn. Có lúc phải ăn gạo sấy ngâm nước lạnh, uống nước dè sẻn từng nắp bi đông, nhiều ngày không thể tắm rửa.

Chính trong môi trường ấy, giá trị của cuốn nhật ký hiện ra rõ nhất: đây không chỉ là ký ức về một trận đánh mà còn là chứng từ của một người thầy thuốc phải cứu người trong những điều kiện gần như không còn điều kiện để hành nghề. 

Nhật ký cũng ghi lại những nỗi lo rất thật của người trong cuộc: không chỉ pháo kích của đối phương mà cả nguy cơ bị bỏ bom nhầm hoặc bị bỏ lại nếu tình hình quân sự thay đổi. Trong một cuộc trao đổi với Thiếu tá Nguyễn Kiếm Diệm, tác giả còn ghi lại những băn khoăn về tương lai miền Nam nếu Hoa Kỳ rút quân, về tham nhũng và niềm tin của dân chúng. Những ghi chép tại chỗ ấy góp thêm một lớp tư liệu về tâm trạng của người trong cuộc giữa chiến tranh. 


An Lộc của BS Quý và An Lộc tôi đến sau đó

Khi tôi đến An Lộc cuối năm 1973, hơn một năm sau trận chiến, một số nhân viên và dấu tích được nhắc tới trong nhật ký vẫn còn đó. Tôi từng làm việc trong căn hầm cạnh Bộ Chỉ huy Tiểu Khu, từng mổ trong điều kiện thiếu phương tiện khử trùng; có lúc pháo kích làm mất điện giữa cuộc mổ, nhân viên phải dùng đèn pin soi để tiếp tục.

Những trải nghiệm ấy giúp tôi hình dung cụ thể hơn hoàn cảnh mà Nguyễn Văn Quý và các đồng nghiệp đã phải đối diện trong những tháng khốc liệt của năm 1972. Những gì tôi gặp năm 1973 đã khó khăn, nhưng không thể so sánh với thời điểm An Lộc phải hứng chịu pháo kích liên tục, trong khi thương binh và thường dân bị nạn dồn về bệnh viện và phương tiện y tế ngày càng cạn kiệt. 

 

Một chứng từ của người trong cuộc

Nhật Ký An Lộc có sức thuyết phục trước hết vì người viết không đứng ngoài trận chiến. Anh vừa là người quan sát, vừa là người trực tiếp chịu pháo kích, mổ xẻ, cấp cứu, lo thực phẩm, chỗ trú ẩn và đối diện với cái chết của bệnh nhân cũng như của chính mình. Anh ghi lại cả những lúc sợ hãi, những điều mình tin, những chuyện dí dỏm và những băn khoăn về thời cuộc. Chính những chi tiết đời thường ấy làm cho bức tranh An Lộc có chiều sâu con người.

Điều tôi quý ở những trang viết ấy là tác giả không tô mình thành một người không biết sợ. Sự can đảm hiện ra qua công việc hằng ngày nhiều hơn qua những lời tự ca ngợi.

Hơn nửa thế kỷ sau, đọc lại Nhật Ký An Lộc, điều còn lại không chỉ là câu chuyện quân sự. Đó còn là một phần lịch sử của ngành Quân Y trong chiến tranh, của những bác sĩ, y tá, dược sĩ, quân nhân và thường dân đã phải tìm mọi cách duy trì sự sống giữa một thành phố bị vây hãm. 

 

Thay lời kết

Có lẽ hình ảnh người thầy thuốc trong Nhật Ký An Lộc được chính Nguyễn Văn Quý nói lên giản dị nhất:

“Tôi sẽ cố gắng trong khả năng của tôi để cứu sống họ, cố giữ cho họ được toàn vẹn thân thể. Phải cắt đi một bàn tay hay một cẳng chân của người khác là một điều tôi không bao giờ muốn vì nó làm tôi đau lòng không ít.”

Hơn nửa thế kỷ sau, có lẽ chính những dòng giản dị ấy nói rõ nhất giá trị nhân bản còn lại của Nhật Ký An Lộc: chứng từ của một người thầy thuốc cố gắng cứu người giữa những giới hạn khắc nghiệt nhất của chiến tranh.

 

BS Thân Trọng An

Chủ bút Tập San Y Sĩ VN Canada 

Montréal, tháng 9.2026

   


 

 

Thứ Ba, 22 tháng 9, 2026

Lời Tựa 2 Cho lần tái bản "Nhật Ký An Lộc" 2026

BS NGUYỄN VĂN QUÝ  




Thời gian thấm thoắt trôi qua. Hơn nửa thế kỷ đã lùi xa kể từ Mùa Hè Đỏ Lửa 1972. Những vết thương năm xưa đã khép miệng, nhưng ký ức về những ngày sống chết nơi chiến trường An Lộc vẫn còn nguyên trong tâm trí những người từng đi qua lửa đạn.

Hơn hai mươi năm trước, khi NHẬT KÝ AN LỘC lần đầu ra mắt độc giả vào năm 2002, một ngàn bản in đã nhanh chóng được đón nhận. Cuốn sách ban đầu chỉ xuất phát từ một ý nguyện giản dị: ghi lại cho gia đình biết những gì tôi đã trải qua nơi tiền tuyến. Nhưng sự đồng cảm của độc giả đã vượt ngoài mong đợi. Nhiều bạn bè, người quen sau khi đọc sách mới ngạc nhiên nhận ra những góc khuất tâm hồn và những tình cảm vốn ẩn sau vẻ ngoài kín đáo, ít nói của một bác sĩ giải phẫu dã chiến.

Theo thời gian, Nhà xuất bản Văn Nghệ đóng cửa, bản thảo điện tử cũng bị thất lạc. Cuốn sách sau đó được scan và lưu truyền dưới dạng PDF, rồi được thu âm thành audiobook trên YouTube, phần lớn không có sự đồng ý của tác giả. Dẫu vậy, bằng một con đường ngoài dự liệu, Nhật Ký An Lộc vẫn tiếp tục đến với những lớp độc giả mới.

Năm 2021, một nhóm cựu học sinh Chu Văn An, ra trường trước năm 1975, đã liên lạc xin phép đánh máy lại toàn bộ tác phẩm từ bản in, với dự tính tái bản nhân kỷ niệm 50 năm trận An Lộc (1972–2022). Dự định ấy sau cùng không thành, một phần vì sách đã được phổ biến khá rộng trên mạng, phần khác vì trong thời đại kỹ thuật số, thói quen đọc và mua sách giấy cũng đã thay đổi nhiều.

Mới đây, sự xuất hiện trở lại của một cuộc phỏng vấn thực hiện cách nay khoảng mười lăm năm đã bất ngờ khơi dậy nhiều ký ức. Khi ấy, một phóng viên Đài Truyền hình Dân Sinh từ San Jose xuống Orange County gặp tôi để tìm hiểu thêm về những ngày đêm tại Bệnh viện Tiểu khu Bình Long trong thời gian An Lộc bị tấn công và bao vây. Cuộc trò chuyện được phổ biến trở lại đã khiến nhiều bạn bè, đồng nghiệp nhớ về một thời lửa đạn, đồng thời khơi lại ý định đưa cuốn sách trở về với người đọc.

Trong lần tái bản này, tôi đặc biệt cảm ơn Bác sĩ Ngô Thế Vinh, một bác sĩ quân y, nhà văn và người nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực môi sinh, đã khuyến khích và tiếp thêm động lực cho tôi. Chính anh, từ bản in đầu tiên, đã đề nghị đổi tên bản thảo từ Bệnh Viện Tiểu Khu Bình Long thành NHẬT KÝ AN LỘC: 86 Ngày của Một Bác Sĩ Giải Phẫu tại Mặt Trận. Nhan đề ấy không chỉ giúp cuốn sách đến gần người đọc hơn mà còn nói lên khá đầy đủ hoàn cảnh đặc biệt của những trang nhật ký này. Với kinh nghiệm của một bác sĩ quân y cùng thế hệ, anh cũng chia sẻ sâu sắc những giới hạn, trách nhiệm và nỗi day dứt của người thầy thuốc giữa chiến trường.

Bác sĩ Ngô Thế Vinh còn vận động sự hỗ trợ của Viet Ecology Press (VEP) và nhóm bạn Tập San Y Sĩ Canada (TSYS), do Bác sĩ Thân Trọng An chủ bút. Các thân hữu VEP và TSYS đã nhiệt tình đảm nhận chi phí trình bày, thiết kế bìa và xuất bản với phương thức in theo nhu cầu (Print on Demand), nhờ đó cuốn sách có thể được lưu trữ và tiếp tục phát hành lâu dài.

Vì VEP và TSYS đều hoạt động trên tinh thần phi lợi nhuận, tôi đồng ý cho tái bản với một đề nghị: toàn bộ lợi nhuận từ việc bán sách, nếu có, sẽ được đóng góp vào quỹ hỗ trợ các Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hòa hiện còn gặp nhiều khó khăn tại quê nhà.

Trận An Lộc đã lùi xa, nhưng tình đồng đội, nghĩa đồng bào và giá trị nhân bản của sự sống vẫn còn đó. Năm mươi bốn năm nhìn lại, tôi xem những trang nhật ký này trước hết như chứng từ của một bác sĩ trẻ sống giữa một thành phố bị bao vây, ngày đêm đối diện với thương tích, cái chết và giới hạn của khả năng cứu người.

Tôi giữ nguyên những trang viết ấy, kể cả những xúc động và nhận định của một người trẻ trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, bởi chính dấu ấn của thời điểm đã làm nên giá trị của một chứng từ. Lần tái bản này vì thế không chỉ nhằm đưa một cuốn sách cũ trở lại với người đọc, mà còn để lưu giữ và chuyển trao một phần ký ức.

Tôi mong những thế hệ không trải qua chiến tranh, khi đọc NHẬT KÝ AN LỘC, sẽ hiểu thêm rằng phía sau mỗi trận đánh, mỗi địa danh và mỗi con số thương vong, bao giờ cũng là những con người cụ thể, với nỗi đau, tình thương, lòng can đảm và một sự sống cần được gìn giữ.

 

BS Nguyễn Văn Quý, 

California tháng 9, 2026

 

Thứ Hai, 21 tháng 9, 2026

Ngọn lửa thiêng Vũ Hoàng Chương

50 năm ngày giỗ Vũ Hoàng Chương (1976–2026). 

Trịnh Y Thư: 

Phát biểu của Trịnh Y Thư nhân buổi lễ Tưởng niệm 50 năm ngày qua đời của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương, ngày 20 tháng 9 năm 2026 tại Quận Cam, California.

Hôm nay, chúng ta cùng nhau họp mặt trong không gian trang trọng này để tưởng niệm 50 năm ngày qua đời của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương, một trong những tiếng thơ độc đáo và rực sáng nhất của thi ca Việt Nam thế kỷ XX. Nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng ánh lửa từ thơ ông vẫn còn cháy, âm thầm mà mãnh liệt, trong tâm tư những người yêu thơ, yêu văn chương.

Vũ Hoàng Chương là thi sĩ của men say và lửa cháy, của đam mê và cô độc, của cõi thế và tâm linh, của một tâm hồn luôn kiếm tìm cái đẹp tuyệt đối giữa những biến động khốc liệt của đất nước mà thế hệ, thời đại ông gánh chịu. Ông bước vào thi đàn với phong thái riêng: cổ điển mà phóng túng, u hoài mà rực rỡ, như một người đứng giữa giao lộ của truyền thống và hiện đại, mang theo tiếng thở dài của phương Đông và nỗi khắc khoải hoài nghi của kiếp nhân sinh.

Thơ ông không chỉ là những câu chữ hoặc vần điệu; đó là một khí chất, một cách sống, một cuộc đối thoại với định mệnh. Khi đọc Vũ Hoàng Chương, tai ta như nghe được tiếng vọng của trăng tàn, tiếng nấc của cuộc rượu, tiếng gọi của tự do, thứ tự do mà ông nâng niu đến tận cuối đời; mắt ta thấu thị từng góc cạnh ngõ ngách của nỗi đau kiếp người. Dù cuộc đời ông trải qua nhiều khúc quanh nghiệt ngã, thơ ông vẫn giữ được sự thanh sạch của một tâm hồn hướng về cái đẹp, cái thiện, và sự thật. 

TIN SÁCH II: Nhật Ký An Lộc sắp tái bản 2026

 Nhật ký An Lộc _ Cuốn nhật ký bỏ quên

Giao Chỉ Vũ Văn Lộc (1933–2025)



Đây là một bài điểm sách của nhà văn nhà báo Giao Chỉ Vũ Văn Lộc, viết ngày 26.12.2011, chín năm sau ngày Nhật Ký An Lộc được Nhà Xuất bản Văn Nghệ California phát hành năm 2002. 




Bìa trước cuốn Nhật Ký An Lộc do Hoạ sĩ Khánh Trường trình bầy,        Văn Nghệ California xuất bản lần đầu tiên năm 2002. 

                                           
         Cuốn sách 470 trang của bác sĩ giải phẫu tại mặt trận viết về 86 ngày tại An Lộc quả thực là tác phẩm hay nhất mà tôi đọc lần thứ hai trong năm 2011. 

        Giả thuyết đây là chuyện binh đoàn Mỹ bị vây tại Khe Sanh hay lính Liên hiệp Pháp bị vây tại Điện Biên Phủ thì dù kết quả ra sao, câu chuyện của một y sĩ giải phẫu duy nhất tại tiền tuyến như bác sĩ Nguyễn văn Quý cũng làm cho tác phẩm trở thành một Best Seller trên thị trường sách vở tây phương.

        Bằng một giọng văn của một bác sĩ trẻ tuổi, hết sức đơn giản, viết về những chuyện thực sự đã xẩy ra trong khoảng 3 tháng trên chiến trường Bình Long, tác phẩm đã làm cho độc giả hết sức xúc động.

        Bác sĩ Quý đã ghi lại dưới hình thức hồi ký những chuyện xẩy ra đầu tháng 4-1972 tại An Lộc cho đến khi rời khỏi Bình Long vào tháng 8-1972.
        Sau đó những trang nhật ký dường như bị bỏ quên cho đến khi tác giả ở lại Việt Nam, đi tù “cải tạo” rồi vượt biên. Khi đoàn tụ tại Hoa Kỳ cô em gái giữ được các trang nhật ký đã trao lại cho anh. Mãi đến năm 2002 cuốn sách mới được duyệt lại và do nhà Văn nghệ xuất bản.

        Quả thực tôi không rõ năm 2002 tác phẩm đã phát hành bao nhiêu cuốn. Được đáp ứng ra sao. Tuy nhiên hiện nay sách không còn thấy trong các tiệm sách. Cuốn sách tôi mua và đọc gần 10 năm trước hiện đã bị thất lạc.
         Cuốn sách đọc lại để giới thiệu tôi mới tìm thấy tại khu Việt ngữ của thư viện chính thành phố San Jose. Với nỗ lực tìm hiểu về trận An Lộc để làm DVD, tôi hết sức vui mừng gặp lại Nhật ký An Lộc. 

Chủ Nhật, 20 tháng 9, 2026

TIN SÁCH: Nhật Ký An Lộc sắp tái bản 2026

 ĐỌC “NHẬT KÝ AN LỘC” 

CỦA BÁC SĨ NGUYỄN VĂN QUÝ


Đặng Trần Huân (1929 - 2003)


Đây là một bài điểm sách của nhà văn, nhà báo Đặng Trần Huân, xuất hiện trên báo Đại Chúng, số 104, ngày 16/8/2002, ngay sau khi sách Nhật Ký An Lộc mới được Nhà Xuất bản Văn Nghệ phát hành cách đây 24 năm. 

Đọc “Nhật Ký An Lộc” của Bác sĩ Nguyễn Văn Quý – Đặng Trần Huân





Nhật Ký An Lộc của bác sĩ Nguyễn Văn Quý mới ra mắt thật sự là một cuốn nhật ký vì được viết từ 30 năm trước, ngay chính những ngày tác giả có mặt trong thời gian tử chiến 1972 ở Bình Long.

Nguyễn Văn Quý cho biết ông chỉ có ý định viết cho mẹ, các em ông và nếu có con để chúng biết về những gian khổ của ông tại Bình Long trong thời gian chiến cuộc đỏ lửa 1972 trên chiến trường Nam Việt Nam (trang 342). Nhật Ký An Lộc tuy không ghi từng ngày, tháng nhưng đầy đủ diễn tiến ba tháng tỉnh lỵ An Lộc bị bao vây, bị cô lập nhưng đã cầm cự quyết liệt và cuối cùng chiến thắng.

Nếu cuốn sách chỉ thuần túy là một cuốn nhật ký về đời riêng của mình từ lúc ấu thơ cho tới hiện tại thì cũng chả có gì đáng nói vì một bác sĩ tuy là một khuôn mặt cộng đồng nhưng Nguyễn Văn Quý không phải là một danh ca hay một siêu sao điện ảnh có đời tư sôi nổi, có những cuộc tình bốc cháy mà mà những người ái mộ tò mò muốn biết. 

Mở trang đầu Nhật Ký An Lộc ta có thể tưởng như đang đi vào cuộc đời tác giả từ thuở ấu thơ. Nhưng phần này chi vỏn vẻn có vài dòng mà thôi. Sau đó nội dung sách cuốn hút ta từ khi lúc sinh viên Nguyễn Văn Quý tuy đã tốt nghiệp bác sĩ và đủ điều kiện nhưng không xin miễn dịch mà xin nhập ngũ Khóa 10 Y Sĩ Trưng Tập. Ông nhận công tác tại bệnh viện tiểu khu Bình Long ở tỉnh lỵ An Lộc ngày 13. 4. 71 và đúng ngày đó một năm sau Việt cộng tấn công Bình Long mà ông cho là với ông đó là một trùng hợp lạ lùng. 

Nhật Ký An Lộc được viết với giọng văn rất thành thực, chân tình và nội dung bao chùm nhiều chi tiết khi anh hùng, khi bi thảm, đau thương trong mặt trận An Lộc mà trước nay chưa nghe ai kể. 

Hợp tác Lancang-Mekong:

Từ quan hệ bất đối xứng đến đối tác công bằng và trách nhiệm

Những điều Cơ chế Hợp tác Lancang-Mekong cần có trong thập kỷ thứ hai

Phạm Phan Long 


Thành tích tăng trưởng của LMC trong thập niên đầu

Trong mười năm đầu của Hợp tác Lancang-Mekong (LMC), tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Trung Quốc tăng từ khoảng 11,2 nghìn tỷ USD năm 2016 lên 19,5 nghìn tỷ USD năm 2025 — tăng khoảng 74%. Việt Nam và Campuchia tăng nhanh hơn, trên 250%. Thái Lan tăng chậm hơn, khoảng 42%. Myanmar chỉ tăng khoảng 21%. Lào gần như đứng, vì kip mất giá mạnh che mất phần tăng thực trong nước.


Bảng 1: Tổng sản lượng quốc gia của các nước trong hợp tác Lancang-Mekong

Trên giấy tờ, Hợp tác Lancang-Mekong (LMC) là một thành công. Sau Hội nghị cấp cao Tam Á năm 2016, thương mại giữa Trung Quốc với Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam nay đã tăng mạnh, đạt 500,9 tỷ USD năm 2025 — hơn 150% so với một thập kỷ trước. Đường sắt, đường bộ, đầu tư và giao lưu nhân dân cũng mở rộng (Bộ Ngoại giao Trung Quốc, 2026). Đây là con số tăng trưởng ngoạn mục.

Tiến bộ đó là thật. Nhưng đo thành công chỉ bằng thương mại và hạ tầng thì bỏ sót câu hỏi chính: đang xây dựng kiểu quan hệ nào?

Trung Quốc và năm đối tác Mekong không đứng cùng vị thế. Trung Quốc là nền kinh tế lớn nhất, nguồn hàng chế tạo, vốn và hạ tầng, đồng thời là quốc gia thượng nguồn sông Lancang. Các nước hạ nguồn cung cấp thị trường, nông sản, năng lượng và khoáng sản. Cả sáu nước đều hưởng lợi, nhưng quy mô, năng lực sản xuất và sức mặc cả chênh nhau rất lớn.