Chủ Nhật, 20 tháng 4, 2025

Quân Trường Quang Trung 1969 _ Và Đêm Kinh Hoàng


Cha Vô Danh _ Quân Trường Quang Trung Phần 1



Cha Vô Danh _ Quân Trường Quang Trung Phần 2 



Cha Vô Danh _ Đêm Kinh Hoàng  Phần 1 



 Cha Vô Danh _ Đêm Kinh Hoàng  Phần 2






 





 

Thứ Năm, 17 tháng 4, 2025

Một Chọn Lựa: Danh Dự và Trách Nhiệm


Y sĩ tiền tuyến VŨ ĐỨC GIANG

Y sĩ trưởng Tiểu Đoàn 7 TQLC 

_ Ngày 21 tháng Tư 1975, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức và khẳng định với quốc dân và chiến hữu trên Truyền Hình Việt Nam là sẽ trở lại với Quân Đội để chiến đấu. Ông trao quyền lại cho Phó Tổng Thống Trần Văn Hương. Đêm 25 tháng Tư, 1975 ông Thiệu và toàn gia đình đã ở Đài Loan! 

_ Ngày 25 tháng Tư 1975, nguyên Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ đã từng nói “sẽ ở lại Sài Gòn và chiến đấu cho tới chết. Tôi sẽ biến Sài Gòn trở thành một Leningrad thứ hai” nhưng chỉ 4 ngày sau, 29 tháng Tư 1975 Thiếu tướng Không quân Nguyễn Cao Kỳ cũng cao chạy xa bay, trên một chiếc trực thăng ra Hàng không Mẫu hạm Midway bỏ lại sau lưng lời thề quyết tử. 

_ Trong khi đó tại bãi biển Thuận An, Y sĩ Trung úy Vũ Đức Giang, Y Sĩ Trưởng Tiểu Đoàn 7 Thủy Quân Lục Chiến và mấy quân Y tá vẫn khiêng các thương binh lên tàu, sau đó anh và toán cứu thương cùng bước xuống tàu, đi dưới làn mưa đạn của VC lên bờ để tiếp tục ở lại cùng đồng đội chiến đấu. Ý thức chọn lựa trách nhiệm và danh dự của BS Vũ Đức Giang đã kết thúc bằng cái chết bi thảm của Anh ở tuổi 28.


 

(Vũ Đức Giang, trích từ Kỷ Yếu Y Khoa Sài Gòn 1967-1974)


          Đây là bài viết chính của BS Phạm Anh Dũng về Vũ Đức Giang, một người bạn thân cùng lớp tại trường Đại Học Y Khoa Sài Gòn và cùng khóa Quân Y Hiện Dịch 21, cũng là khóa QYHD cuối cùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Cũng thêm vào bài là các chi tiết, tạm gọi là bối cảnh sơ lược, đáng nhắc lại, còn ghi nhận được của từng năm học, liên quan đến cả học trình Y Khoa bảy năm 1967-1974. Phạm Anh Dũng

Thứ Hai, 31 tháng 3, 2025

Quân Trường Quang Trung 1969 Và Đêm Kinh Hoàng _ Phạm Ngọc Lân



 
Khoá 11 Trưng Tập Y Nha Dược



Dẫn Nhập: Quân Trường Quang Trung 1969 và Đêm Kinh Hoàng là trích đoạn 2 chương sách 40 & 41 từ tác phẩm Cha Vô Danh của Phạm Ngọc Lân. Tác giả đã ghi lại trung thực những trải nghiệm đầu đời của hơn 200 Y Nha Dược Sĩ mới bị động viên vào quân ngũ nhưng ngay trong 9 tuần lễ đầu của thời gian thụ huấn quân sự, đã có cả “máu và nước mắt” với chết chóc và thương vong: một bác sĩ bị tử thương và 15 sĩ quan Quân Y bị thương do một trái mìn Claymore định hướng nội hoá nhắm vào doanh trại của họ. Cũng không phải là vô ích để nhìn lại một sự kiện xảy ra cách đây cũng đã 56 năm. Phạm Ngọc Lân sinh năm 1944, học trường trung tiểu học Adran Đà Lạt, tốt nghiệp Cao Học Dược Khoa, và Cử Nhân Giáo Khoa Vật Lý Đại Học Khoa Học Sài Gòn, Gỉảng Sư Đại Học Dược kiêm giáo sư lý hoá trường Marie Curie, anh còn là một nghệ sĩ tài hoa, một tay đàn guitar cổ điển có hạng. Tuy mang hai dòng máu Pháp Việt, Phạm Ngọc Lân rất yêu tiếng Việt và có một tâm hồn rất Việt Nam. Có thể nói Cha Vô Danh là hồi ký của một nhân vật trung tâm Phạm Ngọc Lân, nhưng bao quát hơn là viết về những con người thật việc thật, họ đã sống trên một đất nước Việt Nam trong thế kỷ 20 đầy thăng trầm với chiến tranh và loạn lạc. Tác giả muốn ghi lại cho các thế hệ mai sau có thể hiểu biết thêm không chỉ về đời sống của cha ông, mà hơn thế nữa về lịch sử cận đại của đất nước mình. Cha Vô Danh là hành trình của một trí thức đích thực của Miền Nam Việt Nam, đã được chính tác giả viết với 3 ngôn ngữ Pháp, Việt, Anh. 

*

40. Quân trường Quang Trung 1969 

 

Ngày thứ hai mùng 2 tháng 6 năm 1969, khóa 11 Trưng Tập được đưa lên học quân sự tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung. Suốt thời gian thụ huấn tại đây, Long viết đều đều cho Mai, gần như một nhật ký ghi lại những sinh hoạt trong trại lính. Những chuyện vui buồn đáng ghi lại làm kỷ niệm, vì nó rất khác với sinh hoạt ngoài đời sống dân sự.

 

Hơn 200 Y, Nha, Dược, Thú Y sĩ trình diện tại Trường Quân Y từ 7 giờ rưỡi với ba-lô trên lưng và túi vải nhà binh đựng đồ dùng (từ thời lính Pháp đã có loại túi này, gọi là « sac marin »), leo lên tám chiếc GMC. Đoàn xe chuyển bánh hướng về Hóc Môn phía tây bắc Sài Gòn. Sau khi vào vòng đai Quang Trung, đoàn xe chạy thẳng đến trại Võ Tánh, liên đoàn A, tiểu đoàn Nguyễn Huệ. Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung là cả một thành phố với nhiều đường sá, nhưng không có nhà ở mà chỉ có doanh trại.

Thứ Bảy, 22 tháng 3, 2025

NGƠ NGÁC BÊN DÒNG SÔNG CỬU LONG _ Phạm Cao Hoàng

 gửi anh Ngô Thế Vinh



 

rồi những người đi cũng trở về

ngậm ngùi ghé lại bến sông xưa

chuyến phà năm cũ không còn nữa

và bóng người xưa đã mịt mờ

 

chỉ còn những dấu chân năm tháng

của Chín Con Rồng ở phía Nam

chỉ còn những cảnh đời lang bạt

ngơ ngác bên dòng sông Cửu Long

 

chỉ còn tiếng thì thầm than thở

ngửa mặt nhìn lên phía thượng nguồn

bây giờ nước mặn sâu trong đất

đất nứt, vườn khô, thôn xóm buồn

 

rồi những người đi cũng trở về

chạnh lòng thương chín nhánh sông xưa

mây bay mây vẫn còn bay mãi

đời vẫn bơ phờ vẫn xác xơ

 

PHẠM CAO HOÀNG

Virginia, 12.2023


Bài thơ này đã được nhạc sĩ Nguyễn Quyết Thắng phổ thành ca khúc. Bấm vào đường dẫn dưới đây để nghe ca sĩ Ngọc Quy trình bày ca khúc này:


NGƠ NGÁC BÊN DÒNG SÔNG CỬU LONG - cs Ngọc Quy - nhạc Ng Quyết Thắng - thơ Phạm Cao Hoàng .

 

Thứ Năm, 20 tháng 3, 2025

THẾ GIỚI SÁNG TẠO MIỀN NAM VIỆT NAM 1954 – 1975 ĐẾN NAY _ Eric Henry

 

Giới thiệu của người dịch

 

 

Cuốn sách này là bản dịch của một tập hợp bài viết về các nhân vật, văn học và báo chí của các cá nhân người Việt đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn thông tin phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của Miền Nam Việt Nam, cũng như sự nghiệp cá nhân trong lãnh vực nhân văn. 

 

Những nhân vật được mô tả phần lớn đã nổi tiếng trong thời kỳ 1954 - 1975. Sau khi Miền Nam sụp đổ vào tay Bắc quân năm 1975, hầu hết trong số họ đã bị giam cầm một số năm trong các trại cải tạo cộng sản. Sau đó, vào những năm 1980, một số đã đến Hoa Kỳ và hầu hết vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.

 

Võ Phiến (1925 - 2015), nhà tiểu luận, tiểu thuyết gia và sử gia văn học, đã mô tả nền văn học phát sinh dưới thời Việt Nam Cộng Hòa như sau: “Ở Miền Nam Việt Nam thời 1954-75, giữa hoàn cảnh chiến tranh, đã phát triển một nền văn nghệ khác hẳn. Trên sách báo tha hồ nở rộ những nụ cười sảng khoái, công kích điều sai chuyện quấy, đùa riễu những phần tử xấu xa. Phần tử ấy không thuộc hạng Lý Toét Xã Xệ. Không hề có nhân vật nào thấp bé như thế bị bêu riếu trong thời kỳ này. Nạn nhân là từ hạng những tay cầm đầu một tỉnh cho đến các vị cầm đầu cả nước. Tiếng cười cợt ngang nhiên, hể hả, râm ran khắp cùng trên mặt sách báo... Mặt khác, mọi quan niệm nhân sinh, mọi tín ngưỡng, hay có dở có, cao thâm có mà ngông cuồng gàn dở cũng có nữa, tha hồ được tìm hiểu, trình bày, quảng bá. Trước và sau thời 1954-75 ở Miền Nam, không thấy ở nơi nào khác trên đất nước ta, văn học được phát triển trong tinh thần tự do và cởi mở như vậy.”

Thứ Ba, 18 tháng 3, 2025

The Creative World of South Vietnam 1954 - 1975 To The Present _ ERIC HENRY


Translator’s Introduction

 


 

This book is a translation of a collection of personal, literary, and journalistic vignettes of Vietnamese individuals who have made notable contributions to literature, art, and science. It is a rich source of information on the social, cultural, and political history of South Vietnam, as well as the individual careers of its human subjects. 

The people described for the most part came into prominence in the period 1954 – 1975. After the fall of the South to North Vietnamese forces in 1975, most of them were imprisoned for some number of years in communist reeducation camps after 1975. Later, in the 1980s, some of them made their way to the U.S., and most continued to be creatively active.

Võ Phiến, essayist, novelist, and literary historian, characterized the literature that arose under the southern Vietnamese republic as follows: “In the Vietnam of 1954 to 1975, a totally different type of literature arose. Gay and sharp laughter spread freely over books and journals, laughter that attacked mistaken deeds and perverse policies, and made fun of elements guilty of unworthy behavior… The objects of attack were provincial or national leaders and power brokers. The sound of laughter ran freely and noisily across all books and journals. At the same time, every view of human life, every faith, both fine and deluded, both noble and crazed, existed as well; one could seek to understand, expound, and promulgate these beliefs, just as one pleased. At no time before or after 1954 – 1975 in the South can one find any literary tradition in our country that developed in such a free and open manner.”

 

The regime that took over in 1975 sought to eradicate this legacy by criminalizing it and by physically destroying all remnants of it that could be collected. As a result, the most complete collections of the literature of Vietnam from this period are to be found, not in Vietnam, but in certain academic libraries in the U.S., such as those of Cornell University, Yale University and the University of Hawaii. 

Thứ Hai, 17 tháng 3, 2025

A SMALL DREAM FOR THE YEAR 2000 _ Ngô Thế Vinh

A Small Dream for the Year 2000 was written 30 years ago (January 1995), and is now included in the anthology The Colors of April: Fiction on  The Vietnam War’s Legacy 50 Years Later. This title  will be released on March 25, 2025 on Amazon and bookstores.


The man, a farmer, was formerly an ARVN soldier.  Twenty years had passed since his days in the military, and he was now a middle-aged person.  Though not yet fifty, he had been made pallid, old and decrepit by a life of unrewarding hard labor.  He had lost his left foot, ironically after his military service had terminated, when stepping on a mine right in his own rice field.  One did not have to be a doctor to know that his body hosted various illnesses and diseases: malnutrition, chronic malaria, and anemia.  Whatever energy and dignity he retained was revealed in his bright though rather sad eyes, eyes that always looked directly at those of the person he talked to.  Today, he came to this field dispensary for another kind of complaint.  It concerned a bluish-black lesion on his back which was not painful, but had been oozing an ichorous discharge for a long while.  He had sought various treatments, but found no hope of a cure.  First, he had been made to wait in a district's health service station where a communist doctor had eventually given him a few Western medicinal tablets; then a doctor of traditional medicine had treated him in turn with an herbal concoction and acupuncture.  Despite all that, the disease refused to go away, even as he was steadily emaciating.  Hearing that a group of healthcare workers from overseas had come to offer volunteer services, he decided to come to them at this dispensary and try his luck.  With good fortune, he hoped, he might even be able to again meet the doctor he used to know – the chief surgeon of his Airborne Ranger Battalion in the past, who presently lived and worked in America.  But it turned out that all the faces he saw were young and unfamiliar.  Nonetheless, he showed them his back for examination.  From the team of young doctors came an audible gasp of surprise.  The heart of Toan, the team leader, seemed to miss a beat.  Without the necessity of engaging in complicated diagnostic procedures, he immediately recognized a form of malignant melanoma, which certainly would have had metastases spread to other parts of the body.  The disease, of course, could have been cured if discovered earlier.  Unfortunately, this present case, being at an advanced stage, could not be treated even with the most elaborate and sophisticated medical technologies available in the US.  It was not the patient, but the young doctor who expressed sadness: "You've come too late; this disease otherwise could have been treated successfully."  Betraying no embarrassment, the soldier-turned-farmer patient looked directly at the young doctor, his eyes darkened with anger and sternness: "I've come too late, you say? It’s you doctors who have come late, whereas myself, like all my compatriots, have been here forever."  Flatly refusing to wait for anything else from the group of unknown doctors, the man turned his back on them and walked out, limping along on his bamboo crutches, his eyes looking straight ahead, accepting his miserable lot with the same courage he had shown as a soldier in a time past.