Thứ Năm, 3 tháng 9, 2026

Đằng sau trận ‘Sóng thần’ ở Nepal


 Trùng Dương 




Hình 1: chụp lại một khúc phim của Đài Truyền hình Trung Hoa CCTV ghi lại giây phút thành phố Gyirong ở Tây Tạng tại biên giới với Nepal bị cơn lũ gồm bùn với đá ập xuống từ núi cao, ngày 26 tháng 8, 2026. (Ảnh Wikimedia Commons) Cũng tại địa điểm này, ngày 8 tháng 7, 2025 đã xẩy ra một vụ lũ do một cái hồ tạo bởi sông băng bị mưa tràn.

 

Sáng ngày 26 tháng 8 năm 2026, vùng biên giới Nepal–Tây Tạng bỗng biến thành một hành lang chết chóc. Một khối băng khổng lồ sụp đổ trên cao nguyên Himalaya, kéo theo đá núi và nước tan tràn xuống các thung lũng bên dưới. Chỉ trong thời gian rất ngắn, dòng nước bùn ấy phình to thành một trận lũ dữ dội—một thứ “sóng thần trên núi”—cuốn phăng cầu cống, đường sá, nhà cửa, trạm biên phòng và toàn bộ những khu dân cư nằm dọc theo các con sông. Những gì còn lại sau đó là một cảnh tượng gần như không thể nhận ra: làng mạc bị xóa khỏi bản đồ, nhà máy điện bị chôn vùi, xe cộ nằm chỏng chơ giữa bùn đá, còn những gia đình sống sót thì đứng bên bờ sông, ngóng tìm một bóng người quen thuộc.

 

Thảm họa không chỉ xảy ra trong phạm vi Nepal. Dòng lũ từ vùng núi cao đã quét qua cả phía Tây Tạng(bị Trung Quốc chiếm đóng từ năm 1959) rồi đổ xuống Nepal, đặc biệt tại các huyện Rasuwa và Nuwakot. Tại một khu phức hợp nhập cảnh của Trung Quốc gần cửa khẩu Gyirong–Rasuwagadhi, nhiều người đang chờ hoàn tất thủ tục để sang Nepal đã bị nước lũ bất ngờ ập tới. Trong số những người mất tích có một đoàn 49 tín đồ Ấn Độ trở về sau chuyến hành hương núi Kailash. Người thân của họ vượt hàng ngàn cây số để tìm kiếm, đi qua các trung tâm cứu trợ, nhà xác và những vùng bị tàn phá, nhưng nhiều người vẫn chưa có tin tức. Tính đến ngày 31 tháng 8, Nepal ghi nhận 903 người thiệt mạng và 4.247 người mất tích, trong đó có 592 người nước ngoài. Phía Trung Quốc báo cáo 16 người chết và 546 người mất tích, gồm hơn một trăm người Nepal. 


 


Hình 2: Bahrabise Bazar, Nepal, trước và sau trận lũ do băng lở giết chết hàng trăm người với hàng ngàn vẫn còn mất tích, ngày 26 tháng 8, 2926. (Ảnh Wikimedia Commons)

 


Nhưng phía sau những con số khủng khiếp ấy còn có một cuộc tìm kiếm âm thầm và tuyệt vọng hơn: cuộc giải cứu hàng trăm công nhân đang bị mắc kẹt trong các đường hầm thủy điện. Hiệp hội các nhà sản xuất điện độc lập Nepal ước tính khoảng 900 công nhân tại 12 dự án thủy điện đã mất liên lạc; trong số đó, khoảng 500 người được cho là đang ở bên trong những đường hầm bị bùn, đá và nước lũ phong kín. Riêng dự án Upper Trishuli-1 tại Rasuwa có khoảng 576 người mất tích, với gần 300 người được tin là đang bị kẹt dưới lòng núi. Tại Trishuli-3, các đội cứu hộ phải đào sâu khoảng 15 mét để tìm đường tiếp cận những người sống sót.

Người phụ nữ đằng sau luật An Sinh Xã Hội của Hoa Kỳ

Trùng Dương 

Ít người Mỹ hôm nay, và có lẽ còn ít người Việt hải ngoại hơn, biết rằng tấm chi phiếu An Sinh Xã Hội (Social Security) mà chúng ta — những người đã bỏ nửa đời lao động trên đất Mỹ — nhận được hằng tháng, phần lớn là di sản của một người đàn bà mảnh khảnh, đội mũ ba góc, ăn nói nhỏ nhẹ nhưng cương quyết đến cùng.

Bà tên là Frances Perkins, là người phụ nữ đầu tiên giữ chức Bộ trưởng Lao Động trong lịch sử Hoa Kỳ, và cũng là người phụ nữ đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ giữ một ghế trong nội các tổng thống. Bà phục vụ suốt 12 năm, từ 1933 đến 1945, dưới thời Tổng thống Franklin D. Roosevelt — trọn vẹn bốn nhiệm kỳ của ông, xuyên qua cơn Đại Khủng Hoảng và Thế Chiến Thứ Hai.

Nhưng trên hết, bà là kiến trúc sư thầm lặng của cả một nền tảng an sinh mà nước Mỹ vẫn đang đứng trên đó cho đến hôm nay.

Bà Frances Perkins, trái, phục vụ với tư cách Bộ trưởng Bộ Lao Động Hoa Kỳ suốt bốn nhiệm kỳ của Tổng thống Franklin D. Roosevelt, từ 1933 tới 1945. Phải, Tổng thống Roosevelt ký Luật An sinh Xã hội ngày 14 tháng 8, 1935, với bà Perkins (thứ ba từ phải) chứng giám, tạo nên nền tảng an sinh xã hội mà nước Mỹ đứng trên đó cho đến ngày hôm nay. (Ảnh Wikipedia)

Đám cháy làm thay đổi một đời người

Muốn hiểu Frances Perkins, phải bắt đầu từ một buổi chiều thứ Bảy cuối tháng Ba năm 1911, tại Manhattan thuộc tiểu bang New York.

Hôm ấy bà đang dùng trà tại nhà một người bạn ở Washington Square, khi bên ngoài chợt vang lên tiếng còi xe cứu hỏa dồn dập. Bà và những người có mặt chạy ra phố, và trước mắt họ là một cảnh tượng không thể nào quên: tòa nhà Asch, nơi đặt xưởng may Triangle Shirtwaist, đang bốc cháy dữ dội. Các cửa thoát hiểm đều bị khóa, do chủ xưởng khóa lại để ngăn công nhân, phần lớn là các cô gái trẻ người Do Thái và Ý di dân, nghỉ tay hay ăn cắp vải. Không có lối thoát, hàng chục cô gái đã chọn nhảy từ tầng chín, tầng 10 xuống đất, ngay trước mắt đám đông bất lực đứng nhìn. Trong đám người kinh hoàng đứng nhìn đó có bà Perkins, lúc đó 33 tuổi, hành nghề cán sự xã hội.

Thứ Hai, 31 tháng 8, 2026

Y SĨ TIỀN TUYẾN _ BÁC SĨ NGUYỄN VĂN QUÝ VÀ TRẬN CHIẾN AN LỘC 1972

 Nhật ký An Lộc _ Y Sĩ Tiền Tuyến Nguyễn Văn Quý, 

86 ngày đêm của một bác sĩ giải phẫu tại mặt trận

NXB Văn Nghệ, 2002, 445 trang, ISBN 1886566984.



BS Nguyễn Văn Quý, tác giả cuốn "Nhật ký An Lộc", và vợ và BS Thân Trọng An, Chủ bút Tập San Y Sĩ trong buổi lễ kỷ niệm 50 năm Chiến Thắng An Lộc, được tổ chức ngày 12 tháng 5 năm 2022 tại Quận Cam, USA. [tư liệu BS Thân Trọng An] 











Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2026

VŨ HOÀNG CHƯƠNG

ta còn để lại gì không

Văn HọcPress
22 Agostino, Irvine, CA 92614 USA • vmail: +1-949-981-3978
email: vanhocpress@gmail.com • Facebook: Van Hoc Press

PR 08/25/2026
SÁCH MỚI

Trân trọng giới thiệu:
VŨ HOÀNG CHƯƠNG
TA CÒN ĐỂ LẠI GÌ KHÔNG

Cuộc đời & Những tác phẩm tiêu biểu của
Thi sĩ Vũ Hoàng Chương

Nhóm biên soạn:

TRẦN HUY BÍCH • TRẦN MẠNH TOÀN •
TRẦN NGỌC KHÔI • NGUYỄN NGỌC DUNG •
PHẠM THỊ LỆ-HƯƠNG

VĂN HỌC PRESS xuất bản, 2026

LỜI MỞ ĐẦU

Thi sĩ Vũ Hoàng Chương là một tác giả quan trọng, đã để lại cho chúng ta một số lượng tác phẩm rất lớn. Thơ ông chứa nhiều ý kín đáo, lại thêm cách diễn tả hàm súc, nên nhiều bài, nhiều câu thuộc loại “không dễ hiểu.” Là một người uyên bác và chịu ảnh hưởng của Hán học từ rất sớm, ông đã dùng khá nhiều điển tích và cũng hay trích dẫn thơ văn cổ khi sáng tác. Những điển tích, thơ văn cổ ấy, nếu không được phân giải ra, sẽ khiến nhiều người đọc, nhất là người ở thế hệ trẻ, khó nắm vững chủ ý của tác giả.

Cho tới nay, bên cạnh một số bài viết riêng lẻ mang tính cách ước đoán hoặc với nhận định có phần nào chủ quan của người viết, chưa có một cuốn biên khảo nghiêm túc nào về Vũ Hoàng Chương. Cùng mấy người bạn, cũng là cựu môn sinh của cố thi sĩ, và một số thân hữu yêu thơ, nhận ra giá trị đáng trân trọng trong di sản nhà thơ Vũ Hoàng Chương để lại, chúng tôi cảm thấy sự cần thiết của một cuốn sách viết một cách nghiêm túc, để góp phần vào việc trình bày, nhằm giúp một số thi phẩm nhà thơ để lại có thể được hiểu dễ hơn. Muốn được như thế, cần tuần tự tóm lược lại cuộc đời của tác giả, chú ý đến những biến cố và giao tiếp quan trọng, lồng trong khung cảnh của đất nước và với bối cảnh thế giới, những dữ kiện đã tạo ảnh hưởng lên cuộc đời và tác phẩm của ông. 

Xét đại cương, cuộc đời Vũ Hoàng Chương có thể chia làm hai giai đoạn: Từ nhỏ tới mùa hè năm 1954, tức 39 năm đầu khi ông ở miền Bắc; và từ tháng 8 năm 1954 tới tháng 9 năm 1976 khi ông qua đời, tức 22 năm sau ở miền Nam. Hai chương chủ yếu trong sách, Chương I và Chương V, được dành cho mục đích ấy. Trong cuộc đời thi sĩ Vũ Hoàng Chương có ba sự kiện đáng được chú ý một cách đặc biệt, là nguyên nhân đưa tới một số lượng tác phẩm đặc sắc và rất đáng kể của ông: mối “duyên thơ nợ kịch” với nữ kịch sĩ Tuyết Khanh, tình tri âm với nữ sĩ Ngân Giang, và việc giao tiếp với một số văn thi sĩ Âu Châu, khiến một số thơ ông được dịch ra ngoại ngữ, cùng ít bài đặc sắc ông làm cho một nữ thi sĩ trẻ tuổi của nước Bỉ, Ysabel Baes mà ông gọi tắt là Ysa. Các chương II, III, và IV được dành cho mục đích này.

Số lượng thi phẩm Vũ Hoàng Chương để lại rất phong phú. Ngoài hơn 20 thi tập đã xuất bản (một số bài được in lại), ông còn nhiều bài thơ đăng trên các báo và tạp chí, chưa được in vào thi tập nào. Phần phân tích nội dung chúng tôi trình bày ở đây mới chỉ là một phần rất nhỏ trong thi nghiệp của ông. Chúng tôi quan niệm tập sách này mới chỉ là bước khởi đầu, mong ước sẽ hữu ích phần nào cho những nghiên cứu đầy đủ và thấu đáo hơn về sau. Với tập sách này, tôn chỉ của chúng tôi là chính xác. Nhiều sự kiện được kiểm chứng bằng nhiều nguồn tài liệu khác nhau. Mỗi khi dẫn thơ Vũ Hoàng Chương, chúng tôi cố gắng nói rõ câu ấy được trích từ bài nào, và được in lần đầu trong thi tập hay trên báo, tạp chí nào.

Khi thực hiện tập sách này, chúng tôi đã được nhờ công trình của một số người đi trước, chẳng hạn bài viết rất công phu của chị Phạm Thị Nhung, giáo sư trường nữ Trung học Gia Long, về mối tình giữa nhà thơ họ Vũ với người yêu đầu đời.  Một số bài phổ biến từ trước của một số cựu môn sinh từng được học với nhà giáo Vũ Hoàng Chương như các anh Song Thao, Đào Trường Phúc cũng giúp tôi rất nhiều. Tôi thành thật đã không viết nổi cuốn sách nếu không nhờ sự sưu tầm tài liệu rất công phu cùng việc góp ý kiến của ba người bạn quý, các anh Trần Mạnh Toàn, Trần Ngọc Khôi, và chị Phạm Thị Lệ-Hương. Chị Lệ-Hương còn thực hiện một “Thư tịch Vũ Hoàng Chương” rất phong phú. Người giúp tôi tra cứu lại các điển cố, nhất là những điển cố liên quan đến bài “Đọc Bành Ngọc Lân,” đã đánh lại chữ Hán trong một số trường hợp cần thiết, đã “nhòe mắt” duyệt lại bản thảo là “người yêu thơ” Nguyễn Ngọc Dung. Giúp chúng tôi có những hình ảnh sáng, rõ, cho một số nhân vật được nhắc đến trong sách cũng như cho một số tác phẩm cũ cần được giới thiệu, là người bạn trẻ Nguyễn Vũ. Anh bạn cố cựu Thành Tôn đã chia sẻ, cho mượn một số tác phẩm không dễ kiếm. Tôi cũng xin cảm ơn những nhắc nhở, khích lệ, giúp ý của một số bạn quý trong văn giới, học giới như các anh Trúc Chi Tôn Thất Kỳ, Ngô Thế Vinh, Nguyễn Duy Chính, Huy Văn Trương, Uyên Thao, Trần Ngọc Vân…, sự nhắc nhở, khích lệ với niềm tin của một người bạn cố cựu ở nơi xa, anh Trần Dạ Từ. Cuốn sách không thể đến với người đọc nếu không nhờ tấm lòng tận tụy, kiên nhẫn, đầy thông cảm của người chủ trương nhà xuất bản Văn Học Press, anh Trịnh Y Thư. Ở lớp bạn trẻ hơn, Thơ Thơ tìm giúp tôi một số tài liệu hiếm, Hòa Bình đóng vai chèo lái trong việc giúp cuốn sách thành hình. Cũng xin ghi nhận những khích lệ tinh thần của anh Phạm Văn Quảng, cũng là môn sinh của “Thầy Vũ Hoàng Chương,” chị Vũ Ngọc Diệp, thuộc một gia đình vô cùng đặc biệt, đầy tình nghĩa với bà Vũ Hoàng Chương và thi sĩ Đinh Hùng.

Với các thân hữu vừa kể cũng như với những thân hữu từng cho lời nhắc nhở, khích lệ trong nhiều năm vừa qua, tôi xin ghi ở đây lời cảm ơn chân thành. Tôi cũng xin cảm ơn những độc giả lưu tâm tới cuốn sách, và mong ước sẽ được nhận những phê bình, chỉ dẫn nếu thấy trong sách có chỗ chưa chính xác. Trong việc đi tìm sự thật, chúng ta là những người đồng hành, vì theo lời thi sĩ Vũ Hoàng Chương, “chúng ta mất hết, chỉ còn nhau.”

Trân trọng, 
– Trần Huy Bích
(Viết ở ngoài nước, tháng 8 năm 2026, 50 năm sau khi thi sĩ Vũ Hoàng Chương qua đời.)

@@@

Sách có bán trên BARNES & NOBLE

296 trang, bìa mềm, 6”x 9”, giá bán: US$30.00

Xin bấm vào đường dẫn sau:

Vu Hoang Chuong Ta Con De Lai Gi Khong | Barnes & Noble®

296 trang, bìa cứng, 6”x 9”, giá bán: US$35.00

Xin bấm vào đường dẫn sau:

Vu Hoang Chuong Ta Con De Lai Gi Khong | Barnes & Noble®

vanhocpress@gmail.com

Chủ Nhật, 23 tháng 8, 2026

Quản trị môi trường phân mảnh ở Đông Nam Á

Vì sao không ai có trách nhiệm


với tác động môi trường tích lũy trên toàn khu vực?



Phạm Phan Long



Sông Mekong Luang Prabang, Laos. Nguồn: Wikimedia photo


Lời dẫn nhập: Khủng hoảng môi trường ở Đông Nam Á không đơn thuần là khủng hoảng do ô nhiễm, phá rừng, khai khoáng hay xây dựng đập thủy điện. Đó còn là một cuộc khủng hoảng về trách nhiệm giải trình: Những tổ chức đưa ra các quyết định phát triển thường hoạt động riêng rẽ ở từng quốc gia, trong khi không có tổ chức nào có chức năng và trách nhiệm quản lý những tác động tích lũy, xuyên biên giới trên toàn khu vực do chính các quyết định đó gây ra.

Đông Nam Á không thiếu các cơ chế bảo vệ môi trường. Điều còn thiếu là một cơ chế đủ thẩm quyền để kết nối các quyết định phát triển với những tác động môi trường tích lũy mà chúng tạo ra. Trong số các thể chế phát triển quốc tế, ASEAN là tổ chức khu vực duy nhất bao trùm hầu hết Đông Nam Á và có đủ phạm vi chính trị để đưa những vấn đề này lên cấp khu vực.

Khi ASEAN đã long trọng tuyên bố rằng quyền được sống trong một môi trường lành mạnh là một quyền của con người, thì bảo vệ môi trường cho toàn khu vực không còn chỉ là vấn đề thuộc chính sách phát triển của từng quốc gia; đó đã trở thành trách nhiệm chung không thể né tránh của toàn khu vực. ASEAN đang đứng trước một sứ mạng, đồng thời cũng là một cơ hội chưa từng có. Sau đây là bài tóm lược khảo sát hoạt động của các tổ chức phát triển và đề xuất thành lập ASEAN Transboundary Environmental Protection Mechanism (ATEPM) để đảm nhận trách nhiệm này. Bài viết đã được Asia Sentinel đăng tải bằng tiếng Anh.


***

Bài viết lập luận rằng, Đông Nam Á đang đứng trước một nghịch lý lớn: Trong nhiều thập niên, khu vực đã xây dựng một mạng lưới thể chế ngày càng mạnh để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cơ sở hạ tầng, thương mại và hội nhập, nhưng chưa xây dựng được một hệ thống tương xứng để quản trị những hệ quả môi trường do chính quá trình phát triển đó tạo ra.

Từ năm 1966 đến nay, ADB, ASEAN, hợp tác Mekong, GMS, MRC và LMC cùng với APEC, các cơ quan Liên Hợp Quốc, chính phủ và khu vực tư nhân đã giúp Đông Nam Á kết nối ngày càng sâu rộng. Đường sá, đường sắt, hành lang kinh tế, hệ thống năng lượng, khai khoáng, nông nghiệp và thương mại xuyên biên giới đã tạo ra tăng trưởng và cải thiện đời sống cho hàng triệu người.

Thứ Tư, 19 tháng 8, 2026

Kênh Funan Techo _ Hai Năm Sau Lễ Động Thổ

Cần một tầm nhìn mới: 

từ "một công trình" 

sang "một hệ thống" thủy văn 

ảnh hưởng trên toàn lưu vực 



Người đàn bà Việt không nhà ở Stockton

 Trùng Dương

Trái, trang báo Việt Mercury đăng bài về Bà Nguyễn Tố Cần, xuất bản ngày 19 thàng 2, 1999 tại San Jose, với hình của bà do phóng viên nhiếp ảnh của tờ The Record chụp trong một buổi phát biểu của bà tại phiên họp của Hội đồng thành phố Stockton. Phải, bà Tố Cần ngày nào cũng tới thư viện thành phố để thảo những lá thư viết tay tố cáo điều mà bà cho là tham nhũng trong chính quyền. (Ảnh chụp lại trong Việt Mercury, đã đình bản).

Người nữ luật sư biện hộ miễn phí tay cầm một tập giấy mầu vàng đẩy cửa bước vào phòng đợi sau khi đã để tôi đợi khoảng mười phút trong căn phòng đợi trơ trụi, với độc một bộ bàn bốn ghế và một dẫy ghế sofa bọc nhựa mầu nâu nhạt kê sát tường, không còn gì nữa cho tôi quan sát. Chúng tôi bắt tay nhau, trao đổi những thăm hỏi xã giao thường tình. Người nữ luật sư khoảng ngoài 40 tuổi, y phục tể chỉnh song chân đi giầy thể thao, chắc là để di chuyển tới tòa cách văn phòng ba dẫy phố cho lẹ, ngỏ lời cám ơn tôi đã bỏ thì giờ tới gặp chị về vụ người đàn bà Việt không nhà ở Stockton.

“Chị là người duy nhất mà Hugh Wright [người phóng viên toà án của tờ báo địa phương mà tôi hiện cộng tác] nói là có liên hệ với bà Nguyễn Tố Cần…” Ellen Schwarzenberg mở đầu, đôi mắt mầu nâu với tia nhìn ấm áp và thân thiện. Tự dưng tôi có cảm tình với Ellen mặc dù tôi biết chị muốn gặp tôi do nhu cầu nghề nghiệp: Chị được giao cho việc chứng minh là thân chủ của chị đủ minh mẫn để hầu tòa thay vì được gửi vào viện tâm thần như hai tâm lý gia của nhà tù quận đã chẩn bệnh và cùng kết luận bà Tố Cần bị chứng “fixed delusional belief system”, tức chứng niềm tin hoang tưởng cố định.

Tôi cải chính là thực sự tôi không có liên hệ gì với bà Tố Cần, kể cả là bạn, mặc dù thỉnh thoảng tôi có đi tìm bả với ý định biếu ít tiền hoặc quà, hoặc như gần đây, khi bà bị bắt giam ở nhà tù quận về tội làm rối trật tự công cộng và gửi thư cho một phóng viên của toà báo xin gửi báo cho bà khi nào bà có tiền thì sẽ trả lại (điều này chắc chẳng bao giờ xảy ra), thì tôi có sang phòng phát hành đặt mua cho bả một tháng báo gửi bằng bưu điện tới nhà tù quận, thế thôi. Ellen nói là bà Tố Cần nói có nhận được báo và thay mặt cho bà, Ellen nói cám ơn nhã ý của tôi trong khi nhìn tôi thăm dò, có lẽ tự hỏi tại sao đã chẳng bà con hay bạn bè mà tôi bỏ công của và thì giờ để làm những việc như tôi đã làm. Có phải vì bà Tố Cần là người đồng hương? Một phần. Nhưng lý do chính là vì bả là một nhân vật độc đáo của thành phố Stockton, và mặc dù vô gia cư song, với giang sơn vỏn vẹn ít quần áo vật dụng chất trong một cái shopping cart, bà vẫn duy trì được tư cách và nhân phẩm của mình, một điều khiến tôi quý trọng bà.

Trong khi Ellen chăm chú nghe, tôi kể lại lần gặp gỡ duy nhất giữa bà Tố Cần và tôi khoảng một năm về trước, và lý do đã khiến tôi quan tâm đến trường hợp của bà.

Lần đầu tiên, khi tôi mới dọn đến thành phố này nhận việc cách đây vài năm, tôi được biết có một người đàn bà Việt không nhà, 64 tuổi và bị bệnh tâm thần ở Stockton, là qua một mẩu tin ngắn khi bà bị xe đụng bị thương nhẹ phải đưa vào nhà thương điều trị song được thả ra liền sau đó. Chi tiết của bài báo khiến tôi quan tâm là việc bà Tố Cần nguyên là một giáo chức ở Việt Nam, đã từng một dạo tích cực về các vấn đề tị nạn và đã từng cộng tác với một số học khu địa phương trong các chương trình dành cho học sinh tị nạn gốc Đông Nam Á. Tuy vậy vì bận rộn thích nghi với môi trường sinh hoạt mới nên tôi cũng không tìm hiểu thêm.

“Cho tới khi xảy ra vụ George Barber… ” tôi tiếp.

“Vụ George Barber?” Ellen ngắt lời tôi.

Tôi nhìn Ellen, thoáng ngạc nhiên.

“Chắc chị quên hoặc không để ý. Vụ đó xẩy ra cách nay trên một năm, đâu như hồi giữa năm 96, khá gây sôi nổi trong vài cộng đồng thiểu số ở đây,” tôi nói. “Chị cũng biết là bà Tố Cần không bỏ sót một buổi họp hội đồng thành phố hay ban giám sát viên quận nào mà không tham dự mặc dù bả đi bộ và luôn đẩy theo cái xe shopping của siêu thị chuyên chở cả sản nghiệp của bả đến chỗ họp. Tham dự thôi chưa đủ, mà bả luôn mượn dịp phát biểu những cảm nghĩ của bả về chính quyền địa phương. Theo bả, và điều này bả lập đi lập lại ở mỗi lần lên phát biểu, là viên chức chính quyền nào cũng thối nát hết. Bả có thể coi chị như bạn, nhưng nếu chị lỡ tranh cử và nắm được một cái ghế nào trong chính quyền là chị sẽ đương nhiên trở thành mục tiêu chống đối của bả liền tức thì. Ở đây ai đã từng tham dự những buổi họp có sự hiện diện của bà Tố Cần cũng đều biết điều đó và thường chỉ thở dài mỗi khi đến phiên bả phát biểu vào giờ dành cho công chúng, đành chỉ biết kiên nhẫn chờ bả phát biểu xong, thế thôi. Mà bà Tố Cần chịu khó theo dõi báo chí lắm. Bả đến thư viện công cộng mỗi ngày để đọc báo và đi họp để lên tiếng về các vấn đề công quyền địa phương như một người bình thường, người không biết khó mà tin là bả bị bệnh tâm thần. Còn các vấn đề quốc gia hay quốc tế thì bả viết thư rồi gửi đi tùm lum, có dạo bả lấy địa chỉ của một cái sở bưu điện ở đây làm địa chỉ của bả và về đó ngủ nữa, khiến sở bưu điện phải quyết định khóa trái cửa sớm hơn thường lệ thay vì mở cửa tới tận khuya để khách hàng tới lấy thư trong hộp thư của họ.

“Hôm ấy chắc là ông Giám sát viên George Barber có chuyện bực mình chi đó, và trong một lúc mất tự chủ sau khi nghe bà Tố Cần điểm mặt mỗi giám sát viên trên bàn chủ toạ là tham nhũng thối nát, điều mà bả lập đi lập lại đã cả chục năm nay, ông Barber không kềm lòng nổi đã ghé vào máy phóng thanh phán cho cả khán giả truyền hình ở các tư gia cùng nghe, nguyên văn như sau, ‘Nếu bà không hài lòng với cái hệ thống (ở Mỹ) thì bà nên về cái nơi mà từ đó bà đến đây.’ Một vài giám sát viên khác đã vội vàng lên tiếng xin lỗi công khai bà Tố Cần ngay sau đó.  Riêng ông Barber thì nhất định từ chối không chịu xin lỗi.”

Bài tường thuật của báo chí về vụ đụng độ không cần thiết ấy đã gây sôi nổi trong cộng đồng địa phương, đặc biệt là các cộng đồng thiểu số. Trong khi các nhân vật lãnh đạo của các cộng đồng thiểu số gặp gỡ để bàn cách đối phó, nhiều người có kinh nghiệm về bà Tố Cần với tính tố cáo vô bằng cớ – thậm chí có người trong cộng đồng Việt còn gán cho bà nhãn “Tố Càn” – đã gọi giây nói đến văn phòng Giám sát viên Barber hỗ trợ việc làm của ông này. Tờ The Record cũng nhận được nhiều thư cả chống lẫn bênh. Có người còn đòi cắt trợ cấp xã hội của bà khiến tờ báo phải đăng kèm một giòng ghi chú của chủ bút, rằng bà Tố Cần không hề nhận một đồng trợ cấp nào.