Tôi biết anh Phạm Xuân Hy khá trễ qua sự giới thiệu của anh Đỗ Tiến Đức, báo Thời Luận. Anh Phạm Xuân Hy lớn hơn tôi gần 10 tuổi, lại ở bên Pháp lâu lâu mới qua Mỹ một lần nên tôi không có dịp làm quen.
Trong cộng đồng người VN tại Nam Cali, số người am tường Hán văn không nhiều và phần lớn kín đáo nên chỉ sinh hoạt trong thế giới riêng của mình, ít khi trao đổi với người khác. Thành thử tôi biết anh Đức đã lâu nhưng phải đến khoảng 20 năm sau mới gặp anh Hy trong một dịp anh chị Hy sang Cali thăm thân nhân, bạn bè.
Tuy nhiên chỉ sau lần đầu gặp gỡ chúng tôi đã thân mật như quen biết từ lâu, một phần những người anh chị Hy quen biết thì không ít người tôi cũng đã giao thiệp, phần khác cái đồng cảm là cả tôi lẫn anh Hy đều thích đọc chữ Hán, có những điểm chung về kho tàng Hán văn.
Người Việt Nam nếu đã có chút trình độ thì ít nhiều ham thích cổ văn mà văn chương của mình thì gắn liền với Hán Việt, không cần biết đọc nhưng cũng biết qua các bài thơ nổi tiếng của Trung Hoa và từ đó lại làm quen với những bản dịch của Tản Đà, Nhượng Tống, Bùi Kỷ, Ngô Tất Tố, Vũ Hoàng Chương … và rồi thẩm nhập vào đầu óc lúc nào không biết.
Thế nhưng ít người đi xa hơn trừ những ai đặc biệt mê thích văn chương cổ. Còn những người đi thẳng vào chữ Hán như một tầng văn hóa để bơi lội trong đại dương của người xưa thì muôn người không có một. Thành ra người yêu thích dòng văn hóa Trung Hoa thì luôn luôn cô đơn vì hiếm khi gặp được người cùng sở thích như mình.
Tôi và anh Phạm Xuân Hy không ngừng lại ở chỗ có cùng sở thích mà chúng tôi lại có những điểm chung xa hơn. Nguyên tôi không những thích chữ Hán mà lại còn mày mò vào những khu vực chuyên môn của họ qua các loại sách vở trên phố Tàu. Trước khi gặp anh Hy, tôi lâu lâu cũng tự mình lái xe lên Chinatown rồi lang thang trong các tiệm sách, tiệm buôn của người Tàu tìm mua cổ văn. Sách bán trên Chinatown phần nhiều là loại sách không mấy người mua, ấn bản đã lỗi thời, có lẽ cũng như mấy hàng sách cũ trên đường Lê Lợi mà trước đây tôi hay la cà. Dù thích thú nhưng đi một mình cũng ngại vì từ nhà tôi lên Los phải đến 40 dặm, mà đường trên Los dạo ấy hay kẹt xe, đi đâu phải dùng những tập bản đồ, muốn tìm một nơi mà mình không quen thuộc thì rất mất thì giờ. Thành thử tôi chỉ loanh quanh trong khu vực đường Broadway là nơi có nhiều tiệm sách cũ và mới.
Khi biết anh Phạm Xuân Hy cũng thích đi tìm sách, tôi thường cùng anh lên Los Angeles và Monterey Park vì chỉ có hai nơi đó có một cộng đồng Hoa kiều đông đảo và có các thư điếm. Dưới Orange cũng có một hai tiệm sách của người Trung Hoa nhưng nhỏ hơn thường chỉ bán kèm đồ tạp hóa nên hiếm khi tìm được đề mục mà mình ưa thích. Hai ba mươi năm trước văn hóa đọc còn nhiều chứ đến nay thì ngay cả sách Việt Nam cũng đã vắng bóng, vùng Orange nay chỉ còn tiệm Tự Lực trên đường Brookhurst ở Westminster, bán sách xen lẫn với dược phẩm phụ trội và một số món linh tinh khác. Cách đây hai năm khi một nhà sách nổi tiếng là tiệm Tú Quỳnh thông báo đóng cửa, tôi cũng biết rằng văn hóa đọc nay đang vào hồi tàn lụi, cả mấy trăm ngàn người Việt nhưng số người mua sách không còn bao nhiêu. Qua những buổi ra mắt sách, ngoại trừ hồi ký của những nhân vật nổi tiếng hay nghệ sĩ, ca sĩ còn một số người quan tâm nhưng thực tình mà nói, sách vở nay chỉ có bằng hữu, thân nhân ủng hộ, các thế hệ ít tuổi hơn hầu như không biết đến, một phần họ không có thói quen đọc sách Việt, phần khác họ đã sống trong một môi trường văn hóa hoàn toàn khác với thế hệ của chúng tôi. Đến ngay như những người trong lứa tuổi 60, 70 nay cũng có nhiều thú tiêu khiển khác hợp với sở hiếu hơn việc ngồi đọc sách. Những chiếc lá vàng sau cùng còn sót lại trên cành nay cũng lả tả rơi rụng dần.
Anh Phạm Xuân Hy có trình độ Hán văn rộng hơn tôi vì anh còn biết cả chữ Nôm và chữ giản thể. Anh cũng thích nghiên cứu các loại cổ tích đời xa xưa trong khi tôi chỉ tập trung chủ yếu vào đời Thanh vì đó là thời kỳ liên quan trực tiếp đến đời Tây Sơn. Cũng nhờ anh Hy và tôi chịu khó loanh quanh trên các phố Tàu, tôi mới thấy rằng không thể chỉ hạn chế kiến thức của mình trong vòng sách vở từ Hongkong hay Đài Loan mà sách vở của Trung Hoa lục địa nay càng lúc càng nhiều, bỏ qua các nguồn tài liệu này là tự đóng cửa một khu vực bao la trước nay mình thờ ơ với nó. Muốn đi vào cánh cửa lục địa, việc đầu tiên là tôi phải tìm cách đọc chữ Hán giản thể là loại chữ ít nét hơn nay được dạy cho hàng tỉ người Trung Hoa.
Chữ Hán giản thể thực ra không khó, nếu mình biết được một số cách thức rút gọn của họ thì dễ đoán. Vả lại, một số khá lớn chữ tưởng là giản thể mới của Trung Hoa nhưng cổ nhân đã dùng từ lâu, chỉ cấm dùng trong thi cử, nhưng trong văn bài, tài liệu thì không thiếu. Chính việc biết thêm chữ giản thể lại giúp tôi đọc được nhiều chữ dị thể là những chữ Hán viết khác với tiêu chuẩn chính qui trước đây nay lại được dùng trong cách viết mới.
Chữ Hán chủ yếu có hai dạng thức: văn ngôn và bạch thoại. Bạch thoại là lối văn mới ngày nay người ta dùng nói và viết hàng ngày. Loại văn này tôi cũng khá quen thuộc vì đã từng đọc báo, đọc sách và dịch khá nhiều truyện Kim Dung.
Văn ngôn là chữ ngày xưa dùng trong văn chương thi cử, khó hơn bạch thoại vì phải biết cách đặt câu của người trước. Văn ngôn thường là các văn bản cổ, loại tài liệu gốc mà tôi dùng khi nghiên cứu. Khó nhất cho việc đọc tài liệu cũ là ngày xưa không chấm câu nên phải tuỳ theo mạch văn mà đặt dấu ngắt dòng, ngắt sai thì hiểu cũng sai, hoặc không ra ngô ra khoai gì cả.








