Chủ Nhật, 2 tháng 8, 2026

VÀO ĐẠO HỌC - TRIẾT HỌC VỚI NHÂN TỬ NGUYỄN VĂN THỌ [1]

 


HOÀNG VŨ (Bác sĩ Hoàng Văn Đức)

 

 Nhằm mục đích giới thiệu nhà học giả Nguyễn Văn Thọ tài liệu này gồm 4 phần chính và kết luận:

 

I. Thân thế tác giả.

II. Hành trình đi vào Đại Học, Triết Học của tác giả.

III. Những đóng góp vào Đạo giáo, Triết học và Khoa học của tác giả.

IV. Nhận định về tác giả qua sách vở, báo chí.

V. Kết luận


 Bác sĩ Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ 1921 - 2014


I. THÂN THẾ TÁC GIẢ

Tác giả sinh ngày 15-12-1921 tại Chi Long, Hà Nam Bắc Việt, tên NGUYỄN VĂN THỌ, bút hiệu NHÂN TỬ.

Tác giả đỗ Tú Tài toàn phần Triết Học Văn Chương Pháp năm 1944 và tốt nghiệp Y khoa bác sỹ tại Đại học đường Hà Nội năm 1952.

Sau khi tốt nghiệp y khoa bác sỹ, tác giả bị động viên với tư cách là bác sỹ quân y vào quân lực VNCH từ tháng 9 năm 1952. Với tư cách đó, tác giả đã phục vụ liên tiếp tại nhiều đơn vị và nhiều bệnh xá, bệnh viện tại các tỉnh Quảng Trị, Quảng Ngãi, Quảng Nam. Cuối năm 1952, tác giả được gởi đi tu nghiệp tại Army Medical Service School, Fort Sam Texas.

Tháng 6 năm 1956 trở về nước, Ông được cử giữ chức y sĩ trưởng bệnh viện tản thương 21 Đà Nẵng, và được thăng cấp y sĩ thiếu tá năm 1956. Đến năm 1958, ông được cử làm Y sĩ trưởng Tổng Y Viện Duy Tân, Đà Nẵng, và Ông ở chức vụ đó cho tới năm 1963.

Khi ở Đà Nẵng, ngoài chức Y sĩ trưởng Tổng Y Viện, Ông còn kiêm nhiệm chức Đại diện quân y quân khu 2, Chủ tịch các hội đồng Trưng Binh, Miễn Dịch, sáng lập viên và hiệu trưởng trường Văn Hóa Quân Đội Đà Nẵng, Phó Hội Trưởng rồi Hội Trưởng Hội Cổ Học Đà Nẵng.

Sang 1964, đương sự vào Sài Gòn, phục vụ tại Tổng Y Viện cộng hòa từ 1964 cho đến tháng 5- 1965.

Sau đó, Ông giải ngũ, trở về hành nghề y sĩ tư tại 77 Võ Tánh, Phú Nhuận, Gia Định.

Ngoài hoạt động chuyên môn, Ông còn tham gia nhiều công tác hoạt động Văn Hóa.

Ông được mời giảng dạy triết học Trung Hoa tại Đại Học Văn Khoa Sài Gòn từ 1967. Đến 1972 được cử nhiệm làm giảng sư thực thụ.

Ngoài ra, Ông còn được mời làm Giáo Sư triết học tại Phân Khoa Triết Học Viện Đại Học Minh Đức từ 1971. Trong niên khóa 1973- 1974 Ông được cử nhiệm chức Giáo Sư Trưởng Ban Triết Đông Tại Đại Học Minh Đức.

Ngoài ra, trong những năm 1970- 1971, Ông còn giảng dạy Triết lý tôn giáo tại trụ sở Dòng Tên Alexandre de Rhodes, 161 Yên Đỗ, Sài Gòn.

Ông gia nhập Tinh Việt Văn Đoàn từ 1962.

Được tạp chí Concilium Hòa Lan mời gia nhập Hội Thần học gia quốc tế từ 1966.

Nhân viên tong ủy ban điển chế văn tự từ 1967 đến 1969.

Du Hành Quan Sát và Tu Nghiệp

Ông đã du hành quan sát Philippines năm 1952, theo lời mời của Phòng Thông Tin Hoa Kỳ Sài Gòn cùng với các Ông Hồ Quang Phước và Trần Điền.

Ông đã du học tại Hoa Kỳ (từ tháng 12- 1955 đến 5- 1956) tại trường Army Medical Service School, Fort Sam Texas Hoa Kỳ.

Và đã đại diện ngành quân y Việt Nam tham dự Hội Nghị Quân Y Quốc Tế tại Teheran, Ba Tư năm 1961.

Các Tác Phẩm

Ông đã viết rất nhiều sách, nhưng mới được in có một số, còn một số lớn chưa in.

A/ Đã xuất bản

1) Khảo luận và phê bình học thuyết Khổng Tử (Khổng Học Đà Nẵng xuất bản năm 1961).

2) Lecomte du Noüy và Học Thuyết Viễn Đích (Văn Đàn xuất bản năm 1961).

3) Khổng học tinh hoa. (Khai Trí xuất bản, 1970).

4) Những điểm tương đồng của Phật Giáo, Công Giáo và Khổng Giáo (Công giáo tiến hành địa phận Xuân Lộc xuất bản).

5) Chân dung Khổng Tử (Khai Trí xuất bản năm 1972).

B/ Chưa xuất bản

1) Les secrets des reins révélés. (Luận án y khoa đệ trình tại Y khoa Đại Học đường Hà Nội năm 1952. Được giải thưởng luận án năm đó).

2) Trung Dung Tân Khảo (Giải thưởng văn chương Lecomte du Noüy do Tinh Việt Văn Đoàn trao tặng năm 1960- 1961).

3) Vô cực luận.

4) Thái cực luận.

5) Hà Đồ.

6) Lạc Thư.

7) Dịch học nhập môn.

8) Tượng luận thiên.

9) Dịch kinh giản yếu.

10) Âm Dương, Tứ Tượng, Ngũ Hành luận.

11) Kinh Dịch diễn ca và bình giảng (Toàn bộ: 1500 trang).

12) Lão Tử Đạo Đức kinh (diễn ca và bình giảng).

13) Văn Học là gì. (Diễn văn tại trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn đã đăng tải trong Văn Hóa nguyệt san năm 1969- 1970, Gió Việt của Bộ Ngoại Giao năm 1970, Tạp chí Tân Học năm 1972.) 

14) Qu’est-ce que la culture. (Bản dịch pháp văn của bài diễn văn trên) 

15) Trung Dung giảng luận.

16) Hướng Tinh Thần (Phong trào Hưng Giáo Văn Đông đã cho phổ biến hạn hẹp).

C/ Đang soạn thảo

1) Thiên văn học Trung Hoa (đã được đăng làm nhiều kỳ trên Tạp Chí Phương Đông).

2) Vấn Đề Văn Hóa.

3) Tôn giáo đối chiếu.

D/ Linh Tinh

Ngoài ra tác giả còn công tác với các tập san:

1) Cổ học Quảng Nam (1958-1960).

2) Đại học Huế. (1959).

3) Văn Đàn. (1961-1963).

4) Văn Hóa Tập San từ 1969.

5) Gió Việt của Bộ Ngoại Giao (1970).

6) Phương Đông từ 1971.

7) Minh Đức từ 1972.

8) Tân Học. (1972) 

Tác giả cũng đã diễn thuyết ở nhiều nơi về nhiều vấn đề văn chương, triết học, đạo giáo.

Đã diễn thuyết về Khổng Giáo, tại:

- Đại học Huế (1959).

- Trung Phần Tương Tế Huế (1960) do lời mời của Viện Hán Học Huế.

- Đà Nẵng.

- Hội An. (1960) 

- Vĩnh Điện (Quảng Nam, 1960).

- Hòa Vang (Quảng Nam, 1960).

- Tổng Y Viện Cộng Hòa Sài Gòn.

- Hội Việt Mỹ Sài Gòn (Thuyết trình bằng anh văn, tháng 10-1970. Bài diễn văn đã được đăng tải bằng song ngữ Anh Việt trong tạp chí của Hội Việt Mỹ.

Đã diễn thuyết về:

- Đề tài «Sức mạnh con người» tại câu lạc bộ sĩ quan Huế (1961).

- Đề tài «Thanh niên trước ngưỡng cửa đời» tại trườong Sao Mai Đà Nẵng (1962) và trường Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn (1966).

- Đề tài «Văn Hóa là gì?» tại trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn (1969).

- Đề tài «Ít nhiều nhận định về Tôn giáo đối chiếu» tại trường Taberd Sài Gòn (1970) và Chi Hội Kiêm Ái, Phan Thanh Giản, Sài Gòn (1973).

- Đề tài «Những điểm tương đồng giữa Phật giáo, Khổng giáo và Công giáo» tại tòa Giám Mục Long Khánh (1970).

- Đề tài “Trời chẳng xa người” tại Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Cao Đài 171 Cống Quỳnh Sài Gòn (1970).

- Đề tài “Tìm hiểu vũ trụ, con người và Đạo giáo qua Kinh Dịch tại Chi bộ Kiêm Ai đường Phan Thanh Giản Sài Gòn (1973).

- Đề tài «Ý nghĩa âm nhạc trong văn minh Đông Phương» tại Phân khoa 

Từ 1969 tác giả đã dành các buổi chiều chủ nhật để giảng dạy kinh Dịch cho một số sinh viên đã tốt nghiệp cử nhân triết tại Văn Khoa Sài Gòn. Một giảng khóa đã kéo dài hơn 400 giờ.

Hiện nay Ông tiếp tục giảng dạy Lão Trang cho các sinh viên cũng chiều chủ nhật tại 171 Cống Quỳnh Sài Gòn.

Huy chương đã được:

- Anh dũng bội tinh với ngôi sao vàng năm 1955.

- Văn hóa giáo dục bội tinh do Phủ Văn Hóa trao tặng năm 1972.


Thứ Bảy, 1 tháng 8, 2026

Nhớ về Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ


Nguyễn Duy Chính

 


Hình 1: Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ (1921 – 2014)  


      Tôi có ba vị Thầy ảnh hưởng nhiều đến cuộc đời, hai người tôi theo học thật theo kiểu trường lớp, một người chỉ gián tiếp qua sách vở. Cụ Đặng Quí Tuỳ là cụ giáo dạy Pháp văn miễn phí ở gần nhà dạy tôi lối sống đạm bạc và hi sinh cho tha nhân, cụ Nguyễn Hiến Lê là một học giả mà tôi gọi là tâm sư - vì tôi chưa gặp mặt bao giờ - dạy cho tôi biết thế nào là đủ về vật chất để dồn nỗ lực vào công việc tinh thần. Hai vị thầy đó qua đời đã lâu. Vị thầy gần gũi có nhiều cơ hội tiếp xúc là Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ, vừa thất lộc đầu năm 2014. 

      Không nhớ chính xác thời điểm nhưng lần đầu tiên tôi thụ giáo Bác Sĩ Thọ là tại một lớp về Kinh Dịch ở Phú Nhuận vào khoảng cuối thập niên 1960. Lớp học một tuần một buổi ngày Chủ Nhật, mỗi tuần một quẻ. Ngày đầu tiên tôi học cụ dạy về quẻ Thái, lớp học có lẽ cũng đã bắt đầu được vài tháng rồi. 

      Tôi học không lâu, chỉ chừng một năm vì sau đó tôi ra trường và đi làm ở các tỉnh nên không thể tiếp tục mặc dù tôi vẫn nhờ ông chú họ mua giùm các tài liệu in ronéo để xem thêm. Nói đúng ra tôi đến lớp của Bác Sĩ Thọ không có một mục tiêu cụ thể nào vì tôi không tham dự như những người đang ghi danh ở đại học Văn Khoa.  

      Tôi cũng không đi tìm một con đường tu tập vì vốn dĩ tôi không phải là một người tôn giáo, có đức tin vào một đấng huyền vi mà luôn luôn suy nghĩ và hành động của nhà nho, “vị tri sinh, an tri tử” (chuyện sống còn chưa biết huống gì chuyện chết) và theo đuổi cái quan niệm rất sơ đẳng là “tận nhân lực, tri thiên mệnh” (làm hết sức mình để biết mệnh trời). 

       Khi theo học lớp Dịch của Bác sĩ Thọ, tôi chỉ biết rất mơ hồ về văn minh Trung Hoa, kém xa những người khác được huấn luyện một cách chính thức mặc dù tôi có cái ưu điểm là biết lem nhem vài chữ Nho vốn dĩ tự học sau năm đệ Thất ở CVA là niên học có môn Hán văn mỗi tuần một giờ. 

      Trong cái “tiểu trí” của tôi hồi đó, kinh Dịch là chìa khoá để mở những cánh cửa của văn minh Á Đông. Tôi thích thú không phải vì ý nghĩa uyên áo của hào, của quẻ mà chỉ là diễn giải qua những phần bình luận sau mỗi quẻ mà Bác Sĩ Thọ viết rất công phu, tuy tổng quát nhưng cung cấp căn bản vững chắc về đông y, về thiên văn, về tiên thiên hậu thiên, âm dương ngũ hành ... 

      Chính vì thế, cho đến giờ này sắp sửa bước vào tuổi “cổ lai hi”, sở học căn bản của tôi vẫn lộn xộn không đâu vào đâu cả. Giá như hồi đó Bác Sĩ Thọ dạy tôi Tam Tự Kinh hay Ấu Học Ngũ Ngôn Thi có lẽ tôi có cơ sở hơn vì từ một thanh niên không biết gì về văn minh Á Đông mà vào thẳng Kinh Dịch thì cũng không khác gì đi ngược đầu, chưa học cộng trừ nhân chia đã làm toán vi phân tích hay nói một cách dễ hiểu thì học kinh văn võ công tầng thứ bảy mà không qua tầng thứ nhất, thứ hai. 

      Thế nhưng cũng có cái hay vì Bác Sĩ Thọ không phân tích để dựng lại một khung hình suy nghĩ mà kinh Dịch cũng như mọi kinh điển, sách vở khác chỉ là một khu vườn để trồng cái đạo lý cụ nhiệt tình rao giảng. Đó là muốn đi tìm cái rốt ráo mà mọi tôn giáo đều truy cầu dù với những tên gọi khác nhau như “niết bàn”, “đại đạo” hay “thượng đế” … thì phải quay về chính mình, với “chân tâm” chứ đừng cầu ở sắc tướng, ở âm thanh nghĩa là đừng hướng ngoại mà phải hướng nội. Khi đã nhận biết cái tâm điểm đó thì mục tiêu tối hậu là không còn tôn giáo ngoại truyền vì mọi chấp trước vào hình thức lệ thuộc vào ngôn từ hay nghi lễ đều chỉ là vọng tưởng, là giả tâm. Hiểu được như thế, tôi mới biết rằng cụ có cái chìa khoá mở được mọi cánh cửa triết học và đạo giáo, cổ hay kim, đông hay tây. 

      Theo học Bác Sĩ Thọ nhiều năm nhưng chung qui tôi chỉ nhớ được hai câu: 


若以色見我,以音聲求我,是人行邪道,不能見如來[1]

Nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã, thị nhân hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai.

Nếu như lấy hình sắc để xem ta, lấy âm thanh để cầu ta, người ấy đã đi sai đường, không thể nào thấy được chân tâm bản ngã 

人心惟危 ,道心惟微,惟精惟一,厥中[2]

 Nhân tâm duy nguy, đạo tâm duy vi, duy tinh duy nhất doãn chấp quyết trung.

Lòng con người thì luôn luôn chông chênh, chao đảo. Gốc của đạo thì sâu thẳm vi diệu vô cùng. Muốn vào được đạo trung [tìm được chân tâm] thì phải luôn luôn tinh thuần chuyên nhất 

    [Kinh Thư, Đại Vũ Mô, tiết 15]


Thứ Sáu, 31 tháng 7, 2026

Gã Râu Xồm _ Lâm Ngữ Đường

LỜI MỞ ĐẦU

 

Ðây là một truyện ngắn nguyên tác nhan đề Cầu Nhiêm Khách trích trong Thái Bình Quảng Ký, chương 193, của Ðỗ Quang Ðình (850 - 933) (cũng có nơi cho là của Trương Thuyết). Ðỗ Quang Ðình người huyện Tấn Vân, tỉnh Triết Giang, vốn là một đạo sĩ ở Ngũ Ðài Sơn, làm quan Nội Cung Phụng nhà Ðường, sau vào đất Thục. Dưới triều Vương Kiến ông làm Tử Quang Lộc Ðại Phu, Luyện nghị Ðại Phu. Sau khi Vương Kiến mất, dưới đời Hậu Chúa ông được phong làm Toàn Chân Thiên Sư, Vinh Chân Quan Ðại Học Sĩ. Khi ông về hưu, ở ẩn tại núi Thanh Thành mất năm 84 tuổi. Truyện Cầu Nhiêm Khách rất được người Trung Hoa tán thưởng. Kim Thánh Thán cũng cho phút vui thứ 33 của cuộc đời là đọc truyện Cầu Nhiêm Khách. Kim Dung cũng viết một thiên tiểu luận về truyện này và cho rằng đây là truyện võ hiệp đầu tiên của người Trung Hoa. Nếu bạn nào đọc kỹ truyện Thiên Long Bát Bộ, trong đoạn Ðoàn Dự luận về các loại hoa trà cho Vương Phu nhân nghe ở Mạn Ðà Sơn Trang cũng có đề cập đến những nhân vật trong truyện này:

Vương phu nhân vẻ mặt đắc ý, nói :

-    Ðoàn công tử, nước Ðại Lý của cậu hoa trà rất nhiều, nhưng nếu so sánh với của ta chắc không thể bì kịp.

Ðoàn Dự gật đầu :

-     Những hoa trà loại này dân Ðại Lý chúng tôi chẳng ai trồng cả.

Vương phu nhân cười khanh khách :

-   Thật ư?

Ðoàn Dự nói :

-   Những người dân quê mùa tầm thường ở Ðại Lý cũng biết các loại hoa này phẩm chất kém cỏi, trồng chẳng cao sang gì.

Vương phu nhân mặt biến sắc, giận dữ nói :

-  Ngươi nói sao? Ngươi bảo hoa trà ta trồng là loại tục phẩm ư? Nói như thế chẳng hóa, chẳng hóa .... khinh người quá lắm.

Ðoàn Dự nói :

-     Phu nhân tin hay không tin cũng tùy ở người.

Chàng vừa nói vừa chỉ một cây hoa trà ngũ sắc trước lầu :

-     Giá thử như cây này, bà tưởng nó quí lắm ư. Hứ, đẹp thật, cái lan can này thật là đẹp, thật là đẹp.

Chàng tấm tắc khen cái lan can đẹp mà hoa thì chẳng nhắc đến một câu khác nào người xem chữ viết, không nhắc đến chữ mà chỉ khen lấy khen để mực đen và giấy tốt.

Cây hoa trà đó vừa trắng vừa đỏ, vừa tía vừa vàng, sắc hoa thật là rực rỡ, từ trước tới nay Vương phu nhân vẫn coi là trân phẩm. Nay thấy Ðoàn Dự có vẻ xem thường nên lông mày bà nhướng lên, mắt lộ sát ý. Ðoàn Dự nói :

-     Xin hỏi phu nhân, giống hoa này ở Giang Nam gọi tên là gì?

Vương phu nhân hậm hực đáp :

-     Chúng tôi chẳng gọi tên gì đặc biệt, chỉ gọi là hoa trà Ngũ Sắc.

Ðoàn Dự mỉm cười :

-     Ðại Lý chúng tôi có đặt cho nó một cái tên, gọi là Lạc Ðệ Tú Tài (thư sinh thi hỏng).

Vương phu nhân hừ một tiếng :

-     Cái tên sao khó nghe làm vậy, chắc ngươi tiện mồm đặt ra chứ gì. Cây hoa đẹp đẽ như thế, sao lại giống gã thư sinh thi hỏng?

-     Phu nhân thử nhìn lại xem, cây hoa này cả thảy tất cả mấy màu.

Vương phu nhân nói :

-     Ta đã đếm qua, cũng phải có đến 15, 16 màu khác nhau.

Ðoàn Dự nói :

-     Cả thảy đúng ra là 17 màu. Ðại Lý có một loại hoa quí giá nổi tiếng tên gọi Thập Bát Học Sĩ. Ðó là thiên hạ cực phẩm, trên cây có đủ 18 đóa hoa, mỗi đóa một màu khác nhau, hồng thì toàn hồng, tía thì toàn tía, không một mảy lẫn lộn. Nhưng cả 18 đóa hoa mỗi đóa hình trạng khác nhau, mỗi đóa một vẻ, nở thì cùng nở, tàn thì cùng tàn, phu nhân đã thấy bao giờ chưa?

Vương phu nhân nghe qua thẫn thờ, lắc đầu :

-     Trên đời này lại có loại hoa như thế sao? Ðến nghe nói tới ta cũng chưa nghe bao giờ.

Ðoàn Dự nói :

-     So với Thập Bát Học Sĩ kém một mức là Thập Tam Thái Bảo là 13 đóa hoa khác nhau trên cùng một cây. Rồi đến Bát Tiên Quá Hải là 8 đóa khác nhau một cây. Thất Tiên Nữ là 7 đóa. Phong Trần Tam Hiệp là ba đóa. Nhị Kiều là một trắng một đỏ hai đóa. Nói đến hoa trà là phải thuần sắc, nếu như trong đỏ có lẫn trắng, trong trắng lẫn tía thì là hạ phẩm rồi.

Vương phu nhân bỗng nhiên đờ đẫn, nhìn về xa xăm, nói một mình :

-     Sao y không nói cho ta biết nhỉ?

Ðoàn Dự nói tiếp :

-          Trong Bát Tiên Quá Hải có cả hoa màu tía sậm và màu hồng nhạt, đó là Lý Thiết Quài và Hà Tiên Cô, nếu thiếu hai màu đó, dù là tám màu khác nhau cũng không được gọi là Bát Tiên Quá Hải mà gọi là Bát Bảo Trang, tuy cũng là danh chủng nhưng so với Bát Tiên Quá Hải còn thua một bậc.

Vương phu nhân nói :

-     Nguyên lai như thế.

Ðoàn Dự lại tiếp :

-     Trở lại Phong Trần Tam Hiệp cũng có chính phẩm và phó phẩm. Nếu là chính phẩm, trong ba đóa thì đóa màu tía phải to nhất, đó là Cầu Nhiêm Khách, đóa màu trắng nhỏ hơn, đó là Lý Tịnh, đóa màu hồng nhỏ nhất nhưng cũng kiều diễm nhất đó là Hồng Phất Nữ. Nếu như hoa màu hồng lại to hơn hoa màu tía, hoa màu trắng thì là phó phẩm, hai đằng một trời một vực.

Người ta đã bảo quen thuộc như đồ trong nhà mình. Trong nhà Ðoàn Dự có tất cả những loại này nên chàng nói ra vanh vách đâu ra đấy. Vương phu nhân nghe thật thích thú thở dài :

-     Ðến phó phẩm ta cũng chưa được nhìn qua nói gì chính phẩm !

Ðoàn Dự chỉ vào cây hoa trà ngũ sắc nói :

-     Còn loại hoa trà này, nếu luận về sắc so với Thập Bát Học Sĩ còn kém một, lại không thuần, nở thì khi sớm khi muộn, hoa thì đóa nhỏ đóa to. Chẳng khác gì Ðông Thi giả nhăn mặt, học đòi làm Thập Bát Học Sĩ thì không xong. Vì thế chúng tôi đặt cho cái tên Lạc Ðệ Tú Tài.

 (Trích trong Thiên Long Bát Bộ, tập 2, trang 495-7 của Kim Dung. Viễn Ảnh xuất bản, Ðài Bắc 1981, NDC dịch)

 

Cầu Nhiêm Khách được Lâm Ngữ Ðường viết lại theo thể văn mới và đã từng được nhiều người dịch ra tiếng Việt. Bản dịch này chúng tôi căn cứ vào Trung quốc truyền kỳ tiểu thuyết là một bản dịch qua chữ Hán của Trương Chấn Ngọc, từ nguyên tác Famous Chinese Short Stories do Ðức Hoa xuất bản xã ấn hành năm 1980. Các tài liệu về Ðỗ Quang Ðình trích trong phần phụ đính bộ Hiệp Khách Hành của Kim Dung do Minh Hà xuất bản năm 1979. 


 

Hội nghị  Các nhà văn Á châu tại Đài Bắc, tháng Sáu 15-22, 1970. từ phải, nhà văn Lâm Ngữ Đường (Lin Yutang), Nguyễn Thị Hoàng VN, Kawabata Nhật Bản, Huy Lực VN, Võ Phiến VN. [Nguồn: Việt Ecology Press, trích từ album gia đình Võ Phiến-Viễn Phố, Ghi chú hình của Ngô thế Vinh]. Phải: hình bìa cuốn Famous Chinese Short Stories, retold by Lin Yutang. 


Thứ Năm, 30 tháng 7, 2026

Bảo vệ Mekong và Salween: Từ Tuyên bố ASEAN về quyền môi trường đến cơ chế thực thi

Cứu vãn nguồn sống của bảy mươi triệu người Đông Nam Á

Lời dẫn

Từ những con cá bị lở loét trên sông Kok ở Thái Lan đến nguy cơ ô nhiễm lan rộng khắp lưu vực Mekong và Salween, Đông Nam Á lục địa đang chứng kiến một cuộc khủng hoảng môi trường xuyên biên giới ngày càng nghiêm trọng. Trong bối cảnh hoạt động khai thác đất hiếm và phát triển thủy điện tiếp tục mở rộng, câu hỏi không còn là liệu khu vực có cần tăng cường hợp tác hay không, mà là liệu ASEAN có thể biến những cam kết về quyền môi trường thành các cơ chế bảo vệ thực sự, trước khi những tổn thất trở nên không thể đảo ngược.

Hình 1: Hội nghị các Bộ trưởng Ngoại giao lần thứ 10 Hợp tác Lancang - Mekong tại Vân Nam, Trung Quốc, ngày 15 tháng 8 năm 2025. Từ trái: Bùi Thanh Sơn (Việt Nam), Thongsavanh Phomvihane (Lào PDR), Maris Sangiampongsa (Thái Lan), Vương Nghị (Trung Quốc), Prak Sokkhon (Cam Bốt), U Than Swe (Myanmar).  

CHIANG RAI, Thái Lan — Trong một buổi sáng oi bức bên bờ sông Kok ở Thái Lan, một người đánh cá kéo lưới lên với hy vọng có được mẻ cá như thường lệ. Thay vào đó, ông phát hiện những con cá rô phi đầy những vết loét đỏ tươi. Vài ngày sau, sau khi tắm trên sông, ông bị nổi mẩn ngứa kéo dài các phương pháp điều trị thông thường không hiệu quả.

Hình 2: Cá trên sông Kon, Sài, Mekong bị biến dạng do nhiễm độc

Suốt nhiều thế hệ, sông Kok đã nuôi sống các gia đình ngư dân, tưới tiêu cho những cánh đồng lúa và duy trì sinh kế của các cộng đồng nông thôn ở miền bắc Thái Lan. Ngày nay, con sông này đã trở thành tín hiệu cảnh báo về một cuộc khủng hoảng môi trường quy mô lớn đang diễn ra trên khắp Đông Nam Á lục địa. 


VĨNH BIỆT TIỂU TỬ

TỪ THỨC



      Nhà văn Tiểu Tử, 95 tuổi, vừa từ trần tại Noisy le Grand, ngoại ô Paris, ngày 18/9/2025, sau nhiều năm chống chọi với bệnh tật.

      Với lối hành văn ‘’miệt vườn’’, đặc biệt miền Nam, ông ghi lại một cách sống động những màn kịch vừa bi thảm vừa khôi hài ở miền Nam sau 1975. Ông nói thay hàng triệu người cái u uất, cái đau buồn một buổi sáng thấy mình mất quê hương, mất dĩ vãng.

      Đọc Tiểu Tử, người ta có cảm tưởng như tác giả là người thân, bởi vì những chuyện ông kể là chuyện của chính mình. Nghe tin Tiểu Tử qua đời, người ta buồn như một người trong gia đình vừa ra đi.

      Tang lễ tiễn biệt sẽ được tổ chức lúc 12h, ngày Thứ Năm 25/09/25 tại nhà hoả táng Père Lachaise, salle BIGOT, 55 rue des Rondeaux, 75020 Paris.

      Để tưởng niệm tác giả, xin gởi lại dưới đây bản ghi lại bài nói chuyện nhân dịp ra mắt sách Tiểu Tử trước đây tại Paris, Pháp

*

TIỂU TỬ, NHỮNG GIỌT NƯỚC MẮT, NHỮNG TIẾNG THỞ DÀI

Từ Thức, Paris



      André Gide nói ‘’ C’est avec les beaux sentiments qu’on fait de la mauvaise littérature ‘’ (Với những tình cảm tốt, người ta làm văn chương dở) (1).

      Tiểu Tử là một nhà văn đã chứng minh ngược lại, có thể viết hay với những tình cảm tốt. Trong tác phẩm của ông, hầu như chỉ có những tình cảm tốt , chỉ có tình người.

     Một nhân vật nói về một nhân vật khác trong truyện ngắn ‘’Made in Vietnam’’: người chi mà tình nghiã quá héng? ‘’ . Độc giả nghĩ tới câu đó mỗi lần đối diện với những nhân vật của Tiểu Tử. Người chi mà tình nghiã quá héng.

       Độc giả chai đá tới đâu, đọc Tiểu Tử cũng không cầm được nước mắt. Người ta khóc, nhưng sau đó thấy ấm lòng, vì thấy trong một xã hội đảo lộn, vẫn còn đầy tình người, vẫn còn đầy thương yêu, vẫn còn nghiã đồng bào, vẫn còn những người tử tế. Và thấy đời còn đáng sống.



 

Nhà văn Tiểu Tử -- Photo by Tường Anh / RFA
Những câu chuyện Di Tản của nhà văn Tiểu Tử – Tường An, thông tín viên RFA


      Một nhà văn Pháp nói văn chương, trước hết là xúc động. Trong truyện ngắn của Tiểu Tử, sự xúc động hầu như thường trực, chan chứa. 

Bài ca vọng cổ

 TIỂU TỬ

      Tôi vượt biên một mình rồi định cư ở Pháp. Năm đó tôi mới 49 tuổi, vậy mà đi tìm việc làm đến đâu người ta cũng chê là tôi già! Vì vậy, một hôm, khi chải tóc, tôi nhìn kỹ tôi trong gương. Tôi bỗng thấy ở đó có một người có vẻ như quen nhưng thật ra thì rất lạ: mắt sâu, má hóp, mặt đầy nếp nhăn trên trán, ở đuôi mắt, ở khoé môi, mái tóc đã ngả bạc cắt tỉa thô sơ như tự tay cắt lấy. Từ bao lâu nay tôi không để ý, bây giờ soi gương vì bị chê già, tôi mới thấy rằng tôi của hồi trước “Cách mạng thành công” và tôi của bây giờ - nghĩa là chỉ sau có mấy năm sống dưới chế độ gọi là ưu việt - thật không giống nhau chút nào hết. Tôi già thiệt, già trước tuổi. Cho nên, tôi nhìn tôi không ra. Từ đó, mỗi ngày tôi... tập nhìn tôi một lần, nhìn kỹ, cho quen mắt!



      Một người bạn làm việc lâu năm ở Côte d’Ivoire (Phi Châu) hay tin tôi đã qua Pháp và vẫn còn thất nghiệp, bèn giới thiệu tôi cho Công ty Đường mía của Nhà nước. Không biết anh ta nói thế nào mà họ nhận tôi ngay, còn gửi cho tôi vé máy bay nữa. Xưa nay, tôi chưa từng quen một người da đen gốc Phi Châu nào hết. Và chỉ có vài khái niệm thô sơ về vùng Phi Châu da đen như là: ở đó nóng lắm, đất đai còn nhiều nơi hoang vu, dân chúng thì da đen thùi lùi, tối ngày chỉ thích vỗ trống, thích nhảy tưng tưng v.v… Vì vậy, tôi hơi... ngán. Nhưng cuối cùng rồi tôi quyết định qua xứ da đen để làm việc, danh dự hơn là ở lại Pháp để tháng tháng vác mặt Việt Nam đi xin trợ cấp đầu nọ, đầu kia... 

Những Giọt Nước Mắt, Những Tiếng Thở Dài

TỪ THỨC


      André Gide nói ‘’ C’est avec les beaux sentiments qu’on fait de la mauvaise littérature ‘’ (Với những tình cảm tốt, người ta làm văn chương dở).(1) Tiểu Tử là một nhà văn đã chứng minh ngược lại, có thể viết hay với những tình cảm tốt. Trong tác phẩm của ông, hầu như chỉ có những tình cảm tốt, chỉ có tình người. 

 

      Một nhân vật nói về một nhân vật khác trong truyện ngắn ‘’Made in Vietnam’’: người chi mà tình nghiã quá héng? ‘’ . Độc giả nghĩ tới câu đó mỗi lần lại gần những nhân vật của Tiểu Tử. Người chi mà tình nghiã quá héng. 

 

      Độc giả chai đá tới đâu, đọc Tiểu Tử cũng không cầm được nước mắt. Người ta khóc, nhưng sau đó thấy ấm lòng, vì thấy trong một xã hội đảo lộn, vẫn còn đầy tình người, vẫn còn đầy thương yêu, vẫn còn nghiã đồng bào vẫn còn những người tử tế . Và thấy đời còn đáng sống. 

 

      Một nhà văn Pháp nói văn chương, trước hết là xúc động. Trong truyện ngắn của Tiểu Tử, sự xúc động hầu như thường trực, chan chứa.

 

 




MIỆT VƯỜN

 

      Tiểu Tử là một nhà văn miền Nam điển hình, con đường nối dài của những Hồ Biểu Chánh, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam. 

 

      Văn của ông là lối kể chuyện của người miền Nam, bình dị nhưng duyên dáng, duyên dáng bởi vì bình dị, tự nhiên. Tiểu Tử không ‘’ làm văn ‘’. Không có chữ thật kêu, không có những câu chải chuốt. Với cách viết, với ngôn ngữ chỉ có những tác giả miền Nam mới viết được. Không hề có cường điệu, không hề có làm dáng. Người đọc đôi khi có cảm tưởng tác giả không mấy ưu tư về kỹ thuật viết lách. Ông viết với tấm lòng.