Thứ Hai, 26 tháng 10, 2026

Cầu đi bộ Lá Dừa Nước:

 từ kí ức miền Tây đến tình bạn Việt – Úc

NGUYỄN VĂN TUẤN


Giữa lòng Sài Gòn hiện đại, một tàu lá quê nhà. Một công trình mang dấu ấn năng lực Việt Nam, với sự đồng hành của nước Úc (mà báo chí Việt Nam chưa nhắc đến).

Từ Quận Tư (nay là phường Xóm Chiếu), tôi gần như ngày nào cũng có dịp đi ngang qua nơi đang xây dựng cây cầu đi bộ nối Bến Bạch Đằng với Thủ Thiêm. Tôi đã xem qua bản vẽ thiết kế, biết cây cầu lấy cảm hứng từ hình dáng lá dừa nước, nhưng thú thiệt, vẫn chưa hình dung được khi bắc qua sông Sài Gòn, nó sẽ trông ra sao.

Cho đến ngày 21/10, khi nhịp chánh của cây cầu chánh thức hợp long, nhìn hình cây cầu hiện ra giữa dòng sông, tôi mới cảm nhận được hết vẻ đẹp của ý tưởng đó.

Với tôi, cây cầu đẹp không chỉ vì đường nét kiến trúc, mà còn vì một lí do rất riêng tư: giữa lòng Sài Gòn hiện đại, tôi chợt nhìn thấy một hình ảnh thân thương của quê nhà.

Đó là cái lá dừa nước.


Cây dừa nước miệt quê miền Tây

Lá dừa nước và kí ức tuổi thơ

Ai từng lớn lên ở miệt quê miền Tây chắc không xa lạ gì với cây dừa nước. Nó mọc ven sông, ven rạch, bám vào những bãi bùn, lặng lẽ sống qua bao mùa nước lớn, nước ròng. Nó không kiêu sa như những loài cây cảnh. Nó cũng chẳng cao lớn như cây dừa trên cạn. Nó cứ âm thầm hiện diện trong đời sống của người dân quê tôi, từ đời này sang đời khác.

Nhà ba má tôi xây nằm bên bờ sông. Thành ra, tuổi thơ tôi gắn với con nước, với những bụi dừa nước, với những buổi lội bùn bắt cá bống gần mùa Tết. Hồi đó, tôi đâu có nghĩ gì nhiều về cây dừa nước. Nó ở đó, tự nhiên như dòng sông trước nhà, như tiếng mái chèo khua nước, như những buổi chiều quê yên ả.

Chỉ đến khi đi xa, rồi có tuổi, tôi mới hiểu rằng có những thứ lúc sống bên cạnh, mình thấy quá bình thường, nhưng khi ngoảnh lại, chúng bỗng trở thành một phần rất sâu trong kí ức.

Cây dừa nước đối với tôi là một thứ như vậy. Trong cuốn hồi ức “Giấc mơ Kangaroo”, tôi từng nhắc đến hình ảnh lá dừa nước như một phần kí ức quê nhà.

Và hôm nay, nhìn cây cầu đang thành hình giữa sông Sài Gòn, những kí ức đó lại ùa về, gần gũi và rõ ràng hơn bao giờ hết.

Tôi nhớ những bụi dừa nước bám chặt vào bờ sông, chịu đựng dòng nước lớn ròng, giữ cho đất không bị cuốn trôi. Tôi nhớ những trái dừa nước với phần cơm mềm mềm, dẻo dẻo, vị ngọt thanh rất riêng, thứ quà quê giản dị mà ăn một lần là nhớ hoài.

Nhưng có lẽ tôi nhớ nhất vẫn là những tàu lá dừa nước.

Ngày xưa ở quê, người ta dùng lá dừa nước để lợp nhà. Những mái lá đơn sơ đã che nắng, che mưa cho biết bao gia đình miền Tây.

Nghĩ cho cùng, chiếc lá dừa nước tuy bình dị mà có ý nghĩa biết bao. Nó che chở con người, như chính vùng đất quê hương đã nuôi dưỡng bao thế hệ lớn lên. Có lẽ vì vậy mà tôi đặc biệt thích ý tưởng chọn hình dáng lá dừa nước làm cảm hứng cho cây cầu đi bộ này.

Giữa những tòa cao ốc, những công trình kiến trúc hiện đại và một Sài Gòn luôn hướng về phía trước, một lá dừa nước bỗng được nâng lên thành một biểu tượng kiến trúc mới. Điều đó khiến tôi vừa thích thú, vừa có chút xúc động.



Phối cảnh cầu đi bộ qua sông Sài Gòn hình tượng lá dừa nước – Ảnh: Liên danh Chodai – Takashi Niwa Architects và Chodai Kisojiban Việt Nam

Nhịp cầu thể hiện năng lực Việt Nam

Ý tưởng lấy hình lá dừa nước thiết kế hình dáng cây cầu là từ công ty Kiến trúc Niwa (Nhật Bản – Việt Nam).

Đằng sau hình dáng mềm mại của chiếc lá dừa nước là một công trình kĩ thuật đầy thử thách. Và tất cả đều do người Việt thiết kế, chế tạo và lắp ráp. Tập đoàn đứng đằng sau là Đại Dũng, có trụ sở ở phường Tân Sơn Hoà [1].

Thử tưởng tượng một kết cấu thép 3400 tấn, dài 187 mét. Nó phải di chuyển bằng đường sông suốt 124 km. Rồi khi tới nơi nó phải được nâng lên và đưa vào đúng vị trí giữa hai bờ, trong điều kiện con nước lớn ròng, dòng chảy thay đổi và tàu thuyền qua lại thường xuyên. Chỉ cần một sai sót nhỏ trong tính toán hoặc phối hợp cũng có thể ảnh hưởng đến cả quá trình thi công.

Đó không phải là chuyện đơn giản. Ngay cả ở các nước có công nghệ tiên tiến như Úc, khi tôi hỏi các giáo sư chuyên về engineering ở đây, họ đều nói đó là một kì công.

Cây cầu này được khởi công vào cuối tháng 3/2025. Đến ngày 21/10/2026, tức chỉ chừng 19 tháng sau, nhịp chánh đã được hợp long. Nghe nói đến Tết này người dân (có tôi) sẽ được đi bộ trên cây cầu.



Nhịp chánh của cây cầu lá dừa nước (chưa biết tên chánh thức là gì) hợp long ngày 21/10/2026. Hình của Tập đoàn Đại Dũng. 

Một dự án lớn như vậy mà chỉ làm trong vòng 3 năm. Tốc độ này cũng đáng kinh ngạc. Ở Úc tôi, chỉ một cây cầu đi bộ đơn giản qua một đại lộ thôi mà mất 2 năm trời (chẳng hiểu sao họ làm lâu như thế).

Cây cầu lá dừa nước này, theo tôi, là một điểm son đáng tự hào của năng lực kĩ thuật, sự khéo léo, và bản lãnh của người Việt thực hiện những công trình phức tạp. Nếu có điều kiện và giúp đỡ từ nước ngoài [3] thì người Việt có thể làm những công trình như ở các nước tiên tiến thôi.

Có một thời, khi nói đến công nghiệp Việt Nam, người ta thường nghĩ đến gia công, lắp ráp hoặc những công việc sử dụng nhiều lao động. Nhưng những công trình như thế này cho thấy một hình ảnh khác: những tập đoàn như Đại Dũng đã có thể đảm nhận những kết cấu thép lớn, những công đoạn chế tạo và lắp đặt khó, với yêu cầu kĩ thuật ngày càng cao. Xin có lời khen các kĩ sư và công nhân Việt Nam.

Nhịp cầu Úc – Việt

Có một câu chuyện khác đằng sau cây cầu này mà tôi đặc biệt quan tâm. Đó là sự đóng góp của nước Úc. Báo chí Việt Nam (những bài tôi đọc) không hề nhắc đến vai trò của Úc trong công trình lịch sử này.

Cây cầu này là do tập đoàn Nutifood tài trợ. Không rõ nhà nước có đóng góp đồng nào? Một doanh nghiệp tư nhân sẵn sàng bỏ ra 1000 tỉ đồng (khoảng 40 triệu USD) để đóng góp một công trình phục vụ cộng đồng là điều rất đáng ghi nhận.

Theo thông cáo báo chí của Toà Đại Sứ Úc [2] tại Việt Nam thì tháng 5/2026, thì tôi hiểu là Nutifood vay 800 tỉ đồng từ Ngân hàng HSBC Việt Nam để tài trợ cho cây cầu. Nhưng để vay tiền thì cần phải có cơ quan bảo trợ, và trong trường hợp này cơ quan bảo trợ là Chánh phủ Úc, thông qua Cơ quan Tài chánh Xuất cảng Úc (Export Finance Australia, EFA).

EFA bảo lãnh 90% khoản tiền vay (tức 720 tỉ đồng). EFA chỉ bảo lãnh chứ không tài trợ. Nhờ EFA đứng ra bảo lãnh 90%, rủi ro của HSBC giảm đi đáng kể, giúp việc huy động vốn của Nutifood thuận lợi hơn.

Nói ngắn gọn: HSBC cung cấp tiền, Nutifood có trách nhiệm trả nợ, còn Úc đứng ra chia sẻ phần lớn rủi ro cho HSBC.

Nói một cách dễ hiểu, Úc góp phần tạo điều kiện về tài chánh, còn người Việt Nam đem trí thông minh, tay nghề và công sức của mình để biến ý tưởng thành hiện thực.

Là một công dân Úc có cội nguồn Việt Nam, tôi có một niềm vui rất riêng. Tôi vui vì đất nước nơi mình đang sanh sống đã góp phần vào một công trình đẹp của quê nhà.

Mai này, khi cây cầu hoàn tất, tôi nhứt định sẽ đi bộ qua đó. Có lẽ tôi sẽ dừng lại giữa cầu, nhìn dòng sông Sài Gòn huyền thoại, nhìn những tòa nhà cao tầng ở hai bên bờ, và nghĩ đến con sông nhỏ trước nhà ba má tôi ở miền Tây ngày xưa.

Nghĩ cũng thú vị. Một tàu lá dừa nước bình dị, vốn chỉ quen với những dòng sông, con rạch miền Tây, nay lại trở thành hình ảnh của một công trình hiện đại giữa lòng Sài Gòn. Ngày xưa, lá dừa nước che nắng che mưa cho những mái nhà nghèo, còn hôm nay, hình dáng chiếc lá ấy vươn qua sông, nối đôi bờ của một thành phố hiện đại. Thành ra, một cách riêng tư, cây cầu này giống như một nhịp cầu nối kí ức quê nhà với hiện tại, và nối hai đất nước mà tôi đều gọi là quê hương.


NGUYỄN VĂN TUẤN 

Sydney, tháng 10, 2026

______

[1] https://daidung.com/cau-di-bo-qua-song-sai-gon-hop-long-thanh-cong-sau-8-gio-thi-cong/

[2] https://vietnam.embassy.gov.au/hnoi/MR260519.html

[3] Trong thông cáo của Đại Dũng [1] có ghi rõ những đơn vị đã góp phần vào công trình này:


“Với mong muốn dành tặng TP.HCM một công trình có giá trị kiến trúc đặc sắc, chất lượng và bền vững theo thời gian, Nutifood – đơn vị tài trợ 100% kinh phí xây dựng cầu đi bộ qua sông Sài Gòn – đã mời những tên tuổi uy tín, giàu kinh nghiệm trong nước và quốc tế cùng tham gia thực hiện dự án. Đây đều là những đơn vị từng ghi dấu ấn tại nhiều công trình quy mô lớn, có yêu cầu cao về kỹ thuật và kiến trúc.

Nổi bật ở khâu tư vấn thiết kế là liên danh Công ty TNHH Chodai & Kiso-Jiban Việt Nam, Công ty TNHH Chodai và Công ty TNHH Kiến trúc Niwa – tác giả phương án kiến trúc hình lá dừa nước được TP.HCM lựa chọn năm 2023. Được Nutifood mời tiếp tục đảm nhiệm tư vấn khảo sát và thiết kế bản vẽ thi công, liên danh chuyển hóa ý tưởng kiến trúc độc đáo thành những giải pháp kỹ thuật chi tiết. Các thành viên liên danh có kinh nghiệm từ những dự án nổi tiếng như cầu Nhật Tân, cầu Cần Thơ và cầu Akashi Kaikyo (Nhật Bản).

Ban Quản lý dự án Mỹ Thuận đảm nhiệm tư vấn quản lý dự án, với kinh nghiệm từ các công trình cầu Mỹ Thuận, cầu Cần Thơ. Công tác tư vấn giám sát do Liên danh Công ty Cổ phần Tư vấn thiết kế giao thông vận tải phía Nam và Chi nhánh Công ty TNHH Tư vấn và Xây dựng Đại học Giao thông vận tải thực hiện.

Ở khâu thi công, Tổng công ty Xây dựng số 1 – CTCP (CC1) đảm nhiệm xây dựng cầu dẫn và đường đầu cầu ở hai bờ sông, từng ghi dấu ấn với công trình cầu Thủ Thiêm, cầu Đồng Nai… Công ty Cổ phần Tập đoàn Đạt Phương phụ trách thi công cầu chính, với kinh nghiệm từ các dự án cầu Mỹ Thuận 2, cầu Ba Son…. Trong khi đó, Tập đoàn Đại Dũng đảm nhiệm cung cấp, chế tạo và lắp đặt kết cấu vòm thép chính, từng tham gia các công trình tại hơn 60 quốc gia, trong đó có sân vận động Lusail (Qatar) và đường hầm xuyên biển Fehmarnbelt (châu Âu).“

_ TB: Sau khi post bài này, tôi nhận được thêm thông như sau: 

Thông tin từ một bạn làm trong Vietranstimex: 

“Trong bài viết Anh có nhắc đến ý kiến của chuyên gia về engineering, nói rằng việc vận chuyển và hợp long cây cầu này là một kỳ tích – em rất vui và có một chút tự hào – vì người tạo ra “kỳ tích” nho nhỏ đó chính là Vietranstimex – một Cty 100% Việt nam. Em từng là CEO của Vietranstimex và hiện nay vẫn đang là Thành viên HĐQT.

Tụi em chính là người đã nghiên cứu, tính toán và thực hiện công việc này.

Em không định khoe khoang, chỉ mong muốn được bổ sung một chút thông tin tới Anh thôi ạ.“

Thông tin từ Nutifood:

“1. Thiết kế ý tưởng: liên danh Chodai – Niwa : giải nhất thi tuyển kiến trúc do sở QHKT tổ chức.

2. Xây dựng cơ chế đầu tư tư nhân tặng/cho công trình công cộng: Nutifood và Tp. HCM do sở GTVT và Nutifood phối hợp. Rất phức tạp do đầu tư bằng vốn tư nhân trên đất công => rất khó xác lập ai là chủ đầu tư, đầu tư theo luật nào. Công đoạn này mất gần 2 năm.

3. Khảo sát địa chất, địa hình địa vật: Tedi South.

4. Thiết kế FS (tiền khả thi): liên danh Chodai (VN) và Niwa.

5. Tư vấn thẩm tra: Trường ĐH GTVT CSII: UTC2.

6. Quản lý dự án: PMU Mỹ Thuận.

7. Thiết kế chi tiết: Chodai VN (trong đó thí nghiệm hầm gió 2 giai đoạn: Đan Mạch và Mỹ).

8. Tư vấn giám sát: liên danh Tedi South + UTC2.

9. Thi công cầu dẫn: liên danh CC1 (móng, trụ, cầu betong) và Đại Dũng (bản cầu thép).

10. Thi công cầu chính: Liên danh Đạt Phương và Đại Dũng.

– Đạt Phương: móng mố trụ, cầu thang xoắn, thang máy, bể nước… và các công đoạn hoàn thiện mặt cầu.

– Đại Dũng: bản mặt cầu thép, lan can và vòm chính.

Phần vòm chính thì:

+ gia công chế tạo: Đại Dũng

+ vận chuyển vòm chính và hợp long Viettransimex phụ trách chính, và lắp hiện trường do Lilama phụ trách mối nối chính (2 thầu phụ của Đại Dũng).

Vòm chính dài 191m

11. Chiếu sáng mỹ thuật, nhạc nước: Navitek.

12. Công trình phụ trợ (Nhà chờ, nhà wc), công viên 2 đầu cầu: Winland (Đất Thắng).

Quản lý toàn bộ: Ban dự án Nutifood.

Vốn tổng: gần 1.200 tỷ (bao gồm công trình phụ trợ, công viên và chiếu sáng mỹ thuật) Nutifood đầu tư 100%, làm xong sẽ có hợp đồng tặng toàn bộ công trình cho Tp. HCM, không đòi hỏi bất kỳ quyền lợi nào.

Nguồn vốn: trích từ lợi nhuận và chi phí marketing hàng năm.

Vốn đầu tư cho cây cầu này không được miễn thuế.

Việc vay vốn từ HSBC là vay vốn kinh doanh thông thường và chính phủ Úc bảo trợ khoản vay là có nhưng vay cho công trình này là không đúng và để Úc bảo trợ thì NTF phải có những điều kiện nhất định đối ứng lại, chứ ko phải bảo trợ miễn phí.”

Chủ Nhật, 25 tháng 10, 2026

THÔNG MINH NHÂN TẠO

 VÀ NHỮNG LẰN RANH ĐỎ 

CỦA MỘT HÀNH TINH ĐANG CHỊU ÁP LỰC


Phạm Phan Long

Ngày 25 tháng 10 năm 2026




Lời giới thiệu: Báo cáo Planetary Health Check 2025 cảnh báo rằng bảy trong chín ranh giới an toàn của hành tinh đã bị vượt qua, phản ánh những áp lực ngày càng gia tăng lên khí hậu, đa dạng sinh học, nguồn nước, đất đai và các hệ thống tự nhiên khác.

Nhân loại đang phát triển AI trong một thế giới mà các hệ thống tự nhiên duy trì sự sống ngày càng chịu nhiều sức ép. Vậy cuộc chạy đua AI sẽ tác động như thế nào đến tương lai của hành tinh?

Trong cuộc tranh luận về an toàn của thông minh nhân tạo, Giáo sư Geoffrey Hinton đã nêu ba nhóm rủi ro đáng lo ngại: AI bị con người cố ý sử dụng để gây hại; những tổn thất phát sinh từ sự cẩu thả, thiếu kiểm tra và trách nhiệm trong phát triển, triển khai AI; và nguy cơ các hệ thống AI ngày càng thông minh vượt khỏi khả năng kiểm soát của con người.

Nhưng không chỉ có thế, AI không chỉ tồn tại trong thế giới số. Đằng sau mỗi bước mở rộng năng lực AI là những trung tâm dữ liệu, nguồn điện, nước làm mát, chip bán dẫn, khoáng sản, đất đai và mạng lưới hạ tầng khổng lồ. Những nhu cầu này có thể làm gia tăng áp lực lên tài nguyên, hệ sinh thái và cộng đồng địa phương. Khi cộng dồn trên quy mô toàn cầu, chúng đặt ra câu hỏi liệu sự phát triển AI có làm trầm trọng thêm những sức ép vốn đã đẩy các hệ thống Trái Đất vượt khỏi những giới hạn an toàn hay không.

Đây là khía cạnh thứ tư của rủi ro AI mà tác giả Phạm Phan Long phân tích trong bài viết mới đăng trên Asia Sentinel: “AI and the Red Lines of a Planet under Stress: The Physical Dimension of AI Risk.”

Vấn đề không phải là ngăn cản AI phát triển. AI có thể đem lại những lợi ích to lớn cho nhân loại, kể cả trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường. Nhưng những lợi ích ấy không thể tách rời trách nhiệm đối với các hệ quả vật chất và môi trường của quá trình phát triển công nghệ.

Trách nhiệm bảo vệ hành tinh phải song hành với quyền phát triển AI. Các công ty công nghệ, nhà đầu tư và chính phủ không thể chỉ đánh giá thành công bằng tốc độ đổi mới, năng lực tính toán hay lợi ích kinh tế, trong khi để những chi phí môi trường tích lũy sang cộng đồng và các thế hệ tương lai.

Điều cần thiết là một khuôn khổ quản trị có khả năng buộc trách nhiệm ấy trở thành hiện thực: minh bạch về sử dụng tài nguyên, đánh giá độc lập các tác động tích lũy, xác lập giới hạn phù hợp với điều kiện sinh thái tại từng địa phương và trao cho cơ quan công quyền đủ thẩm quyền để yêu cầu điều chỉnh khi cần thiết.

Hiệp ước về Siêu Thông Minh của Nhà Trắng là một bước khởi đầu đáng ghi nhận trong nỗ lực ứng phó với những rủi ro từ AI. Tuy nhiên, những cam kết tự nguyện như vậy còn cách xa những gì đang cấp thiết cần có: một khuôn khổ quản trị có khả năng buộc các doanh nghiệp và chính phủ chịu trách nhiệm, đánh giá những tác động tích lũy của việc mở rộng AI, và can thiệp khi các giới hạn an toàn bị đe dọa. Đặc biệt, quản trị AI không thể chỉ tập trung vào hành vi và năng lực của các hệ thống AI; nó còn phải tính đến những hệ quả vật chất và môi trường của chính cuộc chạy đua phát triển công nghệ này.

Nếu AI được phát triển để phục vụ nhân loại, thì bảo vệ những hệ thống tự nhiên duy trì sự sống phải là một phần của trách nhiệm phát triển ấy — không phải một lựa chọn tự nguyện, cũng không phải việc có thể để lại cho tương lai. Việt Ecology Press 

Đọc bài viết trên Asia Sentinel:

https://www.asiasentinel.com/p/artificial-intelligence-red-lines-planet-under-stress

*

Tranh luận về những cảnh báo từ ngành công nghiệp AI

Cuộc tranh luận về mức độ nguy hiểm của thông minh nhân tạo (AI) và thời điểm những nguy hiểm ấy có thể xuất hiện thật đáng chú ý, không chỉ vì các chuyên gia đưa ra những kết luận rất khác nhau, mà còn vì đôi khi dường như họ không nói về cùng một loại rủi ro.

Geoffrey Hinton, một trong những người tiên phong của AI hiện đại, gần đây đã chia sẻ với CNN cách ông nhìn nhận sự bất đồng này. Khi được hỏi về những rủi ro của cuộc chạy đua AI thiếu sự quản lý, ông xác định ba loại: AI bị những kẻ có ý đồ xấu lạm dụng; những tổn hại do sự tắc trách, kiểm thử không đầy đủ hoặc thiếu biện pháp bảo vệ; và khả năng chính AI cuối cùng có thể vượt khỏi sự kiểm soát của con người.

Đây không phải là ba cách diễn đạt khác nhau của cùng một mối nguy.

Một kẻ xấu sử dụng AI là một vấn đề. Nhà phát triển không kiểm thử hoặc kiểm soát đầy đủ một hệ thống AI là vấn đề khác. Khả năng những hệ thống tự hành ngày càng mạnh có thể trở nên khó kiểm soát đối với con người trong tương lai lại là một vấn đề khác nữa.

Các rủi ro này khác nhau về nguyên nhân, cơ chế phát sinh và khoảng thời gian có thể xảy ra.

Một cuộc tấn công mạng được AI hỗ trợ có thể xảy ra ngay hôm nay. Việc triển khai AI một cách tắc trách cũng có thể gây tổn hại ngay hôm nay. Còn khả năng AI thay thế hoặc vượt khỏi sự kiểm soát của con người thuộc về một kịch bản tương lai mà thời điểm xảy ra vẫn hết sức bất định. Chính Hinton cũng nhấn mạnh sự không chắc chắn trong những dự báo về các rủi ro như vậy.

Sự phân biệt này rất quan trọng, bởi một số rủi ro không còn chỉ là giả thuyết. Những sự kiện gần đây cho thấy vì sao kiểm thử, giám sát và kiểm soát đã trở thành những vấn đề trọng tâm trong cuộc tranh luận về AI.

Nhưng những phân biệt đó cũng dẫn đến một câu hỏi rộng hơn.

Trong khi chúng ta tranh luận về những gì AI có thể gây ra cho nhân loại, thì sao về những gì việc con người sử dụng AI với tốc độ ngày càng nhanh có thể gây ra cho hành tinh đang nuôi dưỡng chính chúng ta?

Đây không phải là lập luận chống lại AI. Đây là lời kêu gọi nhìn nhận AI một cách toàn diện hơn.

Câu hỏi không chỉ là AI có thể đạt được những năng lực gì. Chúng ta còn phải hỏi cần những điều kiện vật chất nào để đưa các năng lực ấy đến quy mô toàn cầu. Gánh nặng tích lũy về năng lượng, nước, đất đai, vật liệu và cơ sở hạ tầng chính là khía cạnh thứ tư của rủi ro AI. 

Thứ Ba, 20 tháng 10, 2026

HÀNH TRÌNH CỦA BÁC SĨ BẠCH THẾ THỨC

Dr. Bạch’s Journey

Sherin Shirazi, MD 

Trung tá, Quân y Hải quân Hoa Kỳ 

(Commander, US Navy Medical Corps)


LỜI GIỚI THIỆU: Bài viết ghi lại một hành trình của một bác sĩ quân y VNCH trong biến cố ngày 30 tháng 4 năm 1975, trở thành người tị nạn, rồi tiếp tục cống hiến cho ngành y tại Hoa Kỳ. Đây không chỉ là câu chuyện về sự sống còn mà còn là một chứng từ về y đức, lòng nhân ái và khả năng vượt qua nghịch cảnh của người thầy thuốc Việt Nam.



Chú thích hình: 
trên: BS Bạch Thế Thức (người thứ hai từ trái ) tại Việt Nam, sau khi tốt nghiệp 
trường ĐH Y Khoa Saigon năm 1974.
dưới: Tàu vận tải Hải quân Hoa Kỳ USNS SGT Andrew Miller.

Trong suốt 40 năm hành nghề ngoại khoa tổng quát, Bác sĩ Bạch Thế Thức đã trải qua không ít những đêm trực phải đối diện với các quyết định khó khăn. Nhưng có lẽ không đêm nào cam go hơn đêm ông vừa hoàn tất phiên trực, chuẩn bị ra về thì nhận được lệnh phải ngưng mọi hoạt động chăm sóc bệnh nhân, hoặc bàn giao bệnh viện cho Quân đội Bắc Việt đang nhanh chóng tiến đến cổng bệnh viện.

Không lâu sau đó, Bác sĩ Bạch Thế Thức bắt đầu cuộc hành trình sinh tử cùng vợ và các con còn nhỏ, rời quê hương miền Nam Việt Nam, vượt qua vùng biển Thái Bình Dương lạnh lẽo và đầy bất trắc.

May mắn thay, chiếc “thuyền” tạm bợ của ông, chở theo nhiều thân nhân trong gia đình, đã được tàu vận tải Hải quân Hoa Kỳ USNS SGT Andrew Miller cứu vớt trên đường đến đảo Guam.

Cùng với khoảng 3.000 người tị nạn khác, gia đình ông được đưa đến Căn cứ Hải quân Subic Bay tại Philippines, rồi từ đó được chuyên chở bằng đường hàng không đến Hoa Kỳ, gia nhập đoàn người Việt Nam tị nạn lên đến 50.000 người được tiếp nhận tại Trại Pendleton, California.

Những biến cố ấy diễn ra vào tháng 5 năm 1975, sau khi Sài Gòn thất thủ, đánh dấu sự kết thúc của cuộc Chiến tranh Việt Nam.

Trong khi chiến tranh đang đi đến hồi kết thúc, thì đối với Bác sĩ Bạch Thế Thức và gia đình, cuộc sống trên quê hương mới chỉ vừa bắt đầu.

Gần 18.000 người Việt Nam đã sống tại Trại Talega trong thời gian làm thủ tục nhập cư và chờ đợi những gia đình hoặc tổ chức bảo trợ, để có thể bắt đầu lại cuộc đời trên đất nước đã tiếp nhận họ.

Hoạt động tiếp nhận người tị nạn này của Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ được gọi là “Operation New Arrivals” (Chiến dịch Đón Tiếp Người Mới Đến).

Tất cả những người mới đến đều được các binh sĩ Thủy quân Lục chiến và thủy thủ Hải quân trẻ tuổi đón tiếp. Họ đã xây dựng một khu trại rộng lớn, biến những căn nhà tiền chế Quonset và các lều chứa quân nhu thành nơi cư trú, với đầy đủ các dịch vụ thiết yếu như nhà ăn phục vụ 24 giờ mỗi ngày, các khu vệ sinh và những nơi sinh hoạt giải trí.

Dĩ nhiên, những ai quen biết Bác sĩ Bạch Thế Thức đều có thể tin chắc rằng ông không hề ngồi yên trong những ngày tháng đầy thử thách ấy.

Vốn đã là một bác sĩ khi đặt chân đến Hoa Kỳ, ông lập tức tình nguyện đem khả năng chuyên môn của mình phục vụ những người chung quanh. Ông thậm chí đã đỡ đẻ cho ba sản phụ ngay trong chuyến vượt biển.

Tại trại tị nạn, ông luôn sẵn sàng giúp đỡ những người đồng cảnh ngộ. Cũng như sau này, tại Bệnh viện Huntington, ông luôn có mặt mỗi khi cần đến một bác sĩ ngoại khoa để hội chẩn.

Những câu chuyện về cuộc đời ông thật đáng kinh ngạc, và càng đáng trân trọng hơn khi được kể lại bởi một con người có bản tính trầm lặng, hiền hòa, luôn sẵn lòng giúp đỡ người khác.

“Same Case?” (Lại cùng một ca bệnh sao?) là câu nói đùa quen thuộc của những đồng nghiệp chúng tôi trong phòng mổ, mỗi khi ông ghé qua để thăm hỏi.

Gần đây, Bác sĩ Bạch Thế Thức cùng gia đình, trong đó có người em trai lúc mới đến Hoa Kỳ chỉ mới tám tuổi, đã trở lại thăm Trại Talega, nơi họ từng trải qua những ngày đầu tiên trên đất Mỹ.

Trong chuyến trở về ấy, ông và gia đình đã chia sẻ những câu chuyện về nghị lực, khả năng vượt qua nghịch cảnh và hành trình sinh tồn của mình với các thành viên thuộc Tiểu đoàn Quân y số 4 (4th Medical Battalion).

Tiểu đoàn Quân y số 4 là một đơn vị gồm các quân nhân Hải quân Hoa Kỳ và lực lượng Trừ bị Thủy quân Lục chiến, có nhiệm vụ cung cấp dịch vụ quân y trong chiến đấu. Họ được huấn luyện và luôn trong tư thế sẵn sàng triển khai các đơn vị cấp cứu chấn thương linh hoạt cùng những phòng mổ tiền phương, đến những vị trí chỉ cách khu vực tác chiến của Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ khoảng một kilômét.

Không một người nào trong số những người hiện diện tỏ ra thờ ơ. Trái lại, tất cả đều chăm chú lắng nghe Bác sĩ Bạch Thế Thức và những người từng đồng hành với ông kể lại cuộc đời cùng những tháng ngày sống tại Trại Talega.

Không cần phải nói, Bác sĩ Bạch Thế Thức đã nhận được một tràng pháo tay đứng dậy tán thưởng nồng nhiệt. Một đại úy Thủy quân Lục chiến thậm chí còn đặc biệt đến tham dự buổi gặp gỡ tại Trại Talega.

Lần tới, khi gặp Bác sĩ Bạch Thế Thức với nụ cười luôn thường trực trên môi, xin hãy nhớ rằng chúng ta thật may mắn biết bao khi có ông là một người đồng nghiệp.

Và cũng xin nhớ rằng, con người có thể có một sức chịu đựng và khả năng vượt qua nghịch cảnh phi thường, ngay cả trong những thời khắc khó khăn nhất của cuộc đời.


Sherin Shirazi, MD 

Trung tá, Quân y Hải quân Hoa Kỳ 

(Commander, US Navy Medical Corps)




Thứ Sáu, 16 tháng 10, 2026

NHÀ VĂN NGÔ THẾ VINH



Mục Đọc Sách của Hồng Ngọc - Nguyễn Đình Toàn
Trên Đài VOA  

Thứ Ba, 13 tháng 10, 2026

NEPAL: HAI THẢM HỌA CHỈ TRONG VÒNG 46 NGÀY

 

Ngô Thế Vinh | 

Viet Ecology Press | 14/10/2026

 

Chỉ 46 ngày sau thảm họa Nepal–Tây Tạng ngày 26/8/2026, một trận lũ quét khác lại xảy ra vào sáng 11/10 trên sông Budhi Gandaki, thuộc huyện Gorkha, Nepal. Khi nhiều gia đình còn chưa đến ngày tưởng niệm 49 ngày cho người thân đã khuất, những cộng đồng miền núi lại phải đối diện với cảnh di tản, nhà cửa và cầu đường bị cuốn trôi, cùng nỗi lo về những trận lũ bất ngờ có thể tiếp diễn.

 

Thảm họa thứ nhất, ngày 26/8, bắt nguồn từ sự sụp đổ của một khối băng và đá núi cao trong vùng Langtang, gần biên giới Nepal–Tây Tạng. 

 

Thảm họa thứ hai, ngày 11/10, theo nhận định ban đầu, xuất phát từ một vụ sạt lở đất đá chắn ngang dòng sông Budhi Gandaki, tạo thành một con đập chắn tự nhiên rồi bị phá vỡ.

 

Hai biến cố liên tiếp đặt ra một câu hỏi vượt khỏi phạm vi quốc gia Nepal: phải chăng các lưu vực núi cao Himalaya đang bước vào một thời kỳ bất ổn mới, khi biến đổi khí hậu, địa chất và những can thiệp của con người cùng làm gia tăng nguy cơ thiên tai dây chuyền?





Hình 1. NEPAL – Bản đồ địa hình và diễn tiến hai thảm họa lũ quét Nepal 
ngày 26/08/2026 tại vùng Langtang – Bhote Koshi (màu đỏ) và ngày 11/10/2026 tại lưu vực sông Budhi Gandaki (màu vàng cam). Các mũi tên xanh chỉ hướng dòng chảy từ vùng núi cao Himalaya xuống các thung lũng, theo hệ thống sông Trishuli và Gandaki, trước khi đổ về đồng bằng Terai. Hai thảm họa cách nhau chỉ 46 ngày, cho thấy tính dễ tổn thương của vùng núi Himalaya trước những biến động địa chất và thủy văn cực đoan. Viet Ecology Press, 10/2026


 

I. Thảm họa Nepal lần thứ hai: Điều gì đã xảy ra ngày 11/10/2026?

 

Theo Trung tâm Quốc tế Phát triển Tổng hợp Miền Núi (ICIMOD / International Centre for Integrated Mountain Development), trận lũ bắt đầu vào khoảng 4 giờ sáng, giờ Nepal, ngày 11/10/2026. Địa điểm nghi xảy ra biến cố khởi phát nằm gần Chumchet, thuộc khu vực Chumnubri của huyện Gorkha, cách Kathmandu khoảng 100 km về phía tây.

 

Những tin tức ban đầu cho thấy một khối đất đá lớn từ sườn núi sạt lở xuống, chắn ngang dòng sông Budhi Gandaki. Nước từ thượng nguồn tiếp tục đổ về, dâng cao phía sau đập chắn tự nhiên. Khi khối đất đá không còn chịu nổi sức ép của nước, đập chắn bị phá vỡ. Một khối nước lớn bất ngờ tràn xuống hạ lưu, cuốn theo bùn, cát, đá và cây cối, tạo thành trận lũ quét có sức tàn phá dữ dội.

 

ICIMOD gọi đây là một trường hợp thuộc loại landslide-dam breach flood, tức lũ do vỡ đập hình thành bởi sạt lở. Đây là nhận định khoa học ban đầu, chưa phải kết luận điều tra cuối cùng.

 

Những hình ảnh ghi nhận tại Salleri và Jagat cho thấy nước lũ chảy xiết giữa các sườn núi, cuốn theo các công trình xây dựng, nhà cửa và cầu đường. Nhiều khu dân cư dọc thung lũng bị cô lập. Theo các báo cáo ban đầu của Reuters và Associated Press, ít nhất năm người mất tích, 49 người được cứu thoát. Số nhà bị cuốn trôi được các nguồn ghi nhận khác nhau, từ khoảng một chục đến ba chục căn; nhiều cây cầu và một công trường thủy điện bị hư hại. Những con số này còn có thể thay đổi khi công tác cấp cứu tiếp tục.

 

Một dấu hiệu thủy văn đáng chú ý là tại trạm Arughat, mực nước lên đến 8,43 mét vào khoảng 9 giờ 45 sáng, vượt ngưỡng nguy hiểm 5 mét.

 

Chính quyền Nepal đã phát cảnh báo cho các cộng đồng dọc các con sông Budhi Gandaki, Trishuli và Narayani, đồng thời huy động quân đội, cảnh sát và trực thăng cấp cứu.


 

II. Vì sao một vụ sạt lở có thể gây ra trận lũ lớn?

 

Để hiểu cơ chế thảm họa 11/10, cần nhìn vào địa hình đặc biệt của rặng núi Himalaya. Đây là một trong những hệ thống núi trẻ và cao nhất thế giới, được hình thành bởi sự va chạm giữa hai khối lục địa Ấn Độ và Á–Âu, bắt đầu khoảng 50-60 triệu năm trước. Các sườn núi rất dốc, đá bị nứt vỡ bởi hoạt động kiến tạo, trong khi những con sông lớn liên tục đào sâu các lòng thung lũng.


Trong điều kiện ấy, một vụ sạt lở không chỉ phá hủy nơi nó xảy ra mà còn có thể làm thay đổi tức thời toàn bộ chế độ dòng chảy phía hạ lưu.

 

Thứ nhất, sườn núi mất ổn định. Một khối đất đá tách khỏi sườn dốc và đổ xuống lòng sông. Nguyên nhân có thể bao gồm đứt gãy địa chất, xói mòn chân dốc, nước thấm trong các khe nứt làm sự suy yếu của vật liệu kết dính. Đối với biến cố ngày 11/10, chưa xác định được chính xác yếu tố nào đã kích hoạt vụ sạt lở.

 

Thứ hai, hình thành đập chắn tự nhiên. Đất đá tích tụ trong lòng thung lũng, tạo thành vật cản. Dòng nước từ thượng nguồn tiếp tục chảy tới, làm mực nước dâng lên phía sau đập.

 

Thứ ba, đập bị phá vỡ, khi nước tràn qua đỉnh đập, xói mòn bề mặt hoặc thấm qua những khe hở, vật liệu đất đá có thể bị cuốn đi. Một khe xói nhỏ có thể phát triển thành đường thoát nước lớn, khiến đập sụp đổ từng phần hoặc đột ngột.

 

Thứ tư, hình thành dòng lũ bùn đá. Khối nước được bung ra cuốn theo đất đá từ chính thân đập và tiếp tục xói mòn lòng sông phía hạ lưu. Dòng lũ có thể gia tăng khối lượng, thay đổi tốc độ và tăng thêm sức phá hủy trên đường di chuyển.

 

Đó là một thảm họa dây chuyền (cascading hazard): biến cố địa chất khởi đầu dẫn đến lũ dữ, rồi gây thiệt hại cho con người, nhà cửa và cầu đường.

 

Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng chưa có bằng chứng đầy đủ để kết luận vụ sạt lở ngày 11/10 trực tiếp do băng tan, động đất hay mưa lớn gây ra. Việc xác định nguyên nhân cần phải dựa thêm vào các ảnh vệ tinh, dữ liệu khí tượng, địa chấn và khảo sát thực địa.


 

III. Thảm họa Nepal lần thứ nhất, ngày 26/8/2026: Một cơ chế khác

 

Nếu thảm họa 11/10 bắt nguồn từ một vụ sạt lở chắn dòng chảy, thì biến cố 26/8 phức tạp hơn, với điểm khởi phát ở vùng núi cao gần Langtang Lirung, sát biên giới Nepal–Tây Tạng.

 

Các ảnh vệ tinh được giới khoa học phân tích cho thấy một phần sườn núi, bao gồm băng và nền đá bên dưới, đã sụp đổ. Khối vật liệu khổng lồ lao xuống thung lũng, cuốn theo trầm tích và nước, chuyển hóa thành dòng lũ bùn đá có năng lượng rất lớn.

 

Theo nghiên cứu của Hội Công nghệ Động đất Quốc gia Nepal (NSET / National Society for Earthquake Technology–Nepal), khối băng đá bị tách rời có liên quan đến một vùng sườn núi rộng khoảng 1 km². Các tín hiệu địa chấn ban đầu từng khiến người ta nghi ngờ có động đất, nhưng phân tích tiếp theo cho thấy chính sự sụp đổ của khối vật liệu đã tạo ra tín hiệu địa chấn ấy.

 

Dòng lũ di chuyển qua Bhote Koshi, rồi Trishuli và Narayani, tàn phá những cộng đồng nằm dọc hành lang sông, trong đó có các khu vực Rasuwagadhi và Syabrubesi.

 

Khác với lũ do mưa thông thường, biến cố này bắt đầu bằng sự sụp đổ đột ngột của một khối băng đá ở độ cao lớn. Trong quá trình di chuyển, nó liên tục thu nhận thêm đất đá, nước và vật liệu từ lòng các thung lũng.

 

Một số nghiên cứu bước đầu còn cho thấy đất đá có thể đã tạo ra các đập chắn dòng tạm thời, làm quá trình lũ trở nên phức tạp hơn. Tuy nhiên, trình tự chính xác giữa dòng bùn đá ban đầu, sự hình thành đập chắn và các đợt nước thoát ra vẫn còn những điểm cần được làm rõ thêm.

 

Về thương vong trong thảm họa Nepal–Tây Tạng ngày 26/8/2026, theo số liệu được dẫn từ Reuters ngày 5/10, ít nhất 1.455 người thiệt mạng, 5.285 người mất tích và 13.795 người được cứu. Thiệt hại kinh tế và nhu cầu tái thiết được ước tính gần 5 tỷ USD.


 

IV. Những tương đồng và khác biệt giữa hai thảm họa

 

Điểm giống nhau quan trọng nhất là sức tàn phá của thiên tai có thể gia tăng rất nhanh khi nhiều biến cố nối tiếp nhau. Vì vậy, chỉ theo dõi lượng mưa là chưa đủ để cảnh báo lũ quét ở Himalaya.

 

Tuy có những điểm giống nhau, không nên xem hai thảm họa là cùng một hiện tượng. Trong biến cố ngày 26/8, sự sụp đổ của một khối băng đá trên núi cao đóng vai trò khởi đầu. Trong trận lũ ngày 11/10, những bằng chứng ban đầu lại hướng đến một vụ sạt lở đất đá chắn ngang dòng sông, tạo thành đập chắn tự nhiên rồi bị phá vỡ. Cho đến nay, chưa có đủ bằng chứng xác nhận băng hà trực tiếp gây ra trận lũ thứ hai.


 

V. Biến đổi khí hậu: Nguyên nhân hay yếu tố làm gia tăng nguy cơ?

 

Ở rặng núi cao Himalaya, nhiệt độ tăng có thể thúc đẩy sự tan chảy của băng hà và tầng đất đóng băng vĩnh cửu (permafrost), làm suy yếu khả năng liên kết giữa băng, đất và đá. Khi băng trong các khe nứt tan ra, cấu trúc sườn núi có thể thay đổi, làm gia tăng nguy cơ sụp đổ.

 

Đối với thảm họa 26/8, giả thuyết về sự mất ổn định của khối băng đá trong điều kiện khí hậu ấm lên có cơ sở khoa học đáng quan tâm. Tuy nhiên, việc quy kết một biến cố riêng lẻ cho biến đổi khí hậu vẫn cần những nghiên cứu chuyên biệt.

 

Đối với thảm họa 11/10, mối liên hệ ấy còn gián tiếp hơn. Một vụ sạt lở có thể xuất phát từ nhiều yếu tố địa chất, thủy văn hoặc kiến tạo, ngay cả khi không có tác động khí hậu rõ rệt.

 

Các chuyên gia môi sinh cho rằng: Không nên xem biến đổi khí hậu là lời giải thích duy nhất cho mọi thảm họa Himalaya. Nhưng cũng không thể bỏ qua vai trò của nó trong sự biến đổi nhanh chóng của môi trường núi cao.


 

VI. Bài học từ hai thảm họa: Không thể chỉ xây đập và chờ cảnh báo mưa

 

Hai biến cố Nepal cho thấy một hạn chế nghiêm trọng trong cách phòng chống rủi ro thiên tai truyền thống.

 

Thông thường, hệ thống cảnh báo lũ dựa vào lượng mưa, mực nước sông và dự báo khí tượng. Nhưng đối với lũ phát sinh từ sụp đổ băng đá hoặc vỡ đập tự nhiên, thời gian từ khi khởi phát đến lúc dòng lũ tới khu dân cư có thể rất ngắn.

 

Cần có một hệ thống giám sát tổng hợp, kết nối ảnh vệ tinh, radar xuyên mây, cảm biến địa chấn, trạm đo mực nước và những thiết bị phát hiện thay đổi bất thường của dòng chảy.

 

Một dấu hiệu đặc biệt nguy hiểm là mực nước phía hạ lưu bỗng hạ thấp bất thường, mặc dù nước từ thượng nguồn vẫn tiếp tục đổ về. Đó có thể là dấu hiệu dòng sông đã bị một khối đất đá chắn ngang. Khi đập chắn tự nhiên ấy bị phá vỡ, nước tích tụ phía sau có thể bất ngờ tràn xuống, gây nên một trận lũ quét dữ dội mà người dân phía hạ lưu không kịp tránh.

 

Các công trình thủy điện cũng cần được đánh giá lại trong bối cảnh một chuỗi thiên tai. Một con đập có thể được thiết kế để chịu một trận lũ lớn theo thống kê khí tượng, nhưng chưa chắc đã chịu được dòng lũ mang theo những tảng đá khổng lồ, bùn đặc và thân cây.

 

Công tác quy hoạch phải tính đến toàn bộ lưu vực, thay vì chỉ giới hạn trong phạm vi công trình.

 

Đặc biệt, đối với các hệ thống sông xuyên biên giới, việc chia sẻ dữ liệu địa chất và thủy văn giữa những quốc gia thượng nguồn và hạ nguồn có ý nghĩa sống còn.


 

VII. Kết luận: Hai thảm họa, một lời cảnh báo

 

Hai thảm họa ngày 26/8 và 11/10/2026 không phải là hai bản sao của cùng một hiện tượng.

Nhưng cả hai đều cho thấy sự mong manh của những thung lũng núi cao, nơi một vụ sạt lở có thể dẫn đến những trận lũ tàn phá các cộng đồng cách xa hàng chục kilômét.

 

Đối với Nepal, thách thức trước mắt là cấp cứu, tái thiết và bảo vệ những cộng đồng còn sống trong vùng nguy hiểm. Nhưng về lâu dài, nhiệm vụ lớn hơn là xây dựng một hệ thống cảnh báo có khả năng nhận diện những chuỗi tai biến trước khi chúng trở thành thảm họa.


Hai thảm họa xảy ra cách nhau chỉ 46 ngày chưa đủ để kết luận thiên tai Himalaya đang xảy ra thường xuyên hơn. Nhưng cả hai đều là những lời cảnh báo nghiêm trọng, đòi hỏi giới khoa học và những người có trách nhiệm phải xem xét lại sự an toàn của các thung lũng miền núi.

 

Bài học cuối cùng không chỉ dành cho Nepal: một dòng sông có thể trở thành hiểm họa ngay cả khi trời không mưa. Và đôi khi, nguyên nhân của trận lũ không nằm trong lòng sông, mà ở một sườn núi cách xa hàng chục kilômét.

 

 

Ngô Thế Vinh

Viet Ecology Press, 14/10/2026

 

 

 _____



Tài liệu tham khảo:

 

1. ICIMOD (11/10/2026). Landslide-dam breach may have triggered Budhi Gandaki flash flood.

Phân tích khả năng một vụ sạt lở đất tạo đập chắn tạm thời trên sông Budhi Gandaki. Khi đập tự nhiên vỡ, lượng nước tích tụ đột ngột tràn xuống hạ lưu, gây lũ quét. 


2. Reuters (11/10/2026). Nepal urges villagers to evacuate after flood triggered by landslide.

Tường thuật tình trạng khẩn cấp sau lũ quét tại miền Bắc Nepal. Chính quyền yêu cầu dân cư vùng nguy hiểm di tản, đề phòng lũ tiếp diễn và sạt lở thứ cấp. Nhấn mạnh sự mong manh của các cộng đồng miền núi Himalaya.


3. Associated Press (11/10/2026). Villages evacuated as flash flood from Budhi Gandaki river hits northern Nepal.

Ghi nhận hoạt động di tản các làng ven sông Budhi Gandaki trước nguy cơ lũ quét. Cho thấy tác động trực tiếp của thiên tai đối với đời sống dân cư, giao thông và cơ sở hạ tầng miền núi.


4. NSET (2026). Rasuwa Debris Flash Flood 2026. PreventionWeb (2026). Scientific anatomy of the 26 August 2026 Bhotekoshi flash flood.

Hai tài liệu liên quan đến lũ quét và dòng bùn đá tại vùng Himalaya. Cung cấp cơ sở xem xét chuỗi tương tác giữa sạt lở, băng đá, dòng nước và địa hình dốc, đồng thời nhấn mạnh nhu cầu giám sát nguy cơ thiên tai xuyên biên giới.


5. Reuters (5/10/2026). Nepal ends search and rescue after flood, focuses on rehabilitation.

Đề cập việc chuyển trọng tâm từ tìm kiếm cứu nạn sang phục hồi sau thiên tai, bao gồm tái thiết hạ tầng, hỗ trợ người dân mất nhà cửa và khôi phục sinh kế. Cho thấy hậu quả kéo dài của lũ quét vượt xa thời điểm thảm họa.


6. Ngô Thế Vinh (9/2026). Viễn Kiến Môi Sinh của Đức Dalai Lama. Viet Ecology Press.

Trình bày tư tưởng bảo vệ môi sinh của Đức Dalai Lama, đặc biệt đối với cao nguyên Tây Tạng, nguồn nước và hệ sinh thái Himalaya. Nhấn mạnh mối liên hệ giữa đạo đức, trách nhiệm con người và sự tồn vong của môi trường thiên nhiên.


7. Ngô Thế Vinh (9/2026). Ba Tuần Sau Thảm Họa Nepal–Tibet. Viet Ecology Press.

Phân tích thảm họa lũ quét ngày 26/8/2026 trong bối cảnh biến đổi khí hậu và bất ổn địa chất Himalaya. Đặt vấn đề về nguy cơ thiên tai dây chuyền, sự thiếu hụt hệ thống cảnh báo sớm và nhu cầu hợp tác khoa học xuyên biên giới.

 

 

Thứ Hai, 12 tháng 10, 2026

JAMES JOYCE _ Dubliners: Những kiếp sống mòn


TRỊNH Y THƯ 
dịch & giới thiệu





Tập truyện Dubliners là tập hợp mười lăm truyện ngắn của James Joyce, xuất bản lần đầu năm 1914. Hãy tưởng tượng một thành phố che phủ trong màn mưa và sự hối tiếc, nơi những giấc mơ đông lại thành nỗi thất vọng và cuộc sống vang vọng tiếng leng keng rỗng tuếch của biết bao tiềm năng chưa hoặc không được khai mở. Đó là thành phố Dublin, Ireland vào đầu thế kỷ XX, làm bối cảnh cho toàn bộ tập truyện, những câu chuyện miêu thuật cuộc sống thường ngày của cư dân thành phố và cho người đọc một bức chân dung sâu sắc và thường mang tính mỉa mai phê phán về xã hội, văn hóa và chính trị của thời đại đó. Mỗi câu chuyện là một cái nhìn thoáng qua về cuộc sống của những người dân Dublin bình thường, khắc họa những cuộc đấu tranh, mong muốn và khát vọng của họ, một bức tranh thu nhỏ nhưng phức tạp, ghi lại nỗi tuyệt vọng câm lặng và nỗi thất vọng âm ỉ của cuộc sống bị mắc kẹt trong một vòng xoay trì trệ, dường như không lối thoát.

Sự quan sát tinh tế và phong cách kể chuyện sống động của Joyce đã nắm bắt được những sắc thái của trải nghiệm con người, phản ánh các chủ đề như sự tê liệt, sự thức tỉnh và tính phức tạp trong các mối quan hệ của con người.

Những nhân vật trong các truyện đều có chung một định mệnh nghiệt ngã. Ông Kernan, một người đàn ông từng là người kiêu hãnh, bị dìm xuống bởi chứng nghiện rượu và sự khinh miệt của xã hội. Cô Eveline, một cô gái trẻ đứng chênh vênh trên bờ vực, dù trong lòng rất muốn trốn thoát khỏi cuộc sống giam hãm tù túng bởi bổn phận và truyền thống, nhưng không thoát ra được vì xích xiềng của các điều đó trì kéo cô lại. Little Chandler, một người đàn ông khao khát đam mê nghệ thuật, chỉ tìm thấy đống tro tàn nguội lạnh của một cuộc hôn nhân không tình yêu. Và rất nhiều các nhân vật khác điển hình như vậy trong tập sách. Mỗi nhân vật, được Joyce tinh tế tạo dựng, trở thành một hợp âm buồn thảm trong bản giao hưởng về sự vỡ mộng của thành phố Dublin.

Những câu chuyện dẫn dắt người đọc đi quanh co qua những con phố lát đá cuội và những quán rượu mịt mù khói thuốc, cho thấy sự kềm kẹp ngột ngạt của những ràng buộc xã hội, giáo điều tôn giáo và khó khăn kinh tế. Tham vọng cùng hoài bão của biết bao con người cứ thế héo mòn dần trong không khí ẩm ướt của sương mù và những trận mưa, thay vào đó là sự chấp nhận cái tầm thường một cách đầy cam chịu. Tiếng cười, khi xuất hiện, nhuốm màu sắc mỉa mai, che giấu sự bất mãn gặm nhấm âm ỉ bên dưới bề mặt.

Joyce không phủ lấp người đọc chúng ta bằng những màn bi kịch. Phong cách văn học đặc trưng và độc sáng của ông nằm ở những tình tiết tinh tế, những khát khao không nói ra nhưng lóe lên trong đôi mắt của nhân vật, sự im lặng đa nghĩa đầy ẩn ý nói lên nhiều điều. Ông phân tích những tương tác xã hội với độ chính xác của một bác sĩ phẫu thuật, phơi bày tính đạo đức giả và nông cạn nằm ẩn giấu dưới lớp vỏ bọc của những ứng xử giao tiếp lịch sự.

Dubliners không phải là một cuốn sách mang đến sự thoải mái êm ái hay những giải pháp ấm lòng cho người đọc. Nó là tấm gương phản chiếu một xã hội đang trong tình trạng trì trệ, buộc ta phải đối mặt với những hạn chế của cuộc sống và những lựa chọn mà ta đưa ra. Nó là bức chân dung hôn ám về khát vọng, sự thất vọng và nỗi đau cay đắng ngọt bùi của những kiếp sống vô vị, không trọn vẹn.

Người đọc có thể không tìm thấy câu trả lời dễ dàng cho những vấn nạn nhân sinh mà Joyce đưa ra trong tập truyện, nhưng trong bản giao hưởng đan kết những nỗi buồn của kiếp sống, người đọc vẫn có thể nghe thấy văng vẳng vài nốt nhạc xanh yếu ớt của hy vọng, một giai điệu thì thầm vươn lên len lỏi trong nỗi tuyệt vọng dày đặc của kiếp người.