Thứ Tư, 19 tháng 8, 2026

Người đàn bà Việt không nhà ở Stockton

 Trùng Dương

Trái, trang báo Việt Mercury đăng bài về Bà Nguyễn Tố Cần, xuất bản ngày 19 thàng 2, 1999 tại San Jose, với hình của bà do phóng viên nhiếp ảnh của tờ The Record chụp trong một buổi phát biểu của bà tại phiên họp của Hội đồng thành phố Stockton. Phải, bà Tố Cần ngày nào cũng tới thư viện thành phố để thảo những lá thư viết tay tố cáo điều mà bà cho là tham nhũng trong chính quyền. (Ảnh chụp lại trong Việt Mercury, đã đình bản).

Người nữ luật sư biện hộ miễn phí tay cầm một tập giấy mầu vàng đẩy cửa bước vào phòng đợi sau khi đã để tôi đợi khoảng mười phút trong căn phòng đợi trơ trụi, với độc một bộ bàn bốn ghế và một dẫy ghế sofa bọc nhựa mầu nâu nhạt kê sát tường, không còn gì nữa cho tôi quan sát. Chúng tôi bắt tay nhau, trao đổi những thăm hỏi xã giao thường tình. Người nữ luật sư khoảng ngoài 40 tuổi, y phục tể chỉnh song chân đi giầy thể thao, chắc là để di chuyển tới tòa cách văn phòng ba dẫy phố cho lẹ, ngỏ lời cám ơn tôi đã bỏ thì giờ tới gặp chị về vụ người đàn bà Việt không nhà ở Stockton.

“Chị là người duy nhất mà Hugh Wright [người phóng viên toà án của tờ báo địa phương mà tôi hiện cộng tác] nói là có liên hệ với bà Nguyễn Tố Cần…” Ellen Schwarzenberg mở đầu, đôi mắt mầu nâu với tia nhìn ấm áp và thân thiện. Tự dưng tôi có cảm tình với Ellen mặc dù tôi biết chị muốn gặp tôi do nhu cầu nghề nghiệp: Chị được giao cho việc chứng minh là thân chủ của chị đủ minh mẫn để hầu tòa thay vì được gửi vào viện tâm thần như hai tâm lý gia của nhà tù quận đã chẩn bệnh và cùng kết luận bà Tố Cần bị chứng “fixed delusional belief system”, tức chứng niềm tin hoang tưởng cố định.

Tôi cải chính là thực sự tôi không có liên hệ gì với bà Tố Cần, kể cả là bạn, mặc dù thỉnh thoảng tôi có đi tìm bả với ý định biếu ít tiền hoặc quà, hoặc như gần đây, khi bà bị bắt giam ở nhà tù quận về tội làm rối trật tự công cộng và gửi thư cho một phóng viên của toà báo xin gửi báo cho bà khi nào bà có tiền thì sẽ trả lại (điều này chắc chẳng bao giờ xảy ra), thì tôi có sang phòng phát hành đặt mua cho bả một tháng báo gửi bằng bưu điện tới nhà tù quận, thế thôi. Ellen nói là bà Tố Cần nói có nhận được báo và thay mặt cho bà, Ellen nói cám ơn nhã ý của tôi trong khi nhìn tôi thăm dò, có lẽ tự hỏi tại sao đã chẳng bà con hay bạn bè mà tôi bỏ công của và thì giờ để làm những việc như tôi đã làm. Có phải vì bà Tố Cần là người đồng hương? Một phần. Nhưng lý do chính là vì bả là một nhân vật độc đáo của thành phố Stockton, và mặc dù vô gia cư song, với giang sơn vỏn vẹn ít quần áo vật dụng chất trong một cái shopping cart, bà vẫn duy trì được tư cách và nhân phẩm của mình, một điều khiến tôi quý trọng bà.

Trong khi Ellen chăm chú nghe, tôi kể lại lần gặp gỡ duy nhất giữa bà Tố Cần và tôi khoảng một năm về trước, và lý do đã khiến tôi quan tâm đến trường hợp của bà.

Lần đầu tiên, khi tôi mới dọn đến thành phố này nhận việc cách đây vài năm, tôi được biết có một người đàn bà Việt không nhà, 64 tuổi và bị bệnh tâm thần ở Stockton, là qua một mẩu tin ngắn khi bà bị xe đụng bị thương nhẹ phải đưa vào nhà thương điều trị song được thả ra liền sau đó. Chi tiết của bài báo khiến tôi quan tâm là việc bà Tố Cần nguyên là một giáo chức ở Việt Nam, đã từng một dạo tích cực về các vấn đề tị nạn và đã từng cộng tác với một số học khu địa phương trong các chương trình dành cho học sinh tị nạn gốc Đông Nam Á. Tuy vậy vì bận rộn thích nghi với môi trường sinh hoạt mới nên tôi cũng không tìm hiểu thêm.

“Cho tới khi xảy ra vụ George Barber… ” tôi tiếp.

“Vụ George Barber?” Ellen ngắt lời tôi.

Tôi nhìn Ellen, thoáng ngạc nhiên.

“Chắc chị quên hoặc không để ý. Vụ đó xẩy ra cách nay trên một năm, đâu như hồi giữa năm 96, khá gây sôi nổi trong vài cộng đồng thiểu số ở đây,” tôi nói. “Chị cũng biết là bà Tố Cần không bỏ sót một buổi họp hội đồng thành phố hay ban giám sát viên quận nào mà không tham dự mặc dù bả đi bộ và luôn đẩy theo cái xe shopping của siêu thị chuyên chở cả sản nghiệp của bả đến chỗ họp. Tham dự thôi chưa đủ, mà bả luôn mượn dịp phát biểu những cảm nghĩ của bả về chính quyền địa phương. Theo bả, và điều này bả lập đi lập lại ở mỗi lần lên phát biểu, là viên chức chính quyền nào cũng thối nát hết. Bả có thể coi chị như bạn, nhưng nếu chị lỡ tranh cử và nắm được một cái ghế nào trong chính quyền là chị sẽ đương nhiên trở thành mục tiêu chống đối của bả liền tức thì. Ở đây ai đã từng tham dự những buổi họp có sự hiện diện của bà Tố Cần cũng đều biết điều đó và thường chỉ thở dài mỗi khi đến phiên bả phát biểu vào giờ dành cho công chúng, đành chỉ biết kiên nhẫn chờ bả phát biểu xong, thế thôi. Mà bà Tố Cần chịu khó theo dõi báo chí lắm. Bả đến thư viện công cộng mỗi ngày để đọc báo và đi họp để lên tiếng về các vấn đề công quyền địa phương như một người bình thường, người không biết khó mà tin là bả bị bệnh tâm thần. Còn các vấn đề quốc gia hay quốc tế thì bả viết thư rồi gửi đi tùm lum, có dạo bả lấy địa chỉ của một cái sở bưu điện ở đây làm địa chỉ của bả và về đó ngủ nữa, khiến sở bưu điện phải quyết định khóa trái cửa sớm hơn thường lệ thay vì mở cửa tới tận khuya để khách hàng tới lấy thư trong hộp thư của họ.

“Hôm ấy chắc là ông Giám sát viên George Barber có chuyện bực mình chi đó, và trong một lúc mất tự chủ sau khi nghe bà Tố Cần điểm mặt mỗi giám sát viên trên bàn chủ toạ là tham nhũng thối nát, điều mà bả lập đi lập lại đã cả chục năm nay, ông Barber không kềm lòng nổi đã ghé vào máy phóng thanh phán cho cả khán giả truyền hình ở các tư gia cùng nghe, nguyên văn như sau, ‘Nếu bà không hài lòng với cái hệ thống (ở Mỹ) thì bà nên về cái nơi mà từ đó bà đến đây.’ Một vài giám sát viên khác đã vội vàng lên tiếng xin lỗi công khai bà Tố Cần ngay sau đó.  Riêng ông Barber thì nhất định từ chối không chịu xin lỗi.”

Bài tường thuật của báo chí về vụ đụng độ không cần thiết ấy đã gây sôi nổi trong cộng đồng địa phương, đặc biệt là các cộng đồng thiểu số. Trong khi các nhân vật lãnh đạo của các cộng đồng thiểu số gặp gỡ để bàn cách đối phó, nhiều người có kinh nghiệm về bà Tố Cần với tính tố cáo vô bằng cớ – thậm chí có người trong cộng đồng Việt còn gán cho bà nhãn “Tố Càn” – đã gọi giây nói đến văn phòng Giám sát viên Barber hỗ trợ việc làm của ông này. Tờ The Record cũng nhận được nhiều thư cả chống lẫn bênh. Có người còn đòi cắt trợ cấp xã hội của bà khiến tờ báo phải đăng kèm một giòng ghi chú của chủ bút, rằng bà Tố Cần không hề nhận một đồng trợ cấp nào. 

Thứ Ba, 11 tháng 8, 2026

The Planet Under Threat

 

AsiaSentinel
August 12, 2026

Thứ Bảy, 8 tháng 8, 2026

Những điều Trái Đất muốn nói với Con Người

 Sao lại thế?

Pham Phan Long

 




 

Hình 1: Con sông Irrawaddy ở Myanmar với áp lực ngày càng tăng từ hoạt động khai thác khoáng sản, phát triển cơ sở hạ tầng và biến đổi khí hậu. NguồnBjørn Christian Tørrissen / Wikimedia Commons. 

 

Địa cầu là hành tinh độc nhất trong vũ trụ có đủ điều kiện cho loài người tồn tại.

Giữa khoảng không mênh mông của vũ trụ, Trái Đất hiện lên như một phép màu xanh thẳm. Hành tinh ấy có nước trong lành, bầu khí quyển dịu dàng, đất đai màu mỡ, rừng núi, sông hồ, biển cả và muôn loài cùng chung sống. Con người sinh ra, lớn lên trong vòng tay bao dung của thiên nhiên, uống từng giọt nước, hít từng hơi thở, bước đi trên mặt đất và được nuôi dưỡng bằng phù sa, nắng gió. Vậy mà, đáng buồn thay, chính loài người — đứa con được cưu mang nhiều nhất — lại đang từng ngày làm tổn thương người mẹ đã nuôi mình.

Trái Đất xanh giữa muôn vàn sao lạ,

Ôm nhân gian bằng nước mắt yêu thương.

Cho sự sống nảy mầm trên đất mẹ,

Cho con người xây mộng đẹp thiên đường.

 

Nước, sông hồ, rừng núi là những nguồn sống quý giá mà Trái Đất trao tặng. Nước nuôi dưỡng cây cỏ, mùa màng và con người; sông hồ mang phù sa, giữ ký ức quê hương; rừng là lá phổi xanh, còn núi gìn giữ mây, gió và mạch nước đầu nguồn. Thế nhưng, vì rác thải, hóa chất, sự lấn chiếm, phá rừng và khai thác khoáng sản quá mức, những món quà ấy đang dần bị tổn thương. Khi dòng sông đục ngầu, cánh rừng biến mất, đất đai bạc màu và núi đồi bị khoét sâu, chính sự sống của con người cũng trở nên mong manh hơn.

 

Sông chở nặng phù sa và ký ức,

Hồ soi mây như giữ bóng quê nhà.

Nếu lấn chiếm làm dòng sông nghẹn lại,

Cánh đồng khô sẽ đói nước, phù sa. 

 

Không khí là ân huệ âm thầm của sự sống. Ta không nhìn thấy nó, nhưng từng giây từng phút đều sống nhờ nó. Một đứa trẻ chào đời bằng hơi thở đầu tiên; một người già khép lại cuộc đời trong hơi thở cuối cùng. Lẽ ra bầu trời phải trong trẻo như buổi sớm mai, nhưng khói nhà máy, khói xe, bụi mịn và sự đốt phá vô độ đã khiến nhiều nơi trở nên xám đục. Con người xây thành phố cao hơn, rộng hơn, sáng hơn, nhưng lại đánh mất màu xanh nguyên sơ của bầu trời. 


Two Years after the Groundbreaking of the Funan Techo Canal Project


A New Perspective: From a Single Engineering Project to a Basin-Wide Hydrological System


NGÔ THẾ VINH


IntroductionTwo years after the groundbreaking ceremony on 5 August 2024, construction of the Funan Techo Canal continues in phased sections, while the approximately 180-kilometer canal remains far from completion. This article argues that the project should not be viewed merely as an inland navigation canal. Rather, it represents a multi-purpose water management system whose long-term operation may alter flood dynamics, sediment transport, and saline intrusion throughout the Lower Mekong Basin, particularly in Vietnam's Mekong Delta. The author further contends that the project raises serious questions regarding compliance with Article 5 of the 1995 Mekong Agreement. Cambodia classified the Funan Techo Canal as a project located on a tributary, thereby submitting it only under the Notification procedure instead of the mandatory Prior Consultation process required by the Procedures for Notification, Prior Consultation and Agreement (PNPCA). In reality, however, the canal is designed to draw water directly from both the Mekong River and the Bassac River, the two principal distributaries of the Lower Mekong, before discharging into the Gulf of Thailand. From this perspective, the project constitutes an inter-basin water diversion with potential transboundary implications extending beyond Cambodia's national territory. Avoiding the obligations of Article 5 weakens not only the institutional authority of the Mekong River Commission (MRC) but also risks establishing a precedent whereby future basin-wide projects could circumvent the cooperative framework established under the 1995 Mekong Agreement. Prime Minister Hun Manet has described the canal as both a birthday gift to his father, former Prime Minister Hun Sen, and as a new national legacy of the Khmer Kingdom. Cambodian officials have even compared the project to China's historic Grand Canal. Yet the larger questions remain unresolved. What economic and environmental costs will ultimately be borne by the Cambodian people? How might the project reshape Cambodia's relationship with Vietnam? And what consequences could emerge for the ecological future of the Lower Mekong Basin? This article therefore calls for a fundamental shift in perspective: away from viewing the Funan Techo Canal as an isolated engineering work, toward recognizing it as one component of an interconnected hydrological system. Such a perspective requires Cambodia to comply fully with Article 5 of the Mekong Agreement, disclose complete project data, and conduct comprehensive transboundary environmental impact assessments before the canal enters full operation. 



Figure 1Groundbreaking Ceremony for Section II of the Funan Techo Canal Project, held on 11 April 2026 in Borei Chulsar District, Takeo Province. The ceremony was presided over by Prime Minister Hun Manet, accompanied by Chinese Ambassador Wang Wenbin. Seated in the front row on the red carpet, from left to right, are the Chinese Ambassador to Cambodia, Prime Minister Hun Manet, and Deputy Prime Minister Sun Chanthol, Vice Chairman of the Council for the Development of Cambodia (CDC), who oversees national infrastructure and investment. Source: Agence Kampuchea Presse (AKP)

 

Developments Since the Groundbreaking Ceremony: Progress and Persistent Questions

One of the questions most frequently raised by readers is straightforward:

What is the current status of Cambodia's Funan Techo Canal Project?

This question is particularly timely because two years have now passed since the official groundbreaking ceremony of 5 August 2024, an event staged on an unprecedented national scale. The canal was presented as a flagship megaproject, a symbol of Cambodian national pride, and a legacy closely associated with the Hun family's political leadership. At that time, the Cambodian government confidently announced that the canal would be completed and become operational by 2028


Figure 2The groundbreaking ceremony of the Funan Techo Canal at the small village of Prek Takeo, Kien Svay District, Kandal Province, on 5 August 2024, coinciding with Hun Sen's birthday. The ceremony was chaired by his son, Prime Minister Hun Manet. Behind the ceremonial stage stood a giant Khmer-language banner proclaiming: "We Support the Funan Techo Canal." This location marks the beginning of Section I, a canal segment extending more than 20 kilometers, drawing water directly from the Lower Mekong River, upstream of Vietnam's Mekong Delta. Source: Khmer Times, 5 August 2024.



Figure 3Map of the Funan Techo Canal Project. The canal (red line) diverts water from both distributaries of the Lower Mekong: the Lower Mekong River (light blue), which later becomes Vietnam's Tiền River, and the Bassac River (dark blue), which becomes the Hậu River downstream in the Mekong Delta. Source: Radio Free Asia (RFA)

 

As of August 2026, two years after the commencement of Section I, it has become evident that the Funan Techo Canal remains in the stage of phased construction, rather than full-scale excavation along its planned 180-kilometeralignment. The available evidence suggests that the project has yet to enter comprehensive construction across the entire route originally envisioned. Based on its current pace, it is increasingly likely that this ambitious undertaking will require substantially more time than initially projected before reaching completion. 


Thứ Năm, 6 tháng 8, 2026

Sau lễ động thổ Dự án Kênh Funan Techo Cách đây 2 năm

Cần một tầm nhìn mới: từ "một công trình" 

sang "một hệ thống" thủy văn 

ảnh hưởng trên toàn lưu vực  

 

NGÔ THẾ VINH 

 

 

Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên toàn lưu vực. Thủ tướng Hun Manet xem con kênh này như món quà sinh nhật dành cho cha mình và là di sản mới của Vương quốc Khmer, thậm chí được so sánh với Đại Vận Hà của Trung Quốc. Tuy nhiên, bài viết cũng đặt ra câu hỏi về chi phí thực tế mà người dân Cam Bốt phải gánh chịu, cũng như nguy cơ làm gia tăng căng thẳng trong quan hệ Việt – Cam BốtBài viết kêu gọi một tầm nhìn mới: từ “một công trình” sang “một hệ thống thủy văn” liên kết, đồng thời đòi hỏi Cam Bốt tuân thủ đúng Điều 5, công bố đầy đủ dữ liệu và thực hiện đánh giá tác động xuyên biên giới. Việt Ecology Press

* 



Hình 1: Lễ khởi công Phần II (Section II) của Dự án Kênh Funan Techo, ngày 11 tháng 4 năm 2026 tại huyện Borei Chulsar, tỉnh Takeo, do Thủ tướng Hun Manet chủ tọa cùng Đại sứ Trung Quốc Vương Văn Bân (Wang Wenbin), trên thảm đỏ, hàng đầu từ trái là Đại sứ Trung Quốc tại Cam Bốt, Thủ tướng Hun Manet, và bên cạnh là Phó Thủ tướng Sun Chanthol, Phó Chủ tịch Hội đồng Phát triển Cam Bốt, phụ trách hạ tầng và đầu tư.  [Nguồn: AKP /Agence Kampuchea Presse]. 

*   

Diễn tiến sau lễ động thổ và câu hỏi về tiến độ

      Một câu hỏi nhận được từ bạn đọc là: Dự án Kênh Funan Techo của Cam Bốt hiện nay ra sao, đã tới giai đoạn nào, khi mà trong Lễ khởi công chính thức diễn ra ngày 5 tháng 82024 – cách đây đúng 2 năm với quy mô rất lớn, được xem như một siêu Dự án, biểu tượng lòng kiêu hãnh của quốc gia Cam Bốt, mang nặng màu sắc dân tộc chủ nghĩa và di sản của gia đình họ Hun, cùng với lời khẳng định là Kênh Funan Techo sẽ hoàn tất và đi vào hoạt động năm 2028. 





Hình 2: Lễ động thổ kênh Funan Techo với tràn ngập cờ xí tại ngôi làng nhỏ Prek Takeo, huyện Kien Svay, tỉnh Kandal ngày 05.08.2024, cũng là ngày sinh nhật của Hun Sen, do con trai ông, nay là Thủ Tướng Hun Manet chủ tọa; phía trước khu nhà máy là dàn khẩu hiệu tiếng Khmer cực lớn: “Chúng tôi ủng hộ Kênh Funan Techo”, đây là điểm khởi đầu của khúc kênh đào (1) dài hơn 20 km, lấy nước từ sông Mekong Hạ (Lower Mekong) là một dòng chính đầu nguồn sông Tiền trước khi chảy vào ĐBSCL, Việt Nam. [nguồn: Khmer Times 05.08.2024] 



Hình 3 đồ Dự án Kênh đào Funan Techo. Con kênh Funan Techo (đường chỉ đỏ) lấy nước từ cả 2 phân lưu sông Mekong: Mekong Hạ đầu nguồn con sông Tiền (đường chỉ xanh nhạt) và sông Bassac (đường chỉ xanh đậm) là đầu nguồn của con sông Hậu khi chảy vào Việt Nam. [nguồn: RFA]


      Nay bước sang tháng 8/2026, đã hai năm sau lễ động thổ Phần I (Section I), có thể nói rằng dự án Funan Techo Canal vẫn đang ở giai đoạn thi công từng đoạn, chứ chưa thực sự bước vào tổng thể công trình đào kênh trên toàn tuyến dài 180 km như kế hoạch ban đầu. Với tiến độ như hiện nay có thể tiên đoán rằng dự án đầy tham vọng ấy sẽ hoàn tất chậm hơn thời gian dự kiến. 


Chủ Nhật, 2 tháng 8, 2026

VÀO ĐẠO HỌC - TRIẾT HỌC VỚI NHÂN TỬ NGUYỄN VĂN THỌ [1]

 


HOÀNG VŨ (Bác sĩ Hoàng Văn Đức)

 

 Nhằm mục đích giới thiệu nhà học giả Nguyễn Văn Thọ tài liệu này gồm 4 phần chính và kết luận:

 

I. Thân thế tác giả.

II. Hành trình đi vào Đại Học, Triết Học của tác giả.

III. Những đóng góp vào Đạo giáo, Triết học và Khoa học của tác giả.

IV. Nhận định về tác giả qua sách vở, báo chí.

V. Kết luận


 Bác sĩ Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ 1921 - 2014


I. THÂN THẾ TÁC GIẢ

Tác giả sinh ngày 15-12-1921 tại Chi Long, Hà Nam Bắc Việt, tên NGUYỄN VĂN THỌ, bút hiệu NHÂN TỬ.

Tác giả đỗ Tú Tài toàn phần Triết Học Văn Chương Pháp năm 1944 và tốt nghiệp Y khoa bác sỹ tại Đại học đường Hà Nội năm 1952.

Sau khi tốt nghiệp y khoa bác sỹ, tác giả bị động viên với tư cách là bác sỹ quân y vào quân lực VNCH từ tháng 9 năm 1952. Với tư cách đó, tác giả đã phục vụ liên tiếp tại nhiều đơn vị và nhiều bệnh xá, bệnh viện tại các tỉnh Quảng Trị, Quảng Ngãi, Quảng Nam. Cuối năm 1952, tác giả được gởi đi tu nghiệp tại Army Medical Service School, Fort Sam Texas.

Tháng 6 năm 1956 trở về nước, Ông được cử giữ chức y sĩ trưởng bệnh viện tản thương 21 Đà Nẵng, và được thăng cấp y sĩ thiếu tá năm 1956. Đến năm 1958, ông được cử làm Y sĩ trưởng Tổng Y Viện Duy Tân, Đà Nẵng, và Ông ở chức vụ đó cho tới năm 1963.

Khi ở Đà Nẵng, ngoài chức Y sĩ trưởng Tổng Y Viện, Ông còn kiêm nhiệm chức Đại diện quân y quân khu 2, Chủ tịch các hội đồng Trưng Binh, Miễn Dịch, sáng lập viên và hiệu trưởng trường Văn Hóa Quân Đội Đà Nẵng, Phó Hội Trưởng rồi Hội Trưởng Hội Cổ Học Đà Nẵng.

Sang 1964, đương sự vào Sài Gòn, phục vụ tại Tổng Y Viện cộng hòa từ 1964 cho đến tháng 5- 1965.

Sau đó, Ông giải ngũ, trở về hành nghề y sĩ tư tại 77 Võ Tánh, Phú Nhuận, Gia Định.

Ngoài hoạt động chuyên môn, Ông còn tham gia nhiều công tác hoạt động Văn Hóa.

Ông được mời giảng dạy triết học Trung Hoa tại Đại Học Văn Khoa Sài Gòn từ 1967. Đến 1972 được cử nhiệm làm giảng sư thực thụ.

Ngoài ra, Ông còn được mời làm Giáo Sư triết học tại Phân Khoa Triết Học Viện Đại Học Minh Đức từ 1971. Trong niên khóa 1973- 1974 Ông được cử nhiệm chức Giáo Sư Trưởng Ban Triết Đông Tại Đại Học Minh Đức.

Ngoài ra, trong những năm 1970- 1971, Ông còn giảng dạy Triết lý tôn giáo tại trụ sở Dòng Tên Alexandre de Rhodes, 161 Yên Đỗ, Sài Gòn.

Ông gia nhập Tinh Việt Văn Đoàn từ 1962.

Được tạp chí Concilium Hòa Lan mời gia nhập Hội Thần học gia quốc tế từ 1966.

Nhân viên tong ủy ban điển chế văn tự từ 1967 đến 1969.

Du Hành Quan Sát và Tu Nghiệp

Ông đã du hành quan sát Philippines năm 1952, theo lời mời của Phòng Thông Tin Hoa Kỳ Sài Gòn cùng với các Ông Hồ Quang Phước và Trần Điền.

Ông đã du học tại Hoa Kỳ (từ tháng 12- 1955 đến 5- 1956) tại trường Army Medical Service School, Fort Sam Texas Hoa Kỳ.

Và đã đại diện ngành quân y Việt Nam tham dự Hội Nghị Quân Y Quốc Tế tại Teheran, Ba Tư năm 1961.

Các Tác Phẩm

Ông đã viết rất nhiều sách, nhưng mới được in có một số, còn một số lớn chưa in.

A/ Đã xuất bản

1) Khảo luận và phê bình học thuyết Khổng Tử (Khổng Học Đà Nẵng xuất bản năm 1961).

2) Lecomte du Noüy và Học Thuyết Viễn Đích (Văn Đàn xuất bản năm 1961).

3) Khổng học tinh hoa. (Khai Trí xuất bản, 1970).

4) Những điểm tương đồng của Phật Giáo, Công Giáo và Khổng Giáo (Công giáo tiến hành địa phận Xuân Lộc xuất bản).

5) Chân dung Khổng Tử (Khai Trí xuất bản năm 1972).

B/ Chưa xuất bản

1) Les secrets des reins révélés. (Luận án y khoa đệ trình tại Y khoa Đại Học đường Hà Nội năm 1952. Được giải thưởng luận án năm đó).

2) Trung Dung Tân Khảo (Giải thưởng văn chương Lecomte du Noüy do Tinh Việt Văn Đoàn trao tặng năm 1960- 1961).

3) Vô cực luận.

4) Thái cực luận.

5) Hà Đồ.

6) Lạc Thư.

7) Dịch học nhập môn.

8) Tượng luận thiên.

9) Dịch kinh giản yếu.

10) Âm Dương, Tứ Tượng, Ngũ Hành luận.

11) Kinh Dịch diễn ca và bình giảng (Toàn bộ: 1500 trang).

12) Lão Tử Đạo Đức kinh (diễn ca và bình giảng).

13) Văn Học là gì. (Diễn văn tại trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn đã đăng tải trong Văn Hóa nguyệt san năm 1969- 1970, Gió Việt của Bộ Ngoại Giao năm 1970, Tạp chí Tân Học năm 1972.) 

14) Qu’est-ce que la culture. (Bản dịch pháp văn của bài diễn văn trên) 

15) Trung Dung giảng luận.

16) Hướng Tinh Thần (Phong trào Hưng Giáo Văn Đông đã cho phổ biến hạn hẹp).

C/ Đang soạn thảo

1) Thiên văn học Trung Hoa (đã được đăng làm nhiều kỳ trên Tạp Chí Phương Đông).

2) Vấn Đề Văn Hóa.

3) Tôn giáo đối chiếu.

D/ Linh Tinh

Ngoài ra tác giả còn công tác với các tập san:

1) Cổ học Quảng Nam (1958-1960).

2) Đại học Huế. (1959).

3) Văn Đàn. (1961-1963).

4) Văn Hóa Tập San từ 1969.

5) Gió Việt của Bộ Ngoại Giao (1970).

6) Phương Đông từ 1971.

7) Minh Đức từ 1972.

8) Tân Học. (1972) 

Tác giả cũng đã diễn thuyết ở nhiều nơi về nhiều vấn đề văn chương, triết học, đạo giáo.

Đã diễn thuyết về Khổng Giáo, tại:

- Đại học Huế (1959).

- Trung Phần Tương Tế Huế (1960) do lời mời của Viện Hán Học Huế.

- Đà Nẵng.

- Hội An. (1960) 

- Vĩnh Điện (Quảng Nam, 1960).

- Hòa Vang (Quảng Nam, 1960).

- Tổng Y Viện Cộng Hòa Sài Gòn.

- Hội Việt Mỹ Sài Gòn (Thuyết trình bằng anh văn, tháng 10-1970. Bài diễn văn đã được đăng tải bằng song ngữ Anh Việt trong tạp chí của Hội Việt Mỹ.

Đã diễn thuyết về:

- Đề tài «Sức mạnh con người» tại câu lạc bộ sĩ quan Huế (1961).

- Đề tài «Thanh niên trước ngưỡng cửa đời» tại trườong Sao Mai Đà Nẵng (1962) và trường Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn (1966).

- Đề tài «Văn Hóa là gì?» tại trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn (1969).

- Đề tài «Ít nhiều nhận định về Tôn giáo đối chiếu» tại trường Taberd Sài Gòn (1970) và Chi Hội Kiêm Ái, Phan Thanh Giản, Sài Gòn (1973).

- Đề tài «Những điểm tương đồng giữa Phật giáo, Khổng giáo và Công giáo» tại tòa Giám Mục Long Khánh (1970).

- Đề tài “Trời chẳng xa người” tại Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Cao Đài 171 Cống Quỳnh Sài Gòn (1970).

- Đề tài “Tìm hiểu vũ trụ, con người và Đạo giáo qua Kinh Dịch tại Chi bộ Kiêm Ai đường Phan Thanh Giản Sài Gòn (1973).

- Đề tài «Ý nghĩa âm nhạc trong văn minh Đông Phương» tại Phân khoa 

Từ 1969 tác giả đã dành các buổi chiều chủ nhật để giảng dạy kinh Dịch cho một số sinh viên đã tốt nghiệp cử nhân triết tại Văn Khoa Sài Gòn. Một giảng khóa đã kéo dài hơn 400 giờ.

Hiện nay Ông tiếp tục giảng dạy Lão Trang cho các sinh viên cũng chiều chủ nhật tại 171 Cống Quỳnh Sài Gòn.

Huy chương đã được:

- Anh dũng bội tinh với ngôi sao vàng năm 1955.

- Văn hóa giáo dục bội tinh do Phủ Văn Hóa trao tặng năm 1972.


Thứ Bảy, 1 tháng 8, 2026

Nhớ về Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ


Nguyễn Duy Chính

 


Hình 1: Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ (1921 – 2014)  


      Tôi có ba vị Thầy ảnh hưởng nhiều đến cuộc đời, hai người tôi theo học thật theo kiểu trường lớp, một người chỉ gián tiếp qua sách vở. Cụ Đặng Quí Tuỳ là cụ giáo dạy Pháp văn miễn phí ở gần nhà dạy tôi lối sống đạm bạc và hi sinh cho tha nhân, cụ Nguyễn Hiến Lê là một học giả mà tôi gọi là tâm sư - vì tôi chưa gặp mặt bao giờ - dạy cho tôi biết thế nào là đủ về vật chất để dồn nỗ lực vào công việc tinh thần. Hai vị thầy đó qua đời đã lâu. Vị thầy gần gũi có nhiều cơ hội tiếp xúc là Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ, vừa thất lộc đầu năm 2014. 

      Không nhớ chính xác thời điểm nhưng lần đầu tiên tôi thụ giáo Bác Sĩ Thọ là tại một lớp về Kinh Dịch ở Phú Nhuận vào khoảng cuối thập niên 1960. Lớp học một tuần một buổi ngày Chủ Nhật, mỗi tuần một quẻ. Ngày đầu tiên tôi học cụ dạy về quẻ Thái, lớp học có lẽ cũng đã bắt đầu được vài tháng rồi. 

      Tôi học không lâu, chỉ chừng một năm vì sau đó tôi ra trường và đi làm ở các tỉnh nên không thể tiếp tục mặc dù tôi vẫn nhờ ông chú họ mua giùm các tài liệu in ronéo để xem thêm. Nói đúng ra tôi đến lớp của Bác Sĩ Thọ không có một mục tiêu cụ thể nào vì tôi không tham dự như những người đang ghi danh ở đại học Văn Khoa.  

      Tôi cũng không đi tìm một con đường tu tập vì vốn dĩ tôi không phải là một người tôn giáo, có đức tin vào một đấng huyền vi mà luôn luôn suy nghĩ và hành động của nhà nho, “vị tri sinh, an tri tử” (chuyện sống còn chưa biết huống gì chuyện chết) và theo đuổi cái quan niệm rất sơ đẳng là “tận nhân lực, tri thiên mệnh” (làm hết sức mình để biết mệnh trời). 

       Khi theo học lớp Dịch của Bác sĩ Thọ, tôi chỉ biết rất mơ hồ về văn minh Trung Hoa, kém xa những người khác được huấn luyện một cách chính thức mặc dù tôi có cái ưu điểm là biết lem nhem vài chữ Nho vốn dĩ tự học sau năm đệ Thất ở CVA là niên học có môn Hán văn mỗi tuần một giờ. 

      Trong cái “tiểu trí” của tôi hồi đó, kinh Dịch là chìa khoá để mở những cánh cửa của văn minh Á Đông. Tôi thích thú không phải vì ý nghĩa uyên áo của hào, của quẻ mà chỉ là diễn giải qua những phần bình luận sau mỗi quẻ mà Bác Sĩ Thọ viết rất công phu, tuy tổng quát nhưng cung cấp căn bản vững chắc về đông y, về thiên văn, về tiên thiên hậu thiên, âm dương ngũ hành ... 

      Chính vì thế, cho đến giờ này sắp sửa bước vào tuổi “cổ lai hi”, sở học căn bản của tôi vẫn lộn xộn không đâu vào đâu cả. Giá như hồi đó Bác Sĩ Thọ dạy tôi Tam Tự Kinh hay Ấu Học Ngũ Ngôn Thi có lẽ tôi có cơ sở hơn vì từ một thanh niên không biết gì về văn minh Á Đông mà vào thẳng Kinh Dịch thì cũng không khác gì đi ngược đầu, chưa học cộng trừ nhân chia đã làm toán vi phân tích hay nói một cách dễ hiểu thì học kinh văn võ công tầng thứ bảy mà không qua tầng thứ nhất, thứ hai. 

      Thế nhưng cũng có cái hay vì Bác Sĩ Thọ không phân tích để dựng lại một khung hình suy nghĩ mà kinh Dịch cũng như mọi kinh điển, sách vở khác chỉ là một khu vườn để trồng cái đạo lý cụ nhiệt tình rao giảng. Đó là muốn đi tìm cái rốt ráo mà mọi tôn giáo đều truy cầu dù với những tên gọi khác nhau như “niết bàn”, “đại đạo” hay “thượng đế” … thì phải quay về chính mình, với “chân tâm” chứ đừng cầu ở sắc tướng, ở âm thanh nghĩa là đừng hướng ngoại mà phải hướng nội. Khi đã nhận biết cái tâm điểm đó thì mục tiêu tối hậu là không còn tôn giáo ngoại truyền vì mọi chấp trước vào hình thức lệ thuộc vào ngôn từ hay nghi lễ đều chỉ là vọng tưởng, là giả tâm. Hiểu được như thế, tôi mới biết rằng cụ có cái chìa khoá mở được mọi cánh cửa triết học và đạo giáo, cổ hay kim, đông hay tây. 

      Theo học Bác Sĩ Thọ nhiều năm nhưng chung qui tôi chỉ nhớ được hai câu: 


若以色見我,以音聲求我,是人行邪道,不能見如來[1]

Nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã, thị nhân hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai.

Nếu như lấy hình sắc để xem ta, lấy âm thanh để cầu ta, người ấy đã đi sai đường, không thể nào thấy được chân tâm bản ngã 

人心惟危 ,道心惟微,惟精惟一,厥中[2]

 Nhân tâm duy nguy, đạo tâm duy vi, duy tinh duy nhất doãn chấp quyết trung.

Lòng con người thì luôn luôn chông chênh, chao đảo. Gốc của đạo thì sâu thẳm vi diệu vô cùng. Muốn vào được đạo trung [tìm được chân tâm] thì phải luôn luôn tinh thuần chuyên nhất 

    [Kinh Thư, Đại Vũ Mô, tiết 15]