Thứ Năm, 30 tháng 7, 2026

Về một người vừa nằm xuống

 

TỪ THỨC


      Được tin bác sĩ ĐẶNG NGỌC CƯƠNG* vừa đột ngột ra đi ở Hoa Kỳ. Những người quen thân như lá mùa thu, rụng dần Gặp lại anh Cương cách đây vài năm ở Worcester, một thành phố nhỏ ở Massachusetts, suốt ngày chỉ gợi lại những kỷ niệm Sài Gòn trước 75. Cũng lạ, mặc dù sống 2/3 cuộc đời ở ngoại quốc, gặp nhau chỉ kể chuyện Sài Gòn. Những năm tháng sau này, dù đầy đủ vật chất hơn, dù an cư lạc nghiệp hơn, dù có dịp đi đây đi đó, vẫn chỉ là những ngày tạm, vất vưởng ở cõi tạm Anh Cương lục tủ, cho tấm hình dưới đây. 

 

      Tôi ngồi bên trái, anh Cương bên phải, người ngồi giữa là anh Ngô Thế Vinh, sau này là tác giả Cửu Long Dậy Sóng và nhiều sách, báo về đại hoạ đe doạ sông Cửu Long, ngày nay trở thành chuyện thời sự đau xót, cay đắng cho dân tộc. Không kể sách anh viết về văn học VN trước 75 Hình chụp một buổi họp của sinh viên đi cứu lụt, hay hoạt động xã hội, giúp đồng bào nghèo. Tôi học những năm đầu Văn Khoa, trong khi hai anh Cương và Vinh sắp xong Y Khoa.


 


 

      Đó là những năm 60, sinh viên, thanh niên Sài Gòn hoạt động văn hoá, xã hội tích cực, sôi động. Coi trọng việc xã hội hơn việc nhà, lấy cái vui của người khác làm cái vui của mình, thấy hạnh phúc của mình trong hạnh phúc của người khác Anh Cương viết cho báo Tình Thương của Y Khoa do nhóm anh Vinh chủ trương, tham gia đoàn Cấp cứu Thường Trực Y khoa, tôi trong nhóm làm tờ Đối Thoại của sinh viên Văn Khoa. 


Thứ Ba, 28 tháng 7, 2026

Từ The Ashes Of War tới Vietlondon@music

Thế hệ thứ hai 

nghĩ về thảm kịch Việt Nam

 Từ Thức  

Những người Việt cao tuổi vẫn lo ngại: sau khi thế hệ của mình lần lượt ra đi, hay bỏ cuộc vì tuổi già, sức yếu, lịch sử của dân Việt sẽ hoàn toàn ở trong tay Cộng sản, những người coi chuyện viết lại lịch sử là một nghĩa vụ.

Hai sinh hoạt văn hoá những ngày gần đây khiến người ta lạc quan hơn, thấy lớp trẻ thuộc thế hệ thứ hai, thứ ba ở hải ngoại đang tiếp tay, để kêu gào sự thực về những thảm kịch kinh hoàng của người Việt: đó là cuốn phim “Từ Tro Tàn Chiến Tranh” (From The Ashes Of War) của Trần Hoàng Thanh Tâm và những nhạc phẩm của nhóm Vietlondon@Music.




Cuốn phim của Thanh Tâm và các nhạc phẩm của Vietlondon@music là cái nhìn, tiếng nói của người Việt trẻ nói với những người cùng thế hệ về đấu tố, về Tết Mậu Thân, về thảm sát Huế, về trại cải tạo, về boat people, về những vết thương chưa lành, và sẽ không bao giờ lành, những sự kiện không thấy dấu vết trong sách báo Cộng Sản.

Cuốn phim nói tiếng Việt, phụ đề ngoại ngữ, những ca khúc của Việt London Music có lời ca tiếng Anh, qua giọng hát của những người trẻ sinh ra ở Anh quốc, có phụ đề Việt ngữ. Nghĩa là cả hai muốn đi tới lớp trẻ cả trong và ngoài nước, và những người ngoại quốc vốn có cái nhìn sai lạc về chiến tranh Việt Nam.

Làm phim hay viết nhạc là một việc làm quan trọng, bởi vì hầu hết sách báo của người Việt nói về chiến tranh Việt Nam viết bằng tiếng Việt ít khi đi tới lớp trẻ, không có thói quen đọc sách hay không thông thạo tiếng Việt. Thế hệ này là thế hệ của hình ảnh, âm nhạc.
TỪ TRO TÀN CHIẾN TRANH

Từ Tro Tàn Chiến Tranh là cuốn phim thứ 3 của đạo diễn Thanh Tâm (Canada) về thảm kịch của dân tộc Việt, sau Bóng Quá Khứ và Thuyền Nhân: Hành Trình 50 Năm.

Cuốn phim đã tốn gần nửa triệu dollars, một phần do người Việt hải ngoại đóng góp, một ngân sách không đáng kể đối với phim ảnh ngoại quốc, nhưng rất lớn đối với phim ảnh Việt Nam.

Người làm phim đã gặp hàng trăm nhân chứng còn sống sót để nói về lịch sử Việt Nam từ 1945, về cuộc di cư 54, về cuộc xâm chiếm miền Nam 1975, về trại cải tạo, về boat people và những thành công của người Việt ở hải ngoại.

Bên cạnh những cuộc phỏng vấn, những đoạn phim, dựng cảnh Tết Mậu Thân, địa ngục của trại cải tạo, thảm hoạ của thuyền nhân đã gây xúc động.

Hầu như đây là lần đầu tiên có một cuốn phim dài 2 giờ, với cái nhìn của nạn nhân, nói về cuộc hành trình và thảm hoạ của dân Việt trong thế kỷ vừa qua.

Những phim ảnh khác về Việt Nam không bao giờ đả động tới thân phận của người Việt ở miền Nam. Ngoài những phim đổi trắng thay đen của Cộng Sản là những phim tài liệu của phe tả Tây phương, không biết gì, hay không muốn biết gì về sự thực lịch sử. Hay những phim nổi tiếng với ngân sách khổng lồ của Hollywood

(Apocalypse Now, Full Metal Jacket, The Deer Hunter…), những tác phẩm lớn trên địa hạt nghệ thuật, nhưng khán giả người Việt có cảm tưởng coi những cuốn phim không liên hệ gì tới mình, diễn ra ở một nơi nói là ở Việt Nam nhưng hoàn toàn xa lạ, kỳ quái đối với người Việt.

Người Mỹ làm phim, cũng như tham chiến ở Việt Nam, suy nghĩ như người Mỹ trên xứ Mỹ, không đếm xỉa gì tới sự thực Việt Nam.

Trong những phim Hollywood về Việt Nam, người ta thấy ngoại cảnh Cambodge, quần áo Phi Luật Tân, dân địa phương nói tiếng Tàu. Hollywood bỏ thời giờ, tiền bạc để nghiên cứu về trang phục thời La Mã, Ai Cập tiền sử hay trung cổ, nhưng không thèm bỏ vài phút để tìm hiểu về một nước Việt Nam ngay trước mắt. Thiếu sự lễ phép tối thiểu đối với cả một dân tộc.

Cũng đáng buồn, khi có hàng trăm cuốn phim có giá trị về Holocauste, về bi kịch Do Thái, trong khi thảm kịch Việt Nam, từ chiến tranh, trại cải tạo, boat people cũng bi thảm không kém, chưa có một cuốn phim đứng đắn, trung thực.

Càng đáng buồn hơn khi rất khó tìm được ngân sách để thực hiện một cuốn phim Việt Nam, hay thực hiện một công trình văn hoá Việt, trong khi rất nhiều người Việt đã thành công ở hải ngoại, không biết dùng tiền làm gì, ngoài việc khoe của, khoe nhà, khoe xe hơi, hột xoàn hay tung tiền làm những việc tào lao, vô bổ.

Hy vọng Từ Tro tàn Chiến Tranh là bước đầu, dẫn tới những phim ảnh khác nói lên nỗi phẫn uất âm thầm của dân tộc Việt.

Một bên, nhà nước Cộng Sản tìm mọi cách viết lại lịch sử, xoá bỏ những tội ác của họ, suốt ngày chỉ ca tụng chiến công của Bác, Đảng.

Khi còn sử dụng Facebook, tôi nhận được nhiều messages của các bạn trẻ ở trong nước, cám ơn đã viết về Nhân văn Giai Phẩm, về di cư 54, về những cuộc thủ tiêu ghê rợn các nhà ái quốc không thân Cộng, về boat people mà họ chưa bao giờ nghe nói tới.

Một bên, các gia đình Việt Nam, kể cả ở hải ngoại, ít khi nói với con cháu mình về dĩ vãng. Người ta muốn quên, không muốn nhắc tới những thảm hoạ ghê rợn nhiều khi ngoài sức tưởng tượng, như che dấu, không muốn nhìn thấy vết thương trên thân thể, tâm hồn mình.

Hậu quả là thế hệ trẻ, từ trong nước tới hải ngoại mù tịt về quá khứ rất gần của dân tộc mình.

Một dân tộc quên quá khứ là một dân tộc không có tương lai, không biết mình là ai, từ đâu tới, đi về đâu. Nếu chúng ta thờ ơ, những thế hệ sau này sẽ không còn là người Việt.
VIETLONDON@MUSIC

Viet London Music là những bản nhạc có giá trị về âm nhạc, về lời ca. Đó cũng là một ngạc nhiên, với một thế hệ âm nhạc thường thường chỉ là những tiếng la hét, những câu đơn giản lập dì lập lại, nhiều khi vô nghĩa. Đó là tiếng khóc của lớp trẻ hải ngoại còn tha thiết với quê hương, còn đau cái đau của cha mẹ.

Cuốn phim Từ Tro Tàn Chiến Tranh và những nhạc phẩm của Việt London Music là một cách chống Cộng hữu hiệu, bởi vì nghệ thuật đánh vào con tim.

Không có gì hữu hiệu hơn nghệ thuật để kêu gào sự thực.

Người ta đã viết hàng ngàn, hàng triệu bài về chiến tranh, nhưng ít khi gây xúc động và khiến người ta suy nghĩ như vài câu Đường thi nói về nắm xương trắng nằm trên bờ sông, trong khi ở quê xa, người chinh phụ vẫn ngồi bên song cửa chờ chồng.

Đã có hàng ngàn bài viết về thân phận phụ nữ Việt thời chinh chiến, nhưng ít có hình ảnh nào rung cảm hơn cảnh chia ly của Chinh Phụ Ngâm. “Cùng trông lại, mà cùng chẳng thấy/ Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu/Ngàn dâu xanh ngắt một mầu/Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai”.

Đã có rất nhiều than vãn, nhưng ít khi đi vào tâm khảm người nghe hơn lời khuyên vừa thiết tha vừa tuyệt vọng của lữ khách đối với người chinh phụ hoá đá, ôm con đứng chờ, xem chàng về hay chưa, của Lê Thương trong Hòn Vọng Phu: “Thôi, đứng đợi làm chi, thời gian có hứa mấy khi/Sẽ đem đến trả đúng kỳ/ Những người mang mệnh biệt ly.”

Những bài hát tuyệt vời tiếng Anh, có phụ đề Việt ngữ của Vietlondon@music nhắc lại cho thế hệ trước, kể lại cho thế hệ sau về những người chiến đấu cho tự do của miền Nam (Thank You Brave Men), về ngày Saigon sụp đổ (Last Boat in Saigon), về chuyện Cộng Sản đốt sách cấm nhạc (Songs They Not Kill), về thảm kịch boat people (The Ones Who Didn’t Land). Một cách hay nhất để tưởng niệm những người đã bỏ mạng trong trại cải tạo, trên biển cả, để những người đã chết không chết lần thứ hai.


Từ Thức 
Paris July 2026

… 

Kênh Vietlondon@music trên youtube:


Một ca khúc của Vietlondon@music:

Những Người Không Đến Được Bờ I The Ones Who Didn’t Land@{Official Vietlondon}

Thứ Hai, 27 tháng 7, 2026

CÁI ĐUÔI SAM

Nguyễn Duy Chính 


Lời nói đầu:  Khi còn sinh tiền, mỗi khi trao đổi trên điện thoại anh bạn vong niên của tôi là Phạm Xuân Hy thường đề cập đến những tập tục của người Trung Hoa cách đây chưa lâu nhưng nay đã thành dĩ vãng. Cũng có những chuyện nhiều người biết như bó chân, hoạn quan … nhưng cũng có những điều cần một chút công phu tìm kiếm cho có đầu có đuôi. Nhiều khi chúng ta rằng đó chỉ là việc tự nhiên nhưng đi sâu cũng có những nguồn gốc của nó. Chuyện cái bím tóc sau lưng người Trung Hoa là một. Để tưởng nhớ, tôi viết một bài ngắn về tóc đuôi sam mà nhiều người chúng ta còn thấy khi xem những tranh vẽ chế giễu người Tàu.

***

Một nhóm người Trung Hoa đang ăn. Nguồn: Wikipedia

Khi người Mãn Châu chiếm được Trung Hoa họ bắt dân chúng phải thay đổi trang phục. Những ai chống lại sẽ bị coi là phản loạn và chịu tội tử hình. Trong lịch sử, người Trung Hoa búi tóc và tết thành một cục trên đỉnh đầu. Cái búi tó ấy cũng là tập quán của người Việt, được coi như quốc hồn quốc tuý. Thời người Pháp mới sang, việc cắt bỏ búi tóc theo Tây phương vẫn bị coi như một hành động bất hiếu.

Ở Trung Hoa, hàng ngàn thợ cạo đầu thắt đuôi sam cũng phản đối vì phải thay đổi nghề nghiệp. Trước đây họ chỉ cần dao cạo và lược gỗ, nay họ phải mua một bộ đồ nghề mới với giá cao, một chi tiêu mà họ coi là phí phạm. Trong nhiều tháng dân chúng phản đối việc cắt tóc và do đó những khu vực do chính quyền Dân Quốc kiểm soát nay vẫn còn rất đông người để đuôi sam. Chính quyền nay phải áp dụng biện pháp mạnh. Năm 1913, một số cơ quan và đoàn thể có tinh thần cấp tiến đã đưa ra quyết tâm cưỡng bách phải cắt bỏ mái tóc dài. Tại nhiều đô thị lớn, những đoàn thanh niên được đưa ra đường nếu thấy ai còn để đuôi sam thì sẽ lẻn tới cắt trộm mái tóc của họ. Nhiều thành phố có quan nha thiết lập trạm cắt tóc những ai chưa tuân lệnh. Nhiều chuyện cãi vã xảy ra nhất là những người bị cắt bất ngờ nên đã nguyền rủa: “Chúng mày cắt tóc của tao thì sẽ có người cắt đầu chúng mày”. Tuy nhiên phần lới chỉ biết khóc lóc chạy trốn mặc dù cũng có một số hung hăng chống cự lại.

Ở nước ta cũng có phong trào đổi mới cắt tóc ngắn vào đầu thế kỷ do những nhà nho có óc tiến bộ đề xướng nhưng thực ra cũng có tính ép buộc của chính quyền Pháp. Nguyễn Vỹ, một nhà văn không mấy nổi tiếng thời tiền chiến nhưng lại khá thành công khi ông chủ trương một bán nguyệt san với tên Phổ Thông ở Saigon trong nhiều năm. Phổ Thông là một tạp chí dành cho đại chúng tương tự như Selection của Pháp hay Reader’s Digest của Mỹ, cung cấp những kiến thức khá hấp dẫn. Trong số những mục thường xuyên do chính Nguyễn Vỹ đảm trách có một truyện dài, nửa tiểu thuyết, nửa hồi ký nhan đề Tuấn, Chàng Trai Nước Việt (chứng tích thời đại từ 1900 đến 1970) kể về những biến đổi xã hội vào đầu thế kỷ XX, khi người Pháp tuy mới chiếm Việt Nam trong khoảng 40 năm nhưng đã thiết lập được một bộ máy hành chánh khá chu đáo. Giai đoạn này cũng là thời kỳ chuyển giao từ Hán học sang Tây học và Quốc Ngữ đưa đến những biến động tâm lý và xã hội khi người dân phải từ bỏ cách thức, tập quán cũ để theo đuổi những hình thức mới mà người Pháp đem sang. Bắt buộc đầu tiên mà học trò phải tuân thủ là không còn được để tóc dài như cha mẹ, ông bà mà phải hớt tóc ngắn mới được nhập học. Nguyễn Vỹ đã miêu tả rất sống động cái cảnh một thanh niên chuyển từ búi tóc sang hớt ca rê.

… Trưa hôm ấy, chàng thanh niên Lê văn Thanh về nhà thưa với cha, là ông Xã Quý, về việc cúp tóc. Ông Xã không chịu. Ông đập bàn, đập ghế, la hét om sòm:

— Con có cha, như cái đầu có tóc. Theo phong tục nước An-Nam, con phải để tóc, ấy là để thờ Cha Mẹ, ấy là có hiếu. Cắt tóc đi cũng như là từ bỏ cha mẹ. Tao theo sách thánh hiền dạy’ l giáo từ xưa tới nay của nước An-Nam như thế. Tao đấy đã 50 tuổi, ông Nội bà Nội mầy đã quá vãng rồi, mà tao còn búi tóc, để giữ đạo làm con cho trọn chữ Hiếu. Huống chi ngày nay tao còn sống mà mầy lại cắt cái búi tóc bỏ đi sao được! Chiều mầy vô trường thưa với Quan Đốc-Học như thế.

Nói xong, ông Xã ngồi khóc ròng rã. Chàng con trai Lê văn Thanh, cũng khóc nức nở. Bà Xã, ở dưới bếp chạy lên nghe câu chuyện của chồng vừa nói, cũng ngồi xuống ngạch cửa, khóc hu hu. Ông Xã nói tiếp, với giọng tức tối:

— Làm con, có cái búi tóc ở trên đầu để thờ Cha kính Mẹ mà cắt bỏ đi, thì còn gì là Cha con, Mẹ con nữa !… Mầy mà nghe lời người ta cắt bỏ cái búi tóc, thì là tao nhảy xuống giếng tao tự tử !

Ông lại khóc to lên, hu ! hu ! hu !

Ông Xã khóc, bà Xã khóc, chàng thanh niên Lê văn Thanh cũng khóc, nhưng rốt cuộc rồi cái búi tóc trên đầu chàng cũng phải cắt bỏ đi, tóc phải cúp « carré », và Quan Đốc học trường Nhà Nước đã truyền lệnh như thế. Nhưng năm 1910, tận nơi tỉnh lỵ mà tôi đang nói đây — cũng như tại các tỉnh khác ở Trung Việt, chỉ mới có một vài người làm nghề hớt tóc mà thôi. Chú Bảy theo ghe nước mắm vào Đồng Nai học nghề cúp tóc trước đó một vài năm. (Lúc bây giờ, cho đến khoảng 1920, ở các tỉnh Trung Việt, người ta vẫn gọi Saigon là Đồng Nai. Danh từ « Saigon » chưa được thông dụng) Chú mua kéo, « toon-đơ », dao cạo, cũng ở tại Đồng Nai, đem về mở tiệm cúp tóc ở tỉnh lỵ. Nói là mở tiệm, nhưng chú chỉ thuê một xó hè của một tiệm buôn khách trú, đặt một cái bàn con, một chiếc ghế đẩu, và treo một tấm kiếng trên vách tường, thế là đủ cho chú hành nghề. Chú treo tấm vải trắng phía ngoài đường, trên vải chú viết bằng mực Tàu, một chữ Tây: « COIFFURE », và chua ở dưới hai chữ Hán (Thế Phát: Cắt tóc). Chữ Quốc ngữ vì chưa được truyền bá, ít người biết, nên chú thợ hớt tóc chỉ viết quảng cáo bằng chữ Hán và chữ Tây, mặc dầu chữ tây cũng chưa mấy người học đến. Chú đề chữ tây cho oai, bắt chước chữ tàu học lỏm trong Đồng Nai, và thỉnh thoảng chú nói với một vài bác lính tập: “ Tui làm cốp-phơ cho quan Công-Sứ”.

Vì vậy mà trong tỉnh, người ta gọi chú là « chú Bảy cốp phơ ».


Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2026

Các quốc gia Đông Nam Á mở ra một hướng đi mới quan trọng hướng tới công bằng môi trường

LỜI DẪN NHẬP: Gần đây Viet Ecology Press đã báo động về nguy cơ nhiễm độc từ các mỏ đất hiếm Trung Quốc khai thác ở Myanmar và Lào cho lục địa Đông Nam Á; cũng như nhiều chục năm qua nguy cơ cạn kiệt phù sa, lũ lụt và hạn hán cho lưu vực Mekong gây ra từ những đập thủy điện thượng nguồn. Không những thế dân cư hạ lưu đã phải hứng chịu thiệt hại nặng nề về ngư nghiệp, nông nghiệp dưới sự bất lực của các chính quyền, không phản ứng mạnh mẽ bảo vệ quyền lợi của cư dân. Chúng tôi đã công bố bài báo đánh giá những hiệp ước và hợp tác quốc tế không bảo vệ được lưu vực: Hiệp Định sông Mekong (MRC) năm 1995 đầy ắp sứ mạng cao đẹp nhưng sau hơn 30 năm kết quả đã ngược lại, và Hợp Tác Lancang - Mekong suốt 10 năm rõ ràng đã phục vụ quyền lợi Trung Quốc là chính. Các tác động nguy hại xuyên biên giới trong lưu vực đã không có cơ chế nào kiểm soát, nên đã có hàng trăm con đập lớn nhỏ cắt nát sông Mekong và hàng ngàn mỏ đất hiếm đào xuống bên các dòng sông ấy. Chúng ta mong đợi một cơ chế quốc tế mới chặt chẽ hơn để cứu nguy các cư dân trong lưu vực. Viet Ecology Press tin rằng tìm một bát nước sạch cho một người đang khát là việc phải làm huống chi trước hiểm họa cho nguồn nước nuôi dưỡng 85 triệu người Đông Nam Á. Mời các bạn cùng đi tìm lời giải cho các dòng sông này khỏi hiểm họa qua một cửa ngõ bang giao quốc tế “Tuyên bố về Quyền được sống trong một môi trường an toàn, sạch, lành mạnh và bền vững” của Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) vừa ló dạng. Đông Nam Á đang bước vào một giai đoạn mới quan trọng trong hành trình hướng tới công bằng môi trường. Vào tháng Mười năm 2025, 11 quốc gia thành viên ASEAN đã cùng thông qua Tuyên bố về Quyền được sống trong một môi trường an toàn, sạch, lành mạnh và bền vững. Đây là lần đầu tiên một khu vực có tới 680 triệu dân chính thức công nhận quyền con người cơ bản này. Tuyên bố này không chỉ là lời cam kết chính trị mà còn mở ra cơ hội pháp lý thực tế để các cộng đồng bảo vệ sông ngòi và đất đai khỏi bị ô nhiễm xuyên biên giới. Đặc biệt, các quốc gia hạ nguồn như Thái Lan, Cam Bốt và Việt Nam giờ có công cụ mới để đòi hỏi trách nhiệm giải trình từ các hoạt động khai thác gây hại ở thượng nguồn. Vậy bài viết này sẽ phân tích những gì tuyên bố mang lại, phương thức thực thi, và cách mà người dân có thể sử dụng để bảo vệ môi trường sống. Đây là cơ hội lịch sử để biến cam kết thành hành động. Tuyên bố này đặt ra câu hỏi quan trọng: liệu Đông Nam Á có đủ quyết tâm để bảo vệ quyền môi trường của hàng trăm triệu người dân hay không. Bài viết sẽ đi sâu vào nội dung, cơ chế thực thi và triển vọng áp dụng thực tế của tuyên bố này. Mục tiêu là giúp người đọc hiểu rõ hơn về cơ hội và thách thức phía trước. Cuối cùng, nó cho chúng ta thấy rằng tương lai của môi trường khu vực nằm trong tay chính người dân và các chính phủ của họ. Bây giờ, mời bạn đọc cùng khám phá chi tiết trong bài viết dưới đây. Hy vọng tuyên ngôn này sẽ không làm cho các cộng đồng dân cư sống trong lưu vực thất vọng thêm một lần nữa. 

*

Bài bình luận

John Knox
11 tháng 6 năm 2026



Một cầu vồng khép kín hiện lên trên bầu trời phía trên một đồn điền cọ dầu rộng lớn tại Jambi, Indonesia, nơi trước đây từng là rừng mưa nhiệt đới nguyên sinh. Ảnh: Rhett A. Butler / Mongabay.


Gần đây, 11 quốc gia thành viên của Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã thông qua Tuyên bố về Quyền được sống trong một môi trường an toàn, sạch, lành mạnh và bền vững.

Đây là một cam kết quan trọng đối với công bằng môi trường cho 680 triệu người dân đang sinh sống trong khu vực này, theo một bài bình luận mới của Báo cáo viên Đặc biệt của Liên Hiệp Quốc về Nhân quyền và Môi trường. Tuy nhiên, theo ông, điều quan trọng hơn cả là phải bắt đầu triển khai tuyên bố này trên thực tế.

"Bước tiếp theo, tức là thực thi, còn quan trọng hơn nữa," ông viết. "Khu vực ASEAN đang phải đối mặt với những thách thức môi trường vô cùng to lớn, và quá nhiều lần các chính phủ đã thất bại trong việc bảo vệ quyền con người của những người đang ở tuyến đầu của các thách thức ấy."

Bài viết này là một bài bình luận. Những quan điểm được trình bày là của tác giả và không nhất thiết phản ánh quan điểm của Mongabay.

Những ý chính

Các quốc gia thuộc Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã đưa ra một cam kết quan trọng đối với công bằng môi trường cho 680 triệu người dân đang sinh sống trong khu vực. Giờ đây, phần khó khăn nhất mới bắt đầu: biến cam kết đó thành hiện thực.

Tháng Mười năm ngoái, các quốc gia thành viên ASEAN gồm Brunei, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái Lan, Timor-Leste và Việt Nam đã thông qua Tuyên bố về Quyền được sống trong một môi trường an toàn, sạch, lành mạnh và bền vững. Hiện nay, họ đang trong quá trình xây dựng Kế hoạch Hành động Khu vực nhằm hiện thực hóa tuyên bố này.

Quyền được hưởng một môi trường lành mạnh, như cách gọi phổ biến hiện nay, đã được cộng đồng quốc tế công nhận là một quyền con người cơ bản.

ASEAN lần đầu tiên thừa nhận quyền này vào năm 2012, trong Tuyên bố Nhân quyền ASEAN.

Đến năm 2022Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã gần như nhất trí tuyệt đối thông qua nghị quyết công nhận quyền này: 161 quốc gia bỏ phiếu thuận, không có quốc gia nào bỏ phiếu chống và chỉ có tám quốc gia không bỏ phiếu trắng.

Ở cấp độ quốc gia, hiện nay đã có hơn 100 nước ghi nhận quyền này trong hiến pháp của mình.



Các rặng san hô tại eo biển Verde (Verde Island Passage), Philippines
, trung tâm của khu vực có mức đa dạng sinh học biển cao nhất thế giới. 
Đông Nam Á sở hữu một di sản thiên nhiên vô cùng phong phú, những rặng san hô tại Philippines, đang nuôi sống và bảo đảm sinh kế cho hàng triệu người dân. Ảnh: Jett Britnell / Coral Reef Image Bank. 

Southeast Asian nations chart important new course toward environmental justice

John Knox
11 Jun 2026. Asia
CommentsShare articleCite article







Recently, the 11 member states of the Association of Southeast Asian Nations (ASEAN) adopted a Declaration on the Right to a Safe, Clean, Healthy and Sustainable Environment.
This is an important commitment to environmental justice for the 680 million people who call this region home, a new op-ed by the former U.N. special rapporteur on human rights and the environment states, but it needs to begin implementation, he argues.
“The next step — implementation — is even more crucial,” he writes. “The ASEAN region faces enormous environmental challenges, and too often governments have failed to protect the human rights of those who are on the frontlines of those challenges.”
This article is a commentary. The views expressed are those of the author, not necessarily of Mongabay.
See All Key Ideas

The countries of the Association of Southeast Asian Nations (ASEAN) have made an important commitment to environmental justice for the 680 million people who call this region home. Now comes the hard part: putting it into practice.

Last October, ASEAN member states — Brunei, Cambodia, Indonesia, Laos, Malaysia, Myanmar, the Philippines, Singapore, Thailand, Timor-Leste, and Vietnam — adopted a Declaration on the Right to a Safe, Clean, Healthy and Sustainable Environment. They are currently in the process of drafting a regional plan of action to give it life.

The right to a healthy environment as it’s usually called is now globally accepted as a fundamental human right. ASEAN first recognized this right in 2012 in the ASEAN Human Rights Declaration. In 2022, the United Nations General Assembly proclaimed the right in a virtually unanimous vote: 161 governments voted in favor, none against, and only eight abstained. At the national level, more than 100 countries now include it in their constitutions.




Southeast Asia enjoys a rich natural heritage, like this coral reef in the Philippines, that supports the lives and livelihoods of millions of people. Image courtesy of Jett Britnell/Coral Reef Image Bank.

Thứ Tư, 22 tháng 7, 2026

Nguyễn Duy Chính _ Những sách đã xuất bản

 



                                                               


Nguyễn Duy Chính là tên thật và cũng là bút hiệu của một nhà biên khảo, ông sinh năm 1948 tại Sơn Tây, 
vào Nam cùng gia đình năm 1954. Cựu học sinh Chu Văn An Sài Gòn, Cựu sinh viên Quốc gia Hành 
chánh Sài Gòn, Việt Nam. Rời khỏi Việt Nam năm 1979.
Cử nhân Khoa học Quản trị Kinh doanh, Hoa Kỳ
Thạc sĩ Quản trị Kinh doanh, Hoa Kỳ
Thạc sĩ Quản lý Hệ thống Thông tin, Hoa Kỳ
Tiến sĩ Quản trị Kinh doanh ngành Quản lý và Ứng dụng Khoa học Máy tính, Hoa Kỳ.

Hiện sống và làm việc tại California. Từ giai đoạn 2002-2003 đến nay, ông chuyển sang 
nghiên cứu Lịch Sử Việt Nam đặc biệt vào thời Tây Sơn và Lịch Sử Trung Hoa thời Mãn Thanh.

Những sách đã xuất bản:
Bang giao Việt Thanh: thế kỷ XIX
Bút Nghiên Giấy Mực
Đại Việt quốc thư: nxb Văn hóa Văn nghệ TP HCM
Đằng trong thời chúa Nguyễn: nxb Phương Nam và hội Nhà văn
Đi tìm chân dung vua Quang Trung
Giở lại một nghi án lịch sử “Giả Vương nhập cận”: nxb Văn hóa Văn nghệ TPHCM
Gốc tích nhà Tây Sơn (biên khảo)
Khâm Định An Nam Kỷ Lược (dịch và biên khảo)
Lê Mạt Sự Ký: Sự suy tàn của triều Lê cuối thế kỷ XVIII: nxb Dân Trí và Khoa học Xã hội
Nguyễn Thị Tây Sơn Ký
Núi xanh nay vẫn đó: nxb Văn hóa Văn nghệ TP HCM
Phái đoàn Đại Việt và lễ Bát Tuần Khánh Thọ của Thanh Cao Tông (biên khảo): nxb Văn hóa 
Văn nghệ TPHCM
Quan hệ Việt Nam - Trung Hoa dưới triều Thanh (dịch)
Sự suy tàn của triều Lê cuối thể kỷ XVIII: nxb Dân Trí và Khoa học Xã hội
Thanh Việt nghị hòa (tiến trình công nhận triều đại Quang Trung): nxb Văn hóa Văn nghệ 
TPHCM
Việt Thanh chiến dịch: nxb Văn hóa Văn nghệ TP HCM
Việt Nam và cuộc chiến Trung Pháp (dịch)
Vó ngựa Cánh cung: nxb Văn hóa Văn nghệ TP HCM

Mười năm Hợp tác Lancang – Mekong

Tham vọng chiến lược của Trung Quốc 

và cái giá phải trả của các nước hạ nguồn

Phạm Phan Long

22-7-2026

Lời dẫn: Sau mười năm hoạt động, Cơ chế Hợp tác Lancang – Mekong (LMC) do Trung Quốc khởi xướng đã bộc lộ rõ sự mất cân đối trong quan hệ giữa các bên. Dù mang lại một số dự án hạ tầng và thúc đẩy thương mại, cơ chế này cũng khiến các nước hạ nguồn ngày càng lệ thuộc vào Trung Quốc về vốn, thị trường và chuỗi cung ứng. Thêm vào đó là những rủi ro ngày càng lớn đối với an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, môi trường và thậm chí cả chủ quyền quốc gia.

Với lợi thế kiểm soát toàn bộ thượng nguồn sông Mekong, Trung Quốc nắm trong tay đòn bẩy quan trọng để tác động đến dòng chảy, đầu tư và thương mại trong khu vực. Trong khi đó, các nước hạ nguồn ngày càng rơi vào thế phụ thuộc: Thâm hụt thương mại gia tăng, nợ công chồng chất, ô nhiễm xuyên biên giới khó kiểm soát và dư địa cho các quyết sách chiến lược độc lập ngày càng bị thu hẹp. Không ít nhà quan sát cho rằng, các nước này đang có nguy cơ trở thành những "chư hầu kinh tế" của Bắc Kinh. 

Bên cạnh đó, các hoạt động của Trung Quốc trên Biển Đông – từ việc đơn phương tuyên bố chủ quyền đối với phần lớn vùng biển, xây dựng và quân sự hóa các thực thể tranh chấp, đến những vụ tấn công tàu thuyền của các nước khác – đã làm gia tăng căng thẳng trong khu vực. Việc Bắc Kinh bác bỏ phán quyết của Tòa Trọng tài năm 2016 và tiếp tục theo đuổi các yêu sách bị nhiều nước phản đối, cũng khiến niềm tin của các nước trong khu vực đối với Trung Quốc bị suy giảm đáng kể.

Bài viết sau đây sẽ đánh giá toàn diện mười năm hoạt động của Cơ chế Hợp tác Lancang – Mekong (LMC), phân tích những thách thức mà Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam đang đối mặt, đồng thời đề xuất một số hướng cải tổ nhằm bảo vệ lợi ích lâu dài của các nước hạ nguồn. Từ những diễn biến trên sông Mekong đến các hành động trên Biển Đông, nhiều nhà phân tích cho rằng LMC không chỉ là một khuôn khổ hợp tác kinh tế, mà còn là công cụ để Bắc Kinh mở rộng ảnh hưởng chiến lược trong khu vực.

 






 Hình 1: Hội nghị các Bộ trưởng Ngoại giao lần thứ 10 Hợp tác Lancang - Mekong tại Vân Nam, Trung Quốc, ngày 15 tháng 8 năm 2025. Từ trái: Bùi Thanh Sơn (Việt Nam), Thongsavanh Phomvihane (Lào PDR), Maris Sangiampongsa (Thái Lan), Vương Nghị (Trung Quốc), Prak Sokkhon (Cam Bốt), U Than Swe (Myanmar).  


Thương mại mất cân bằng và sự lệ thuộc kinh tế

Trung Quốc coi thương mại là một trong những thành tựu nổi bật của Cơ chế Hợp tác Lancang – Mekong (LMC), với tổng kim ngạch giữa Trung Quốc và năm quốc gia hạ nguồn đạt khoảng 500 tỷ USD trong năm 2025. Tuy nhiên, đằng sau con số ấn tượng đó là một thực tế đáng lo ngại: Lợi ích từ thương mại không được phân bổ đồng đều. Chỉ trong năm 2025, Việt Nam đã ghi nhận mức thâm hụt thương mại với Trung Quốc lên tới 115,6 tỷ USD, trong khi Campuchia và Thái Lan cũng chịu mức nhập siêu rất lớn.

Nguyên nhân nằm ở cơ cấu thương mại thiếu cân đối. Các nước hạ nguồn chủ yếu xuất khẩu nguyên liệu thô và nông sản có giá trị gia tăng thấp, nhưng lại nhập khẩu máy móc, thiết bị và hàng công nghiệp có giá trị cao từ Trung Quốc. Điều này khiến họ khó tham gia vào các khâu mang lại lợi nhuận lớn hơn trong chuỗi cung ứng, đồng thời ngày càng phụ thuộc vào thị trường và năng lực sản xuất của Trung Quốc.

Sự lệ thuộc còn thể hiện qua các dự án hạ tầng quy mô lớn được tài trợ bằng vốn vay. Tại Lào, tuyến đường sắt Trung Quốc – Lào cùng nhiều dự án liên quan đã góp phần đẩy nợ công lên trên 100% GDP, trong đó phần lớn là các khoản nợ đối với các chủ nợ Trung Quốc. Khi gánh nặng nợ gia tăng, khả năng tự chủ về chính sách tài khóa và phát triển của các nước vay vốn cũng bị thu hẹp, làm sâu sắc thêm sự phụ thuộc kinh tế vào Bắc Kinh.

 

Khai thác tài nguyên và những hệ lụy môi trường xuyên biên giới



Bên cạnh hạ tầng và thương mại, LMC cũng tạo điều kiện để các doanh nghiệp Trung Quốc mở rộng hoạt động khai thác tài nguyên trong lưu vực Mekong. Đáng chú ý nhất là các dự án khai thác đất hiếm và vàng tại Lào và Myanmar. Theo bảng dữ liệu tương tác của Trung tâm Stimson, hiện có khoảng 2.699 điểm khai thác mỏ chưa được kiểm soát nằm dọc các con sông và phụ lưu đổ vào hệ thống Mekong, đặt ra những rủi ro nghiêm trọng đối với môi trường và nguồn nước của cả khu vực.

 


Hình 2: Các mỏ đất hiếm ở Đông Nam Á lục địa tính đến ngày 17-7-2026. Nguồn: Trung tâm Stimson


Hệ quả rõ nhất là tình trạng ô nhiễm nguồn nước xuyên biên giới. Tại vùng Tam giác Vàng của Myanmar, nhiều mỏ đất hiếm sử dụng phương pháp khai thác tại chỗ, bơm nước cùng các hóa chất độc hại như asen, xyanua, thủy ngân, cadmium và mangan vào lòng đất để tách quặng. Nước thải sau khai thác thường không được xử lý đầy đủ mà chảy vào các sông Kok, Sai và Ruak trước khi đổ vào sông Mekong.

Tại Lào, các dự án khai thác do doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư cũng đang mở rộng sang nhiều phụ lưu của sông Mekong. Một số nghiên cứu còn phát hiện dấu vết asen trong nguồn nước tại Lào có liên quan đến các khu mỏ ở Myanmar. Tình trạng xả thải kim loại nặng đang đe dọa chất lượng nước, sản xuất nông nghiệp, nguồn lợi thủy sản và sức khỏe cộng đồng tại Lào, Thái Lan, Việt Nam cũng như các nước khác ở hạ lưu.

Đối với Việt Nam, nguy cơ càng trở nên đáng lo ngại khi nhiều khu khai thác nằm ngay gần các lưu vực sông xuyên biên giới. Tại Lào hiện có ít nhất 12 mỏ nằm gần thượng nguồn sông Mã, sông Chu và sông Lam – những con sông chảy trực tiếp vào các tỉnh đông dân ở miền Trung và Bắc Trung Bộ Việt Nam. Tháng 2 năm 2024, một vụ rò rỉ hóa chất tại mỏ đất hiếm lớn nhất tỉnh Houaphanh đã làm hóa chất tràn vào sông Nam Sam, gây hiện tượng cá chết hàng loạt, khiến nguồn nước không còn an toàn để sử dụng và ảnh hưởng đến nhiều cộng đồng dân cư ở Lào. Sự cố này cũng gióng lên hồi chuông cảnh báo về nguy cơ ô nhiễm lan truyền xuống các lưu vực hạ nguồn trên lãnh thổ Việt Nam.