Thứ Hai, 7 tháng 9, 2026

VIỄN KIẾN MÔI SINH CỦA ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA

 Từ “Nóc Nhà Thế Giới” 

tới thảm họa Nepal–Tây Tạng 2026


NGÔ THẾ VINH 




                                              Hình 1: Đức Dalai Lama và Cực Thứ Ba của Trái Đất
                                                          [nguồn: http://www.activeremedy.org] 


MÙA XUÂN TÂY TẠNG VÀ CÂU CHUYỆN NHỮNG DÒNG SÔNG

Cách đây chín năm, bài viết của Ngô Thế Vinh đã nhìn Cao nguyên Tây Tạng như “Cực Thứ Ba của Trái Đất”, kho dự trữ băng tuyết khổng lồ và là nơi phát nguyên của những dòng sông lớn nuôi sống hàng tỉ cư dân châu Á, trong đó có Sông Mekong. Đức Dalai Lama từ rất sớm đã cảnh báo rằng vấn đề môi sinh Tây Tạng còn cấp thiết hơn cả những vấn đề chính trị: băng tuyết tan nhanh, phá rừng, khai thác khoáng sản, ô nhiễm nguồn nước và những con đập đang làm biến dạng các dòng sông. Từ đầu nguồn Tây Tạng tới các đồng bằng hạ lưu, tất cả nằm trong cùng một hệ sinh thái liên lập. Thông điệp bài viết năm 2017 vẫn nguyên tính thời sự: “Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết.” https://vietecologypress.blogspot.com/2017/01/mua-xuan-tay-tang-va-cau-chuyen-nhung.html


*


Từ ngót bốn thập niên trước, khi biến đổi khí hậu chưa trở thành một ám ảnh của nhân loại như ngày nay, Đức Đạt Lai Lạt Ma , đã nói tới Tây Tạng không chỉ như quê hương của một dân tộc mất quyền tự quyết, đang bị Hán Hoá mà còn như một hệ sinh thái có tầm quan trọng đối với cả châu Á. Trong nhãn quan của ông, hòa bình, quyền con người và bảo vệ thiên nhiên không phải ba vấn đề riêng biệt, chúng liên hệ với nhau và cuối cùng quy tụ vào một câu hỏi căn bản: con người có thể tồn tại lâu dài hay không nếu chính môi trường nuôi sống mình đang bị hủy hoại?

Nhìn lại những lời cảnh báo ấy, sau thảm họa kinh hoàng xảy ra tại vùng biên giới Nepal–Tây Tạng mới đây (ngày 26 tháng 8 năm 2026), người ta khó tránh khỏi cảm giác rằng đó không chỉ là một triết lý Phật giáo về sự tương tác giữa con người và thiên nhiên. Nó còn mang dáng dấp của một viễn kiến môi sinh.


Từ một chương trình chính trị tới một tầm nhìn sinh thái

Ngày 21 tháng 9 năm 1987, tại Washington D.C., Đức Đạt Lai Lạt Ma đưa ra Kế hoạch Hòa bình Năm Điểm cho Tây Tạng (Five-Point Peace Plan for Tibet). Điều đáng chú ý là trong năm đề nghị ấy, ông dành hẳn một điểm cho việc, phục hồi và bảo vệ môi trường thiên nhiên Tây Tạng.

Hai năm sau, trong Diễn từ nhận giải Nobel Hòa Bình ngày 11 tháng 12 năm 1989, tư tưởng ấy được ông trình bày rõ ràng và rộng hơn. Ông đề nghị toàn cao nguyên Tây Tạng có thể trở thành một khu bảo tồn thiên nhiên hay sinh quyển khổng lồ, nơi việc khai thác tài nguyên phải được kiểm soát chặt chẽ, các hệ sinh thái phải được bảo vệ và phát triển phải theo hướng bền vững.

Ông hình dung Tây Tạng như một vùng mà con người và thiên nhiên có thể cùng tồn tại trong hòa bình và quân bình.

Đặt trong bối cảnh cuối thập niên 1980, phải nói đây là một ý tưởng đáng chú ý. Khi ấy khái niệm biến đổi khí hậu / climate change chưa chiếm vị trí trung tâm trong chính sách quốc tế như ngày nay; những thuật ngữ như sông băng đang thu hẹp / glacier retreatsự tan băng vĩnh cửu / permafrost thaw, lũ vỡ hồ băng / glacial lake outburst flood hay Cực Thứ Ba / Third Pole...  chưa xuất hiện hàng ngày trên báo chí thế giới.

Nhưng Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nhìn thấy một nguyên lý quan trọng hơn những thuật ngữ khoa học ấy: thiên nhiên không tuân theo biên giới chính trị.

Trong diễn văn Nobel năm 1989, ông nói đại ý rằng những gì xảy ra tại một nơi trên thế giới có thể ảnh hưởng tới tất cả chúng ta. Chiến tranh hay hòa bình, phá hủy hay bảo vệ thiên nhiên, nghèo đói hay thịnh vượng không phải những hiện tượng biệt lập mà liên hệ với nhau ở nhiều tầng mức.

Gần bốn mươi năm sau, Himalaya đang chứng minh nguyên lý ấy bằng một ngôn ngữ khốc liệt hơn: băng, đá, nước và những dòng lũ. 

NEPAL: NHỮNG SÔNG BĂNG ĐANG TAN

 NHỮNG QUẢ BOM HẸN GIỜ

Jason Gulley
Giáo sư Địa chất, University of South Florida
Theo The New York Times, Climate Forward, 28.08.2026


Lời Dẫn Nhập: Đây là bài viết cô đọng từ The New York Times, cho thấy một thảm họa địa phương có thể là lời cảnh báo sớm cho cả một vùng rộng lớn. Trận lũ quét vừa xảy ra ở Nepal và Tây Tạng không chỉ là một tai biến thiên nhiên đơn lẻ. Phía sau dòng nước lũ dữ dằn là sự hội tụ ngày càng nguy hiểm của khí hậu đang nóng lên, băng tuyết Himalaya tan nhanh và những hồ băng đang căng phình trên “nóc nhà thế giới”. Những biến động ấy không dừng lại ở vùng núi cao Himalaya, mà có thể tác động tới hàng triệu cư dân sống ở các lưu vực hạ nguồn. Trong viễn cảnh đó, không thể không nghĩ tới sông Mekong và Đồng bằng Sông Cửu Long của Việt Nam, một vùng châu thổ vốn đã rất mong manh trước những biến động ngày càng khó lường của khí hậu và nguồn nước. VEF


Một nhà khảo sát chèo chiếc kayak bơm hơi được trang bị máy sonar để đo độ sâu của một hồ nước tan từ băng trên sông băng Ngozumpa ở Nepal vào năm ngoái. Ảnh: Jason Gulley / The New York Times


Những hình ảnh về trận lũ thảm khốc từ vùng biên giới Nepal - Tây Tạng trong những ngày cuối tháng 8 năm 2026 đã gây kinh hoàng trên khắp thế giới. Nhưng đối với nhà địa chất Jason Gulley, người đã có sáu chuyến khảo sát các sông băng Nepal trong hơn hai thập niên, thảm họa ấy còn mang một ý nghĩa đáng lo ngại hơn: đó có thể là hình ảnh báo trước một tương lai đang đến với dãy Himalaya khi Trái Đất tiếp tục nóng lên.

Do nơi xảy ra thảm họa quá xa xôi, các nhà khoa học chưa xác định được chính xác điều gì đã khởi phát trận lũ ngày 26 tháng 8. Điều đã biết là một khối băng khổng lồ tách khỏi sườn núi, rơi xuống khoảng 4.000 feet, rồi đâm vào một phụ lưu của sông Bhote Koshi trên lãnh thổ Trung Quốc.

Cú va chạm làm rung chuyển cả vùng núi, mạnh đến mức lúc đầu bị nhầm là một trận động đất. Máy địa chấn ghi nhận chấn động tương đương 5,2 độ. Chỉ ít phút sau, một bức tường khổng lồ gồm nước và đá lao xuống thung lũng, cuốn qua khu vực cửa khẩu biên giới.

Nguồn gốc chính xác của khối nước khổng lồ ấy vẫn đang được điều tra. 

Thứ Bảy, 5 tháng 9, 2026

Trang tưởng niệm BS Hà Ngọc Thuần 1940-2026

Người Thư-Sinh Muôn Thuở 

Sau 50 năm nhớ về Nghiêm Sỹ Tuấn


HÀ NGỌC THUẦN 



LGT: Đây là bài viết từ Brisbane Úc Châu của Bác sĩ Hà Ngọc Thuần tháng 10 năm 2018 _ cách đây 8 năm, đã đăng trong Tuyển Tập YSTT Nghiêm Sỹ Tuấn, Người Đi Tìm Mùa Xuân do Tập San Y Sĩ Việt Nam Canada và Việt Ecology Press cùng đứng tên xuất bản và phát hành năm 2019. Phần hình ảnh và tiểu sử cũng do chính BS Hà Ngọc Thuần cung cấp. Đăng tải lại bài viết "Sau 50 năm nhớ về Nghiêm Sỹ Tuấn" có ý nghĩa như một nén nhang tưởng nhớ cả hai cây viết cột trụ trong Ban Quan Điểm của tờ báo SVYK Tình Thương ngày nào. 



*

*


A book is a bit like an iceberg. The author’s name is on the cover, but ninety percent is below the surface, with the names of many others who deserve credit. Michael RuseDarwinism and Its Discontents – 2006


“Một cuốn sách cũng phần nào giống như một tảng băng trôi. Tên tác giả được ghi trên bìa sách, nhưng chín mươi phần trăm còn lại nằm khuất dưới mặt nước, với tên tuổi của biết bao người khác cũng xứng đáng được ghi nhận công lao.” — Michael Ruse, Darwinism and Its Discontents (2006)




1. Nghiêm Sỹ Tuấn sanh năm 1937, vào một ngày đầu năm. Tính theo âm lịch, Anh thuộc tuổi Bính Tý, tuổi con Chuột, không phải năm Đinh Sửu, tuổi con Trâu, như những người sanh sau ngày Tết Nguyên Đán. Sau này khi viết văn Anh lấy bút hiệu là Yển Thử. Thử là Con chuột. Nhưng khi hỏi Anh là Yển Thử có ý nghĩa đặc biệt nào, và vì lý do nào Anh lại chọn bút hiệu đó, thì Anh chỉ cười mà không giải đáp. Lẽ cố nhiên chúng ta phải biết hai chữ yển và thử này viết sang chữ Hán như thế nào thì mới có thể nói chuyện tìm kiếm trong tự điển Đào Duy Anh hay tự điểnThiều Chửu. Đây là một bí mật mà Anh đã mang theo về bên kia thế giới. Quý vị thông thạo chữ Hán có thể đoán biết được, nhưng dù có đoán đúng chăng nữa cũng chỉ là “đoán” mà thôi.



Sau này tôi, Hà Ngọc Thuần, người viết bài này, được kể như một người bạn thân trong số những người bạn thân của Anh, định cư tại Úc Đại Lợi là xứ sở của những con Kangaroo. Kangaroo, tiếng Việt, hay tiếng Hán Việt, dịch là đại thử. Tôi không đủ kiến thức khoa học để biết con chuột và con Kangaroo giống nhau hay khác nhau như thế nào, nhưng nói một cách đại khái thì con Kangaroo lớn lắm và hình thù như thấy trong tranh ảnh thì có hơi giống con Chuột một phần nào nên gọi nó là đại thử thì thật là phải. Nhưng cũng mới sau này, một người bạn khác là ông Đỗ Thông Minh, gốc là người Việt Nam nhưng cư ngụ tại Nhật đã lâu năm, có soạn từ điển Việt Nhật - Nhật Việt song ngữ, rất lớn, cho biết "đại" ở đây là "cái túi", không phải là "lớn"; phải là người có biết đọc chữ Hán mới phân biệt được. 



Đại thử, như vậy không phải là một bí mật, như là “yển thử” nói trên, mà là một điều lầm lẫn mà nhiều người (trong số đó có tôi) đã phạm. Cũng tại chúng ta đã quen dùng chữ abc cũng gọi là “quốc ngữ”, mà không còn dùng chữ Hán như người Nhật vẫn còn dùng một số kanji xen lẫn với chữ viết của họ. Sách học tiếng Nhật có tới 2000 chữ Hán hay kanji (Hán tự), hay nhiều hơn thế.



Quý bạn đọc tới đây xin đừng mất kiên nhẫn; xin đọc tiếp tục. Sau đây tôi sẽ cho biết Nghiêm Sỹ Tuấn là nhà Nho học hay Hán học, có thể là cỡ lớn nếu giờ này Anh còn sống trên trần gian. Tôi nghĩ là nói quanh co về mấy chữ Hán này là nhập đề rất thích hợp để mở đầu một bài tưởng niệm Nghiêm Sỹ Tuấn. Và nếu còn sống Anh đã nói cho tôi biết thế nào là yển thử, thế nào là đại thử, vân vân…







2. Nghiêm Sỹ Tuấn học chữ Hán có thể từ ông nội, hoặc có thể từ ông ngoại. Có thể cả hai Cụ là những nho sinh đã dự kỳ thi cuối cùng tại Nam Định năm 1915, như Nguyễn Tuân đã tả trong Vang Bóng Một Thời, nhưng có thể là đã không đỗ, và 30 năm sau, năm 1945, vẫn còn sống trong thanh bạch, vẫn còn nhớ chữ Hán, vẫn còn thương chữ Hán, vẫn còn muốn dậy chữ Hán, và môn sinh chẳng ai khác lạ hơn là cậu cháu trai đầu lòng Nghiêm Sỹ Tuấn.

Thứ Sáu, 4 tháng 9, 2026

Vũ Thất và đời thủy thủ

Trần Thị Nguyệt Mai 

Giới thiệu tác phẩm


Tháng 5/2026 vừa qua, nhà văn Vũ Thất đã hoàn thành cuốn 3 cũng là cuốn cuối cùng trong bộ truyện Đời Thủy Thủ của ông. Nếu kể từ cuốn đầu tiên, phát hành vào năm 1969, cho đến khi cuốn này hoàn thành, ông đã trải qua 57 năm ròng rã. Giữa khoảng thời gian đó, là những chuyến hải hành, giữ gìn biển đảo miền Nam cho đến thời điểm cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa vào tháng 4/1975. Tiếp đó là 9 năm “lao động vinh quang” trong những trại tù với mỹ danh “học tập cải tạo” từ Bắc chí Nam cho đến khi được phóng thích. Nhờ chuyến hải hành cuối cùng bằng ghe tắc ráng, ông đã đến trại tỵ nạn Pulau Bidong ở Mã Lai vào cuối năm 1984. Sau hơn 6 tháng, ông được đoàn tụ bên vợ và hai con tại Hoa Kỳ năm 1985. Tiếp nối là những ngày “làm lại cuộc đời”: đi học, đi làm không ngơi nghỉ để lo cho cuộc sống gia đình. Đến lúc nghỉ hưu, ông mới có dịp quay về với niềm vui chữ nghĩa để viết tiếp Đời Thủy Thủ 2 – tháng 3/2023 và hoàn tất Đời Thủy Thủ 3 vào tháng 5/2026.


Thứ Năm, 3 tháng 9, 2026

Đằng sau trận ‘Sóng thần’ ở Nepal _ Trùng Dương



Lời Dẫn Nhập: Trận lũ thảm khốc tại Nepal ngày 26 tháng 8 không nên được hiểu là hậu quả trực tiếp của một dự án hạ tầng cụ thể. Đây là một thảm họa tự nhiên, khởi phát từ sự sụp đổ của băng, đá và sườn núi trong một hệ thống Himalaya đang biến đổi nhanh chóng. Bài viết này không quy kết nguyên nhân cho Medog hay bất kỳ công trình nào khi chưa có bằng chứng khoa học xác lập mối quan hệ nhân quả. Nhưng thảm họa tự nhiên ấy đặt ra một cảnh báo lớn hơn. Himalaya đang chứng kiến sự mở rộng nhanh chóng của đường sá, đường hầm, thủy điện và các công trình hạ tầng quy mô lớn. Mỗi dự án có thể được đánh giá riêng lẻ là chấp nhận được; nhưng tác động cộng tích hợp của nhiều dự án trên một hệ thống tự nhiên đang bất ổn có thể làm gia tăng mức độ phơi nhiễm, tính dễ tổn thương và quy mô thiệt hại và chồng chất khi thiên tai xảy ra. Vì vậy, câu hỏi không phải là con người có gây ra trận lũ hay không, mà là: Chúng ta có đang xây dựng và can thiệp vào một hệ thống tự nhiên nhanh hơn khả năng hiểu, đánh giá và kiểm soát những hậu quả của chính mình? Trái Đất đang phát tín hiệu qua băng hà tan chảy, sạt lở, lũ cực đoan và những biến động ngày càng khó dự đoán. Thiên tai có thể bắt đầu từ tự nhiên; nhưng con người có thể làm cho hậu quả lớn hơn. Trong Kỷ nguyên Nhân sinh, thông điệp ấy cần được lắng nghe: Trái Đất đã lên tiếng. Con người phải biết lắng nghe trước khi tiếp tục mở rộng giới hạn của mình. VEP 




Hình 1: chụp lại một khúc phim của Đài Truyền hình Trung Hoa CCTV ghi lại giây phút thành phố Gyirong ở Tây Tạng tại biên giới với Nepal bị cơn lũ gồm bùn với đá ập xuống từ núi cao, ngày 26 tháng 8, 2026. (Ảnh Wikimedia Commons) Cũng tại địa điểm này, ngày 8 tháng 7, 2025 đã xẩy ra một vụ lũ do một cái hồ tạo bởi sông băng bị mưa tràn.

 

Sáng ngày 26 tháng 8 năm 2026, vùng biên giới Nepal–Tây Tạng bỗng biến thành một hành lang chết chóc. Một khối băng khổng lồ sụp đổ trên cao nguyên Himalaya, kéo theo đá núi và nước tan tràn xuống các thung lũng bên dưới. Chỉ trong thời gian rất ngắn, dòng nước bùn ấy phình to thành một trận lũ dữ dội—một thứ “sóng thần trên núi”—cuốn phăng cầu cống, đường sá, nhà cửa, trạm biên phòng và toàn bộ những khu dân cư nằm dọc theo các con sông. Những gì còn lại sau đó là một cảnh tượng gần như không thể nhận ra: làng mạc bị xóa khỏi bản đồ, nhà máy điện bị chôn vùi, xe cộ nằm chỏng chơ giữa bùn đá, còn những gia đình sống sót thì đứng bên bờ sông, ngóng tìm một bóng người quen thuộc.

 

Thảm họa không chỉ xảy ra trong phạm vi Nepal. Dòng lũ từ vùng núi cao đã quét qua cả phía Tây Tạng(bị Trung Quốc chiếm đóng từ năm 1959) rồi đổ xuống Nepal, đặc biệt tại các huyện Rasuwa và Nuwakot. Tại một khu phức hợp nhập cảnh của Trung Quốc gần cửa khẩu Gyirong–Rasuwagadhi, nhiều người đang chờ hoàn tất thủ tục để sang Nepal đã bị nước lũ bất ngờ ập tới. Trong số những người mất tích có một đoàn 49 tín đồ Ấn Độ trở về sau chuyến hành hương núi Kailash. Người thân của họ vượt hàng ngàn cây số để tìm kiếm, đi qua các trung tâm cứu trợ, nhà xác và những vùng bị tàn phá, nhưng nhiều người vẫn chưa có tin tức. Tính đến ngày 31 tháng 8, Nepal ghi nhận 903 người thiệt mạng và 4.247 người mất tích, trong đó có 592 người nước ngoài. Phía Trung Quốc báo cáo 16 người chết và 546 người mất tích, gồm hơn một trăm người Nepal. 


 


Hình 2: Bahrabise Bazar, Nepal, trước và sau trận lũ do băng lở giết chết hàng trăm người với hàng ngàn vẫn còn mất tích, ngày 26 tháng 8, 2926. (Ảnh Wikimedia Commons)

 


Nhưng phía sau những con số khủng khiếp ấy còn có một cuộc tìm kiếm âm thầm và tuyệt vọng hơn: cuộc giải cứu hàng trăm công nhân đang bị mắc kẹt trong các đường hầm thủy điện. Hiệp hội các nhà sản xuất điện độc lập Nepal ước tính khoảng 900 công nhân tại 12 dự án thủy điện đã mất liên lạc; trong số đó, khoảng 500 người được cho là đang ở bên trong những đường hầm bị bùn, đá và nước lũ phong kín. Riêng dự án Upper Trishuli-1 tại Rasuwa có khoảng 576 người mất tích, với gần 300 người được tin là đang bị kẹt dưới lòng núi. Tại Trishuli-3, các đội cứu hộ phải đào sâu khoảng 15 mét để tìm đường tiếp cận những người sống sót.

Người phụ nữ đằng sau luật An Sinh Xã Hội của Hoa Kỳ

Trùng Dương 

Ít người Mỹ hôm nay, và có lẽ còn ít người Việt hải ngoại hơn, biết rằng tấm chi phiếu An Sinh Xã Hội (Social Security) mà chúng ta — những người đã bỏ nửa đời lao động trên đất Mỹ — nhận được hằng tháng, phần lớn là di sản của một người đàn bà mảnh khảnh, đội mũ ba góc, ăn nói nhỏ nhẹ nhưng cương quyết đến cùng.

Bà tên là Frances Perkins, là người phụ nữ đầu tiên giữ chức Bộ trưởng Lao Động trong lịch sử Hoa Kỳ, và cũng là người phụ nữ đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ giữ một ghế trong nội các tổng thống. Bà phục vụ suốt 12 năm, từ 1933 đến 1945, dưới thời Tổng thống Franklin D. Roosevelt — trọn vẹn bốn nhiệm kỳ của ông, xuyên qua cơn Đại Khủng Hoảng và Thế Chiến Thứ Hai.

Nhưng trên hết, bà là kiến trúc sư thầm lặng của cả một nền tảng an sinh mà nước Mỹ vẫn đang đứng trên đó cho đến hôm nay.

Bà Frances Perkins, trái, phục vụ với tư cách Bộ trưởng Bộ Lao Động Hoa Kỳ suốt bốn nhiệm kỳ của Tổng thống Franklin D. Roosevelt, từ 1933 tới 1945. Phải, Tổng thống Roosevelt ký Luật An sinh Xã hội ngày 14 tháng 8, 1935, với bà Perkins (thứ ba từ phải) chứng giám, tạo nên nền tảng an sinh xã hội mà nước Mỹ đứng trên đó cho đến ngày hôm nay. (Ảnh Wikipedia)

Đám cháy làm thay đổi một đời người

Muốn hiểu Frances Perkins, phải bắt đầu từ một buổi chiều thứ Bảy cuối tháng Ba năm 1911, tại Manhattan thuộc tiểu bang New York.

Hôm ấy bà đang dùng trà tại nhà một người bạn ở Washington Square, khi bên ngoài chợt vang lên tiếng còi xe cứu hỏa dồn dập. Bà và những người có mặt chạy ra phố, và trước mắt họ là một cảnh tượng không thể nào quên: tòa nhà Asch, nơi đặt xưởng may Triangle Shirtwaist, đang bốc cháy dữ dội. Các cửa thoát hiểm đều bị khóa, do chủ xưởng khóa lại để ngăn công nhân, phần lớn là các cô gái trẻ người Do Thái và Ý di dân, nghỉ tay hay ăn cắp vải. Không có lối thoát, hàng chục cô gái đã chọn nhảy từ tầng chín, tầng 10 xuống đất, ngay trước mắt đám đông bất lực đứng nhìn. Trong đám người kinh hoàng đứng nhìn đó có bà Perkins, lúc đó 33 tuổi, hành nghề cán sự xã hội.

Thứ Hai, 31 tháng 8, 2026

Y SĨ TIỀN TUYẾN _ BÁC SĨ NGUYỄN VĂN QUÝ VÀ TRẬN CHIẾN AN LỘC 1972

 Nhật ký An Lộc _ Y Sĩ Tiền Tuyến Nguyễn Văn Quý, 

86 ngày đêm của một bác sĩ giải phẫu tại mặt trận

NXB Văn Nghệ, 2002, 445 trang, ISBN 1886566984.



BS Nguyễn Văn Quý, tác giả cuốn "Nhật ký An Lộc", và vợ và BS Thân Trọng An, Chủ bút Tập San Y Sĩ trong buổi lễ kỷ niệm 50 năm Chiến Thắng An Lộc, được tổ chức ngày 12 tháng 5 năm 2022 tại Quận Cam, USA. [tư liệu BS Thân Trọng An]