NGUYỄN VĂN TUẤN
Sự ra đi của thi sĩ Phạm Thiên Thư ở tuổi 86 khép lại một đời thơ tài hoa, nơi đạo và đời, tình yêu và vô thường, mộng và thực luôn quyện vào nhau.
Các tư liệu ghi rằng ông tên thật là Phạm Kim Long, sanh năm 1940 tại Hải Phòng, rồi vào miền Nam định cư từ thuở thiếu niên. Năm 24 tuổi, ông vào chùa tu học và trở thành tu sĩ. Gần mười năm sau, ông hoàn tục, sống đời cư sĩ.

Ông để lại cho đời rất rất nhiều câu thơ. Theo Nhà văn Võ Phiến thì ông đã viết “ngót chục vạn câu thơ”. Nói theo tiếng Anh, ông là người prolific. Làm sao ông có thể viết nhiều thơ đến như vậy? Trong một lần trả lời phỏng vấn trên tạp chí Bách Khoa, ông cho biết là có 3 yếu tố giúp ông sáng tác: thiên nhiên, tĩnh lặng, và quán cà phê. Có lẽ chính vì thế mà sau 1975 ông mở quán cà phê Hoa Vàng?
Hành trình sống của ông đã góp phần làm nên phong cách thơ rất riêng của Phạm Thiên Thư: đạo và đời quyện vào nhau, tình yêu và vô thường soi chiếu lẫn nhau. Ông đã thi hóa kinh Pháp Cú bằng thể lục bát, chuyển một bộ kinh vốn không dễ hiểu thành những câu thơ thuần Việt, dung dị, gần gũi với tâm hồn người đọc.
Nguyễn Du có Đoạn Trường Tân Thanh. Phạm Thiên Thư có Đoạn Trường Vô Thanh [1], một công trình trường thi mà ngày nay có lẽ không còn được nhắc đến nhiều như trước. Tác phẩm gồm 3290 câu lục bát, được xem như một tập Hậu Truyện Kiều, ra mắt năm 1969. Vài năm sau, vào năm 1973, tác phẩm được trao giải thưởng văn học toàn quốc. Chỉ cần đọc vài câu mở đầu cũng thấy được phong vị thơ của ông:
Lòng như bát ngát mây xanh
Thân như sương tụ trên cành Đông mai
Cuộc đời – chớp loé, mưa bay
Càng đi, càng thấy dặm dài nỗi không
Thân Tâm Bệnh – nghiệp trần hồng
Lênh đênh trầm nguyệt, bềnh bồng phù vân
Giam trong Tài, Mệnh, Giả, Chân
Trăm năm hồ dễ một lần bay cao
Đau lòng chuốt tiếng đàn nao
Năm cung nước chảy lại chao phận mình
Đời Kiều trải mấy nhục vinh
Ngã, Nhân đã vượt, thế tình đã qua
Đoạn Trường sổ gói tên Hoa
Xưa là Giọt Lệ – nay là Hạt Châu

Tác giả mượn thể thơ lục bát và Truyện Kiều để nói chuyện vô thường, nghiệp, thân phận và giải thoát. Cái hay là ngôn ngữ rất Việt, nhưng bên dưới lại có chiều sâu Phật học. Những câu thơ đi từ thân phận mong manh đến ý thức vô thường, rồi từ nỗi lênh đênh của kiếp người đến khát vọng vượt thoát. Không có giảng đạo trực tiếp. Tác giả để đạo lí thấm vào hình ảnh: mây xanh, giọt sương, chớp loé, mưa bay, trăng chìm, mây nổi. Vì vậy thơ ông có vẻ rất nhẹ, nhưng đọc kĩ lại thấy rất sâu.






