Nguyễn Duy Chính
Sinh năm 1941 tại Kẻ Sặt Hải Dương
1954: Di cư vào Nam – Học sinh các trường Văn Hóa, Văn Lang, Hàn Thuyên, Chu Văn An
1962: Công chức Nha Trước Bạ
1979: Định cư tại Pháp và làm việc tại Sở Xã Hội
Nay: Về hưu viết và dịch sách
Cùng một tác giả đã xuất bản:Trước 1975:ĐỨA CON NGƯỜI YÊU (dịch chung với Văn Hòa – Sống Mới Sài Gòn)
Năm 1988:LIÊU TRAI CHÍ DỊ (Nhà xuất bản Văn Hóa Hoa Kỳ)
Năm 1997:HẬU LIÊU TRAI (Nhà xuất bản Văn Hóa Hoa Kỳ)
Năm 2002:THIẾP BẠC MỆNH (Nhà xuất bản Văn Hóa Hoa Kỳ)
Tác phẩm tự xuất bản (rất ít) dưới dạng bản thảo:Năm 2009: THÚY THÚY TRUYỆN
PHÉP DÒNG CHỊ EM MẾN CÂU RÚT ĐỨC CHÚA GIÊ SU
(Phiên âm bản nôm văn xuôi bản khắc năm 1869) Năm 2011: CHIÊU QUÂN TÂN TRUYỆN
(Phiên âm bản nôm khắc năm 1922, truyện thơ của Thanh Tòng Nguyễn Tiến Khang) THÁNH GIÁO YẾU LÝ QUỐC NGỮ
(Phiên âm bản nôm khắc năm 1774 của Pigneau de Béhaine) Năm 2014: TẠP VĂN
Năm 2017:TRUNG QUỐC NIÊN BIỂU (Từ Tần đến nhà Tấn)
Năm 2019:SỔ TAY CHỮ HÁN – Nhân vật và từ ngữ
SỔ TAY NHÂN VẬT TRUNG QUỐC
Anh Phạm Xuân Hy, anh Nguyễn Vinh Quang và Nguyễn Duy Chính
(26-06-2005)
Tôi biết anh Phạm Xuân Hy khá trễ qua sự giới thiệu của anh Đỗ Tiến Đức, báo Thời Luận. Anh Phạm Xuân Hy lớn hơn tôi 6 tuổi, lại ở bên Pháp lâu lâu mới qua Mỹ một lần nên tôi không có dịp làm quen.
Trong cộng đồng người VN tại Nam Cali, số người am tường Hán văn không nhiều và phần lớn kín đáo chỉ sinh hoạt trong thế giới riêng của mình, ít khi trao đổi với người khác. Thành thử tôi biết anh Đức đã lâu nhưng phải đến khoảng 20 năm sau mới gặp anh Hy trong một dịp anh chị Hy sang Cali thăm thân nhân, bạn bè.
Tuy nhiên chỉ sau lần đầu gặp gỡ chúng tôi đã thân mật như quen biết từ lâu, một phần những người anh chị Hy quen biết thì không ít người tôi cũng đã giao thiệp, phần khác cái đồng cảm là cả tôi lẫn anh Hy đều thích đọc chữ Hán, có những điểm chung về kho tàng Hán văn.








