LGT: Tác giả bài này là 1 kỹ sư địa chất trong nước với kinh nghiệm thực tế nên có thẩm quyền để viết về đề tài nhạy cảm này vì mỗi quan tâm với an ninh nguồn nước cho đồng bào cũng hệ sinh thái của miền Bắc Trung bộ Việt Nam.
Sông Mã không chỉ chảy trong thi ca với "khúc độc hành" bi tráng của đoàn quân Tây Tiến năm xưa. Ngày nay, dòng sông huyền thoại ấy đang thực sự gầm lên trong một cơn bức tử mới: Cơn bức tử từ thạch tín (Arsen). Suốt 10 năm qua, trong khi dư luận mải mê với những thị phi phù phiếm, thì hàng triệu lít hóa chất từ các mỏ đất hiếm tại vùng "đất cũ" Trấn Biên đã và đang âm thầm nhuộm độc huyết mạch của dải đất miền Trung. Đây không còn là lời cảnh báo, đây là một thảm họa hiện hữu.
Sự ra đi của thi sĩ Phạm Thiên Thư ở tuổi 86 khép lại một đời thơ tài hoa, nơi đạo và đời, tình yêu và vô thường, mộng và thực luôn quyện vào nhau.
Các tư liệu ghi rằng ông tên thật là Phạm Kim Long, sanh năm 1940 tại Hải Phòng, rồi vào miền Nam định cư từ thuở thiếu niên. Năm 24 tuổi, ông vào chùa tu học và trở thành tu sĩ. Gần mười năm sau, ông hoàn tục, sống đời cư sĩ.
Ông để lại cho đời rất rất nhiều câu thơ. Theo Nhà văn Võ Phiến thì ông đã viết “ngót chục vạn câu thơ”. Nói theo tiếng Anh, ông là người prolific. Làm sao ông có thể viết nhiều thơ đến như vậy? Trong một lần trả lời phỏng vấn trên tạp chí Bách Khoa, ông cho biết là có 3 yếu tố giúp ông sáng tác: thiên nhiên, tĩnh lặng, và quán cà phê. Có lẽ chính vì thế mà sau 1975 ông mở quán cà phê Hoa Vàng?
Hành trình sống của ông đã góp phần làm nên phong cách thơ rất riêng của Phạm Thiên Thư: đạo và đời quyện vào nhau, tình yêu và vô thường soi chiếu lẫn nhau. Ông đã thi hóa kinh Pháp Cú bằng thể lục bát, chuyển một bộ kinh vốn không dễ hiểu thành những câu thơ thuần Việt, dung dị, gần gũi với tâm hồn người đọc.
Nguyễn Du có Đoạn Trường Tân Thanh. Phạm Thiên Thư có Đoạn Trường Vô Thanh[1], một công trình trường thi mà ngày nay có lẽ không còn được nhắc đến nhiều như trước. Tác phẩm gồm 3290 câu lục bát, được xem như một tập Hậu Truyện Kiều, ra mắt năm 1969. Vài năm sau, vào năm 1973, tác phẩm được trao giải thưởng văn học toàn quốc. Chỉ cần đọc vài câu mở đầu cũng thấy được phong vị thơ của ông:
Lòng như bát ngát mây xanh
Thân như sương tụ trên cành Đông mai
Cuộc đời – chớp loé, mưa bay
Càng đi, càng thấy dặm dài nỗi không
Thân Tâm Bệnh – nghiệp trần hồng
Lênh đênh trầm nguyệt, bềnh bồng phù vân
Giam trong Tài, Mệnh, Giả, Chân
Trăm năm hồ dễ một lần bay cao
Đau lòng chuốt tiếng đàn nao
Năm cung nước chảy lại chao phận mình
Đời Kiều trải mấy nhục vinh
Ngã, Nhân đã vượt, thế tình đã qua
Đoạn Trường sổ gói tên Hoa
Xưa là Giọt Lệ – nay là Hạt Châu
Tác giả mượn thể thơ lục bát và Truyện Kiều để nói chuyện vô thường, nghiệp, thân phận và giải thoát. Cái hay là ngôn ngữ rất Việt, nhưng bên dưới lại có chiều sâu Phật học. Những câu thơ đi từ thân phận mong manh đến ý thức vô thường, rồi từ nỗi lênh đênh của kiếp người đến khát vọng vượt thoát. Không có giảng đạo trực tiếp. Tác giả để đạo lí thấm vào hình ảnh: mây xanh, giọt sương, chớp loé, mưa bay, trăng chìm, mây nổi. Vì vậy thơ ông có vẻ rất nhẹ, nhưng đọc kĩ lại thấy rất sâu.
Tôi đã trình bày trên Tiếng Dân và nhiều diễn đàn trực tuyến về niềm lo ngại về các mỏ đất hiếm bên Lào thải ra những chất độc đe dọa an ninh nguồn nước cho 10 triệu dân cư và hệ sinh thái của 3 dòng sông, sông Mã, sông Chu, và sông Lam ở Việt Nam. Tạp chí chuyên đề về môi sinh Mongabay cũng đã giúp công bố bài báo tôi viết về mối quan tâm này để cộng đồng quốc tế chú ý.
Tôi không thể ngừng lại vì xét thấy thêm là lưu vực 3 sông Mã, sông Chu, và sông Lam của Việt Nam là vùng sẽ hứng chịu ô nhiễm nặng nề nhất Đông Nam Á. Việt Nam tuy nằm dưới vài chục mở từ Lào nhưng sẽ hứng chịu nguy hiểm nặng nề hơn Thái Lan, Lào, và Cam Bốt mặc dù những nước này nằm dưới hàng ngàn mỏ từ Miến Điện.Ba dòng sông Mã, sông Chu , và sông Lam tại miền Trung Việt Nam không được quốc tế chú ý nhiều vì về địa lý chỉ là mảnh ghép nhỏ trong bức tranh toàn cảnh về việc khai thác đất hiếm trên toàn khu vực Đông Nam Á. Trên thực tế cho đến nay tôi vẫn chưa tìm thấy một báo cáo nào về hàm lượng arsenic trong 3 dòng sông này của Việt Nam mặc dù một vụ chất độc bị rò rỉ từ các mỏ đất hiếm tại Houaphanh đã xảy ra từ tháng hai 2024 cho đến nay vẫn không được quan tâm.
Vì tìm hiểu thêm tôi đã giật mình khi nhận ra miền Trung Việt Nam có thể lại là vùng cần được quan tâm nhất hơn cả Mekong và Salween vì những yếu tố sau đây:
Myanmar hiện có khoảng 27 mỏ đất hiếm nằm ở thượng lưu sông Salween, tập trung chủ yếu tại điểm nóng Mong Pawk. Trong khi đó, theo bản đồ mới nhất của Trung tâm Stimson, Lào hiện có không ít, 21 mỏ đất hiếm nằm tại vùng thượng nguồn của các sông Mã , Chu, Lam. Do đó Việt Nam cần quan tâm về các dòng sông của mình không kém Thái Lan đã hết sức quan tâm về dòng sông của họ.
Tất cả 21 mỏ ở Lào đều sử dụng quy trình khai thác rất hiếm bằng phương pháp "ngâm chiết tại chỗ" (in-situ leaching) Trung Quốc sử dụng tại Myanmar và Lào, quy trình này được xem là quy trình độc hại nhất khai thác mỏ.
Tổng số lưu lượng của 3 dòng sông trên ở Việt Nam đạt khoảng 41 km³ mỗi năm, so với mức 210 km³ của sông Salween, với lưu lượng ít hơn sẽ làm hàm lượng arsenic trong các dòng sông Việt Nam cao hơn sông Salween nhiều. Việt Nam do do cần phải quan tâm với các dòng sông của mình nhiều hơn Thái Lan đang quan tâm về dòng sông của họ.
Chiều dài 3 dòng sông của Việt Nam lại ngắn hơn sông Salween do đó arsenic với hàm lượng cao hơn sẽ chảy nhanh hơn xuống tiếp cận dân cư. Việt Nam lại có mật độ dân số cao hơn nhưng có ít thì giờ để đối phó với ô nhiễm từ Lào.
Arsenic là 1 độc tố tích lũy sinh học (bioaccumulative) thầm lặng, có mức độ an toàn tối đa trong nước rất thấp (0,01 kg/liter.) trong khi dân cư lưu vực trực tiếp sự dụng nước sông sinh hoạt và đánh bắt ngư sản để tiêu thụ và làm kế sinh nhai.
Báo cáo mới nhất cho Thái Lan về sông Salween“Các chuyên gia khuyến cáo dân cư không tiêu thụ Sinh vật thủy sinh trên sông Salween” vì ốc sên ở đó đã nhiễm độc arsenic trầm trọng từ những mỏ đất hiếm của Miến Điện. Các chuyên gia đã tổ chức diễn đàn và công bố kết quả xét nghiệm vào ngày 3 tháng 5 cho thấy ốc sên Salween bị ô nhiễm kim loại nặng ở mức cao gấp 10-20 lần so với giới hạn an toàn. Các xét nghiệm trước đó cũng đã phát hiện ô nhiễm asen trong nước sông vượt quá ngưỡng tiêu chuẩn.
Tôi không muốn làm người gieo rắc hoang mang, không muốn tai họa xảy ra, nhưng những yếu tố trên và khả năng tác động tích hợp của chúng sẽ có khả năng biến Bắc Trung Việt việc thành vùng hứng chịu ô nhiễm arsenic nặng nề nhất Đông Nam Á.
Bóng Đêm lẽ ra in trước Mây Bão, Gió Mùa sẽ là tập thứ ba của một thiên tiểu thuyết dài trong đó diễn biến thời gian và câu chuyện hoàn toàn bị xáo trộn, người đọc chỉ còn thấy sự nhầt trí của một khung cảnh và ý hướng người viềt. Chú chết, về ngay.... Read more
Con sông Mekong như mạch sống đã và đang ngày một gắn bó với tương lai vận mệnh của các quốc gia Đông Nam Á mà Việt Nam lại là quốc gia cuối nguồn. Đã qua rồi thời kỳ hoang dã của con sông dài 4200 cây số chảy qua lãnh thổ của bảy nước - kể cả Tây Tạng, mà ngót một nửa chiều dài là chảy trên lãnh thổ Trung Quốc. ... Read more
And then came what had been expected. The day of returning to Vietnam had definitely arrived. A few weeks ago several people had advised that I stay on. They said that if I wanted they would even help me escape to Canada. I had wavered ambivalently between two alternatives. On the one hand stood the appeal of a new way of life, free and comfortable; on the other, lay the deep longing for my grey-haired mother, for the breeze rustling through a bamboo grove, and for the delicately pungent smell of a bowl of pho, beef noodle soup – an indescribable, tender emotion. And above all, I was reminded of an utterance from the short dialogue between Doctor Rieux and Rambert in Camus' work The Plague: "There is no shame in preferring happiness, but there may be shame in choosing happiness for oneself alone.”
Ton Kan, The First-Lieutenant Marine M.D., an autobiography (Journal of Vietnamese Physicians in Canada, 1993), pp. 94-9
Seen against a misty background imprinted with the distant Golden Gate Bridge, tourist-packed and passengers spilling over its sides, the cable car announced itself with clinking sounds as it descended a steep hill. That sight seemed to Phan the hallmark of San Francisco, a sight which had not changed from its image on the postcard sent many years earlier from this refined and beautiful city. Fifteen years after mailing that postcard, Phan could not believe he had returned to this scenery. It all felt unreal to him, the unreality having its origins in evoked images of a journey taken during that time long past.
Thế rồi, cái gì phải đến cũng đến. Ngày trở về Việt Nam đã tới. Mấy tuần trước đó có vài người khuyên tôi nên ở lại. Nếu tôi muốn họ sẽ giúp tôi trốn sang Canada. Tôi lưỡng lự mãi. Một bên là cám dỗ của một đời sống mới, tự do và đầy đủ tiện nghi. Một bên là nỗi nhớ nhung, mái tóc bạc của bà mẹ già, ngọn gió rì rào trong bụi tre ngà, một tô phở nóng, một cái gì rưng rức khó tả. Và nhất là cuộc đối thoại ngắn ngủi giữa bác sĩ Rieux và Rambert trong La Peste của Camus : “Il n’y a pas de honte à préférer le bonheur, mais il peut avoir de la honte à être heureux tout seul”. Tôn Kàn, Quan hai lang tây lính thủy đánh bộ. (tr.94-95 TSYS 1993)
“Tân binh” Ngô Thế Vinh – Trung tâm Huấn luyện Quang Trung (1969)
Tiếng leng keng của chiếc tàu điện đang đổ dốc với chật ních du khách đứng lan cả ra thành tàu, trên một nền xa mờ thấp thoáng chiếc cầu Golden Gate: cảnh ấy như biểu tượng của Cựu Kim Sơn không đổi thay từ bao năm trên tấm Postcard gửi đi từ thành phố thanh lịch mỹ miều này. Từ ngày hôm ấy, mười lăm năm sau, chẳng thể nghĩ rằng hơn một lần Phan trở lại nơi đây. Cảm giác như không hề có thật.
Dự Án Thuận Thiên: Xử Lý Nước Sông và Bổ Sung Nước Ngầm
Tác giả: Phạm Phan Long
20 Tháng Tư , 2026
Lời giới thiệu:
Sau nhiều dự án lãng phí vì không đạt được mục đích mà còn gây thiệt hại nặng nề cho Đồng Bằng Sông Cửu Long, từ dự án ngọt hóa bán đảo Cà Mau hoàn toàn thất bại, dự án cống đập Ba Lai gây rối loạn toàn bộ hệ sinh thái, dự án thoát lũ ra biển Tây cắt mất lũ tự nhiên, nguồn phù sa dinh dưỡng và gây ra sạt lở và sụt lún. Dự án cống đập Cái Lớn Cái Bé có hiệu quả ngăn mặn ngắn hạn, nhưng làm ngọt mặn xáo trộn không đồng bộ với nhu cầu của đồng bằng. Vì thế công trình lớn nào đưa ra bây giờ đều cần phải cân nhắc tránh rủi ro, nhất là những rủi ro có thể thấy trước phải tránh né ngay từ đầu, hay phải có biện pháp giảm thiểu tối đa.
Trước tình trạng thừa phèn, thừa ô nhiễm, thừa nước mặn và thừa các công trình thủy hại, nhưng lại thiếu nước sạch, thiếu phù sa, thiếu chất dinh dưỡng và nhất là thiếu ngân sách.
Vũ Thiện Đạm sent me a message asking whether Vinh had heard this news yet: “Ngô Thế Vinh passed away around April 2024 (at the age of 83, according to some sources from the overseas literary community; the family followed his wishes and did not hold a funeral.” (Grok xAI, March 12, 2026)
Just recently, on a Thursday afternoon in the first week of March 2026, Vũ Thiện Đạm sent me a message with a note: “Vinh, remember to read the last part.” It was only a short conversation between Đạm and Grok — an xAI (x Artificial Intelligence) program created by Elon Musk, which many people praise as far superior to ChatGPT by OpenAI’s Sam Altman or Google’s Gemini by Sundar Pichai. Grok is considered powerful because it is directly connected to X (formerly the social network Twitter).
Before 1975, Vũ Thiện Đạm was my classmate at Saigon Medical School and also served as the treasurer of the Tình Thương Medical Students Magazine from its very first issue until its final one, when it was shut down by the government of General Nguyễn Cao Kỳ. Although Đạm held the title of treasurer, he never really knew anything about the accounting books or the editorial office’s expenses! Intelligent and academically gifted, with a somewhat heavy build, he was given a lifelong nickname by Nguyễn Thanh Bình — famous under the pen name Bát Sách — who humorously exaggerated his physique and called him “Đạm H.”
Đạm was very close to his friends in the Tình Thương editorial team, including Nguyễn Vĩnh Đức (RIP), the first editor-in-chief; Trần Xuân Dũng (RIP), the secretary general; as well as Trần Mộng Lâm, Nguyễn Thanh Bình, Đỗ Hữu Tước, and others. For Vũ Thiện Đạm, working on the magazine was mainly for fun, yet there was a time when he suffered an unexpected mishap simply while walking from his house to the editorial office.
Đạm’s house, at number 99, was just one townhouse away from theTình Thương office on Nguyễn Bỉnh Khiêm Street, near the Saigon Radio Station. Reflecting on that period more than 40 years later, Vũ Thiện Đạm wrote an article in theVietnamese Physicians Association Bulletin in Canada, issue 184 (January 2010), titled “Some Memories of theTình Thương Monthly.” Perhaps that was both the first and the last article ever written by the student journalist Vũ Thiện Đạm.
*
Left: the townhouse of Vũ Thiện Đạm at No. 99, one house away from No. 101; behind the bushes is the editorial office of Tình Thương at 103 Nguyễn Bỉnh Khiêm Street. Right: a photo taken in front of the Tình Thương editorial office; from left to right: Bùi Thế Hoành (RIP), Trang Châu, Ngô Thế Vinh, and Phạm Đình Vy (RIP). Two individuals held the most enduring positions and remained from the very first issue of Tình Thương to the last: Treasurer Vũ Thiện Đạm and Editor-in-Chief Phạm Đình Vy.
Vũ Thiện Đạm gửi một tin nhắn hỏi tôi, Vinh đã biết tin này chưa? “Ngô Thế Vinh đã qua đời vào khoảng tháng 4 năm 2024 ở tuổi 83theo một số nguồn tin từ cộng đồng văn học hải ngoại, gia đình thực hiện theo di nguyện không tổ chức tang lễ”.( Grok xAI, 12.03.2026 )
Chỉ mới đây thôi, vào một buổi chiều thứ Năm của tuần lễ đầu tháng Ba 2026, Vũ Thiện Đạm gửi cho tôi một tin nhắn với dặn dò: Vinh nhớ đọc đoạn cuối. Đó chỉ là buổi trò chuyện ngắn của Đạm với Grok – một chương trình xAI (x Artificial Intelligence) của Elon Musk, được nhiều người khen là hơn xa ChatGPT OpenAI của Sam Altman hay Gemini Google của Sundar Pichai. Sở dĩ Grok mạnh vì kết nối trực tiếp với X (tức là mạng xã hội Twitter trước đây).
[Ming Loyalists in Southeast Asia Claudine Salmon] Nguyễn Duy Chính dịch
Khi tìm hiểu về những làn sóng di cư xuống vùng Đông Nam Á, chúng ta thường tập trung vào những người được gọi là Minh hương đi thuyền xuống phía nam định cư ở rải rác nhiều khu vực mà chủ yếu là Hội An ở miền trung và Biên Hoà, Mỹ Tho ở phía nam. Ngay trong biên khảo khá công phu của Claudine Salmon, tác giả cũng chỉ hạn chế vào một số khu vực mà người di cư đến nguyên thuỷ là những người dân Trung Hoa chạy trốn không muốn sống dưới sự cai trị của người Mãn Châu nên đã dùng thuyền chạy xuống phía nam, một số sang nước ta, một số khác kết hợp thành những cộng đồng ở Batavia, Malacca, Banteng, Hà Tiên …
Thực ra, việc những người Trung Hoa di cư ra bên ngoài có rất nhiều nguyên nhân – sau khi cái khởi nguyên là yếu tố chính trị thì tiếp theo lại có những lý do khác phức tạp hơn nhiều. Họ xuống phía nam khi mà vùng đất rộng lớn này vẫn trong hoàn cảnh sứ quân cát cứ, mỗi lãnh chúa làm chủ một phương khiến cho tình hình có những sức bật mới, đóng góp không nhỏ và việc tạo ra những nhân vật lịch sử mà vai trò của cộng đồng di cư sách vở không mấy khi đề cập đến. Việc tường thuật lịch sử như một dòng sông có sẵn thực ra chưa hẳn như vậy. Những dòng nước tuỳ theo địa hình mà biến chuyển và trên con đường của nó lại được tiếp sức bởi những dòng suối, những trận mưa nhưng ít khi được ghi nhận.
Đầu thế kỷ XVIII, Mạc Cửu khai khẩn trấn Hà Tiên đồng thời người nước ta cũng vào vùng Đồng Nai khai khẩn. Tuy trên danh nghĩa, họ Mạc thần phục nước ta nhưng vẫn sinh hoạt như một tiểu quốc tự trị. Họ cũng liên lạc với nhà Thanh qua các văn thư của Tông Đức Hầu Mạc Sĩ Lân (tức Mạc Thiên Tứ) nhưng nhà Thanh cũng vẫn công nhận đất Hà Tiên thuộc về An Nam.
Bài viết này vốn dĩ định dùng làm phụ lục cho bản dịch Lộc Đỉnh Ký của Kim Dung nhưng vì một lý do ngoài ý muốn nên sau năm chương đầu chúng tôi không dịch tiếp. Một số bài viết khác về cuối đời Minh đầu đời Thanh như Thanh Binh Nhập Quan, Vụ Án Minh Sử, Hoạn Quan, Hương Phi … với cùng mục đích đã được in trong các tập hợp Núi Xanh Nay Vẫn Đó, Vó Ngựa và Cánh Cung[1]. Chính vì thế, thiên khảo cứu nhỏ này chủ yếu là để đọc khi nhàn tản vui chơi, không mang một mục tiêu cụ thể nào.
Bang hội và giáo phái xuất hiện trong tác phẩm của Kim Dung hoàn toàn là tiểu thuyết (fictional), không giống sự thật. Trên thực tế, những đoàn thể đó sinh hoạt mang tính tương trợ nhưng khi hoạt động như một xã hội bí mật thì lại đầy rẫy tội ác không có gì đáng cho chúng ta ca ngợi cả.
Về văn hiến, sách vở ghi chép hoạt động của họ cũng thực hư lẫn lộn và băng đảng vốn chống lại triều đình nên luôn luôn là những người ngoài vòng pháp luật cần phải diệt trừ. Tuy bộ truyện Lộc Đỉnh Ký miêu tả Thiên Địa Hội như một tập thể ái quốc đáng khâm phục nhưng thực tế như thế nào cũng còn phải tìm hiểu thêm. Trong hai ba thế kỷ vừa qua, không phải chỉ ở Trung Hoa mà ở nơi khác cũng có nhiều tổ chức cách mạng hoạt động không khác gì băng đảng. Ảnh hưởng của bang hội khiến cho người bản xứ ở những nơi họ hoạt động cũng sao chép lại một số định chế họ mang tới. Thật khó cho chúng ta khi nhiều tổ chức khởi đầu bất hợp pháp những về sau lại biến thành đoàn thể cách mạng mà ranh giới giữa hoạt động băng đảng và đấu tranh không có gì rõ rệt. Chính vì thế, việc điều chỉnh để từ những hoạt động mang tính “thảo khấu” sang thành một cơ cấu “điếu dân phạt tội” dễ gây tranh cãi khi phải phân chia giữa chính và tà. Có những tổ chức lúc đầu là giặc cướp, sau lại thành anh hùng và cũng có những đoàn thể khởi đầu với mục tiêu cao cả nhưng rồi sau lại thành hắc đạo.
Một điểm đáng quan tâm là Thiên Địa Hội được coi như một tổ chức với chủ trương “Phản Thanh phục Minh” nghĩa là với một mục tiêu chính trị rõ rệt. Tuy nhiên, khi đi sâu vào những hoạt động của họ, chúng ta lại thấy nó bắt rễ từ một quá khứ sâu xa hơn và được tổng hợp trong nhiều hình thái không liên quan gì đến cái ý nghĩa nguyên thuỷ đó. Lực lượng của họ phần chính yếu là do các hoạt động hải dương, nói trắng ra là những hoạt động buôn bán, bảo tiêu và nhiều hình thức bất hợp pháp khác.
Ở trên bộ, những hoạt động lại mang hình thức hội đảng Lương Sơn Bạc có khi lên đến hàng vạn người như Thiêm Địa Hội[2] ở Quảng Đông đời Gia Khánh. Rồi những băng đảng xã hội bán bí mật tại thành thị càng làm sự phân biệt thêm khó khăn. Chính vì thế, nếu tính về hoạt động lan toả của họ, sinh hoạt hội đảng không chỉ thu hẹp trong những hiện tượng chống lại người Mãn Châu đầu đời Thanh mà kéo dài qua nhiều thời kỳ khác, nhiều khu vực có người Hoa di cư đến. Nghiên cứu về sinh hoạt của các nhóm dân di cư không thể chỉ một bài viết nhưng cần những biên khảo sâu rộng hơn.
Chiếc Mũ Xanh màu lá cây rừng (trái), Phù hiệu Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù (phải)
Mỗi Quân nhân đều tự hào với màu cờ sắc áo của đơn vị mình. Binh chủng Nhảy Dù (ND) với chiếc Mũ Ðỏ, Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) Mũ Xanh màu nước biển, Biệt Ðộng Quân (BÐQ) Mũ Nâu, Thiết Giáp (TG) Mũ Ðen, và Lực Lượng Ðặc Biệt (LLÐB) hãnh diện với chiếc Mũ Xanh màu lá cây rừng (Green Beret), v.v... Ðối với các đơn vị tác chiến, nhất là các đơn vị Tổng trừ bị thì niềm kiêu hãnh này đã là chất xúc tác mạnh mẽ nâng cao tinh thần chiến đấu của đơn vị. Sau đây là câu chuyện của chiếc mũ mầu Xanh lá cây rừng (The Green Beret) LLÐBVN.
Tôi gặp anh Trần Hưng Việt ở Little Saigon, California. Anh đến từ Brisbane Úc châu, thuộc thế hệ du học sinh Colombo (những học sinh xuất sắc được gởi đi du học trước 1975). Tôi được biết anh mới làm một kênh YouTube chuyên đọc sách. www.youtube.com/@Đọctruyệnchọnlọc
Gần đây, anh giới thiệu truyện ngắn “Em Tôi” của nhà văn Phan Nhật Nam, một tác phẩm khiến nhiều người xúc động. Và rồi anh chọn Chương 4 trong cuốn hồi ức “Giấc mơ Kangaroo” của GS Nguyễn Văn Tuấn để giới thiệu về những tháng ngày khó quên trong trại tị nạn Songkhla, Thái Lan. Những câu chuyện buồn về người Việt hành hung, ăn hiếp lẫn nhau, về nạn tham ô len lỏi trong trại. Đó là những điều ai đã từng trải qua đều cảm nhận trong đau buồn nhưng họ thường giấu kín trong tâm tưởng.
Và mới đây, Anh Trần Hưng Việt và Cô Mỹ Dung giới thiệu bài "Con Đường Sách Sài Gòn và Câu chuyện Đốt sách" đã được đăng trên trang mạng của đài VOA 22/02/2018.
Giọng đọc của Anh và Cô Mỹ Dung nhẹ nhàng và truyền cảm, tiêu biểu cho miền Nam. Cảm ơn anh Trần Hưng Việt và Cô Mỹ Dung đã mang những trang sách đến gần với mọi người.
Mémoires de Phạm Duy, un musicien vietnamien dans un siècle tourmenté raconte l’histoire des triomphes, des scandales et des aventures du compositeur le plus prolifique du Vietnam. Né en 1921, Phạm Duy atteint l’âge adulte sous la domination coloniale, rejoint la résistance anti-française, puis devient une voix majeure de la République du Sud avant de venir aux États-Unis en exil après 1975. Ces mémoires en quatre volumes, traduits en anglais par Eric Henry avec clarté et soin, couvrent un siècle d’histoire vietnamienne tel qu’il a été vécu, chanté et interrogé par un conteur infatigable voué à la liberté d’expression.
La traduction nuancée de Henry restitue les complexités d’une vie vécue à travers des régimes, des idéologies et des continents. Tout au long de Mémoires de Phạm Duy, un musicien vietnamien dans un siècle tourmenté, les lecteurs rencontrent des souvenirs vivants d’artistes, de révolutionnaires, d’exilés et de la vie quotidienne — offrant un regard intime sur les intersections entre politique, culture et mémoire personnelle dans le Vietnam mouvementé du XXᵉ siècle. Le résultat est une archive culturelle rare, riche de paroles de chansons, de critiques politiques et de réflexions sur l’identité, l’exil et l’expression artistique.
À la fois profondément personnel et historiquement vaste, ce mémoire constitue un témoignage essentiel sur le Vietnam moderne et ses résonances à l’échelle mondiale.
Eric Henry est maître de conférences émérite au département d’études asiatiques de l’Université de Caroline du Nord. Il est le traducteur de The Garden of Eloquence.
Les mémoires emblématiques de Phạm Duy accomplissent un exploit rare : en humanisant les tumultes du XXᵉ siècle vietnamien, elles nous rappellent que tous n’en furent pas prisonniers. Une traduction essentielle et opportune. — Charles Keith, auteur de Subjects and Sojourners
Un important musicien vietnamien du XXᵉ siècle raconte son rôle dans la nouvelle musique apparue dans les années 1940, avec une profusion de détails sur les poètes, les compositeurs, les interprètes et les chansons — le récit d’une jeunesse peu intéressée par les événements politiques qui remplissent presque tous les autres ouvrages consacrés au Vietnam moderne. — K. W. Taylor, auteur de A History of the Vietnamese
ISBN-13 : 9781501785214 Date de publication : 15/05/2026 Pages : 336 Illustrations : 10 planches en demi-teintes noir et blanc Dimensions : 6 × 9 × 0 pouces
Memoirs of Phạm Duy, A Vietnamese Musician in a Turbulent Century tells the story of the triumphs, scandals, and adventures of Vietnam's most prolific songwriter. Born in 1921, Phạm Duy came of age during colonial rule, joined the anti-French resistance, and later became a major voice of the southern Republic before coming to the United States as an exile after 1975. This four-volume memoir, translated into English by Eric Henry with clarity and care, spans a century of Vietnamese history as lived, sung, and questioned by an unrelenting truthteller dedicated to freedom of expression.
Henry's nuanced translation captures the complexities of a life lived across regimes, ideologies, and continents. Throughout Memoirs of Phạm Duy, A Vietnamese Musician in a Turbulent Century, readers encounter vivid recollections of artists, revolutionaries, exiles, and everyday life—offering an intimate view into the intersections of politics, culture, and personal memory in Vietnam's turbulent twentieth century. The result is a rare cultural archive, rich with song lyrics, political critique, and reflections on identity, exile, and artistic expression.
At once deeply personal and historically expansive, this memoir is an essential record of modern Vietnam and its global resonances.
Eric Henry is Senior Lectutrer Emeritus inthe Deparptment of Asian Studies at the university of North Carolina. He is the translator of The Garden of Eloquence.
Phạm Duy's iconic memoir achieves a rare feat: by humanizing the tumult of Vietnam's twentieth century, it reminds us that not all were its captives. An essential and timely translation.
Charles Keith, author of Subjects and Sojourners
An important twentieth-century Vietnamese musician recounts his role in the new music that emerged in the 1940s with a storehouse of detail about poets, composers, performers, and songs, a youth uninterested in the political events filling nearly every other book about modern Vietnam.
K. W. Taylor, author of A History of the Vietnamese