Giải thích thế nào về một cảm giác lơ lửng, lâng lâng như say sau khi đọc tuyển tập “Đi Vào Cõi Tạo Hình II” của họa sĩ Đinh Cường (1939-2016)? Khi tôi khép sách lại và vài ngày sau lại mở ra đọc lại, và rồi lại ngưng vài ngày rồi đọc lại. Tôi bâng khuâng. Tôi lạc lối. Như đang bước trên mây. Thế giới trong sách như dường tách biệt với cõi đời đầy những xung đột thế gian quanh tôi. Cuốn sách đưa độc giả vào một thế giới cực kỳ thơ mộng và rất riêng tư của Đinh Cường.
Từng trang sách “Đi Vào Cõi Tạo Hình II” là một cuộc đi dạo với Đinh Cường trong một cõi của thơ, của tranh, của tượng, của mỹ thuật và của tình bạn nghệ sĩ. Tuyển tập II dày 180 trang, in trên giấy đẹp, dày để giữ hình ảnh, màu sắc của các họa phẩm gần như nguyên vẹn ở mức tối đa.
Chúng ta có thể nhắc rằng, trước đó, tuyển tập “Đi Vào Cõi Tạo Hình” (có thể hiểu là tập I) ấn hành năm 2015 là 16 bài viết của Đinh Cường viết về 16 họa sĩ/điêu khắc gia thành danh trước 1954: Lê Phổ, Lê Văn Đệ, Mai Thử, Nguyễn Gia Trí, Tôn Thất Đào, Nguyễn Đỗ Cung, Điềm Phùng Thị, Trương Thị Thịnh, Tạ Tỵ, Văn Đen, Nguyễn Văn Phương, Võ Đình, Bùi Xuân Phái, Thái Tuấn, Duy Thanh, Ngọc Dũng.
Và bây giờ, trong những tuần lễ cuối năm 2025, tuyển tập “Đi Vào Cõi Tạo Hình II” được ấn hành, gồm nhiều bài viết Đinh Cường viết về các họa sĩ/điêu khắc, và các nhà thơ có họa phẩm: Lê Thành Nhơn, Nguyễn Trung, Đỗ Quang Em, Nguyên Khai, Nguyễn Phước, Trịnh Cung, Mai Chửng, Lê Tài Điển, Hoàng Ngọc Biên, Nguyễn Trọng Khôi, Rừng, Âu Như Thuy, Choé, Thanh Trí, Tôn Thất Văn, Tôn Nữ Kim Phượng, Bửu Chỉ, Hoàng Đăng Nhuận, Dương Đình Sang, Nguyễn Đình Thuần, Khánh Trường, Du Tử Lê, Văn Cao, Bùi Giáng, Trịnh Công Sơn... Trong đó, Đinh Cường kể chuyện nhà thơ Du Tử Lê cuối đời cầm bút vẽ, và về nhà thơ Bùi Giáng trong một cơn đột hứng đã tự vẽ chân dung.
Cuối sách là bài của ba người viết khác: Ngô Thế Vinh viết về họa sĩ Nghiêu Đề, Đỗ Long Vân viết giới thiệu bằng tiếng Pháp cho lần triển lãm tranh sơn dầu Đinh Cường 1965 - Bửu Y dịch Việt Ngữ, và bài Trịnh Công Sơn viết cho lần triển lãm tranh Đinh Cường tại Đại Học Duyên Hải 1974.
Bản thân tôi là nhà báo, không chuyên môn về các lý thuyết hội họa và thi ca, chỉ cảm nhận theo tự nhiên như một độc giả, và có những suy nghĩ không tìm được chữ đầy đủ để mô tả. Tuyển tập II là các bài Đinh Cường viết về những người cùng thế hệ của ông, có thể hơn hay kém ông vài tuổi, cùng trưởng thành và thành danh trong bầu không khí nghệ thuật của Miền Nam VN, và một số người, trong đó có ông, có cơ duyên ra hải ngoại định cư.
Đinh Cường viết rất gần với đời sống, tránh những chữ bí hiểm về các lý thuyết hội họa mà nhiều nhà phê bình ưa sử dụng (may mắn, Đinh Cường cũng có lúc phê bình, nhưng không dùng các chữ khô khan để chúng ta phải dò trong tự điển). Tuyển tập “Đi Vào Cõi Tạo Hình II” của Đinh Cường là một trong những tập sách hiếm hoi cho thấy rõ hành trình nội tâm của một họa sĩ Việt Nam và thế hệ nghệ sĩ đồng thời đã sống và sáng tác giữa nhiều biến động lịch sử của quê nhà, và một đời sống sáng tạo luôn hướng về cái đẹp thuần khiết.
Tuyển tập “Đi Vào Cõi Tạo Hình II” không chỉ là tập hợp bài viết về hội họa. Nhìn chung, sách này giống như thế giới của chữ, nét vẽ, và màu sắc trên trang giấy, nơi Đinh Cường ghi lại những suy tư, hồi ức, kỷ niệm và những rung động rất riêng khi đối diện với nghệ thuật. Đinh Cường viết về bằng hữu nghệ sĩ, về những bức tranh, những buổi triển lãm, những cuộc gặp gỡ không quên, và viết về một cõi tạo hình nhẹ nhàng, thơ mộng như một hơi thở thiền, với cặp mắt lặng lẽ quan sát – chỉ nơi đó, Đinh Cường mới thực sự thấy mình đang sống.
Con trai Đinh Cường là Đinh Trường Giang, thay mặt mẹ và hai em, khi ấn hành “Đi Vào Cõi Tạo Hình II” đã giải thích trong Lời Thưa:
“Đây là những đoạn ghi của ba chúng tôi (như các đoạn ghi gọi là thơ) về cõi tạo hình, đã đăng trên các tạp chí, các trang mạng, không phải là sách chuyên môn có phân tích và nhận định mà chỉ thuần tình cảm chủ quan của tác giả với các họa sĩ đã từng gặp và tiếp xúc.
Tập II này viết về những họa sĩ cùng thời của ông từ 1957 đến 1966 thành lập Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam và vài bạn bè họa sĩ trẻ. Đáng tiếc là còn vài người ông chưa kịp viết bài trước khi qua đời, nên có thể xem đây là một công trình dang đở. Tuy nhiên chúng tôi vẫn muốn tập hợp các bài đã viết lại để in thành sách lưu giữ như một kỷ niệm.” (trang 7)
Đinh Cường là một nghệ sĩ đa tài, đa dạng. Chúng ta thấy họa phẩm của Đinh Cường vẽ theo phong cách trừu tượng, như tấm tranh dùng nơi trang bìa “Đi Vào Cõi Tạo Hình II”, như dường khác hoàn toàn với phong cách vẽ chân dung theo nét đen trắng như họa phẩm Lê Thành Nhơn qua nét vẽ Đinh Cường (trang 18), hay phong cách vật liệu hỗn hợp mixed media với Chân dung Đỗ Quang Em qua nét vẽ Đinh Cường (trang 35), cũng sẽ khác với phong cách Đinh Cường vẽ Bửu Chỉ với sơn dầu trên giấy (trang 99), và cũng rất khác với bức tranh Đinh Cường vẽ Bùi Giáng với sơn dầu trên giấy (trang 135), và nhiều tranh với các phong cách biến đổi khác. Như thế, hẳn là Đinh Cường đã vẽ theo cảm hứng, mỗi tranh mỗi phong cách khác.
Nhiều năm trước khi có hai tuyển tập "Đi Vào Cõi Tạo Hình" (I và II) của Đinh Cường, độc giả hải ngoại cũng từng đọc một số sách về mỹ thuật và phê bình hội họa của Huỳnh Hữu Ủy, trong đó tác giả họ Huỳnh đã nổi bật với hai tác phẩm:
- Nghệ thuật Tạo Hình Việt Nam Hiện Đại (VAALA xuất bản năm 2008)
- Mỹ Thuật Việt Nam Ngày Xưa (NXB Văn Mới, 2014)
Tuy nhiên, chủ đề và văn phong Huỳnh Hữu Ủy khác với Đinh Cường. Và do vậy, cả hai là hai chân trời bổ túc cho nhau. Bản thân tôi có cơ duyên đọc cả hai người. Trong khi nhà phê bình Huỳnh Hữu Ủy viết có chỗ khó hiểu hơn, khi nghiên cứu và phân tích về lịch sử mỹ thuật và các lý thuyết hội họa, họa sĩ Đinh Cường viết dịu dàng và thơ mộng hơn, nhiều chất gần với Thiền hơn.
Bên cạnh vai trò là một họa sĩ, một nhà thơ, Đinh Cường cũng là chứng nhân của một thời kỳ đầy biến động. Những trang viết của ông giúp người đọc hiểu hơn về đời sống nghệ thuật miền Nam trước 1975 và cộng đồng nghệ sĩ Việt ở hải ngoại sau này. Đinh Cường không viết về nghệ thuật như một đối tượng nghiên cứu, mà viết về nghệ thuật như một phần đời mình, như hơi thở, như máu thịt.
Có một điểm nổi bật trong các trang sách Đinh Cường là chất thơ và trân trọng với nghệ thuật và cuộc đời. Bạn sẽ cảm được chất thơ này đã ngấm vào trang giấy và phả hương khi chúng ta đọc từng dòng chữ. Và chất thơ này được nói lên một cách trân trọng và yêu thương, như khi Đinh Cường từ Virginia nói về cuộc triển lãm tại Sài Gòn cuối năm 2010 và đầu năm 2011 của họa sĩ Nguyễn Trung, “Không về xem được tận mắt, nơi xa này tôi vẫn theo dõi tin tức, bởi vì theo tôi đây là cuộc triển lãm đáng chú ý nhất của người bạn mà tôi đã được biết qua mấy chặng đường anh đã đi trong hội họa... Tranh Nguyễn Trung từ bao giờ cũng làm tôi xúc động bởi tình yêu tuyệt đinh của nghệ thuật.” (trang 20)
Họa sĩ Đinh Cường cũng nói về ước mơ làm những công trình sáng tác lớn của bản thân và bằng hữu. Khi viết về nhà điêu khắc Lê Thành Nhơn -- người nổi tiếng với hai pho tượng đồng khổng lồ, tượng cụ Phan Bội Châu và tượng Quan Thế Âm ở Huế), Đinh Cường viết về nhà điêu khắc cùng tuổi và cùng khóa mỹ thuật này, “101 Nguyễn Du, hiện nay là một building cao tầng, có một galerie triển lãm tranh đẹp. Đi ngang qua, vẫn nhớ Lê Thành Nhơn, với đáng đi lều khều, hơi chồm tới trước, vẻ mặt đầy tư lự, cười nói đùa giỡn cùng bạn bè. Và bao giờ cũng trở lại với những ước mơ làm công việc lớn... Mộng chưa thành...”(trang 16)
Có những tình thân hiếm hoi trong giới họa sĩ thời đó: mỹ thuật miền Nam Việt Nam không có nhiều người, đếm đi đếm lại các họa sĩ nổi tiếng không hơn 30 người (tôi ước tính, có thể không chính xác). Họa sĩ Rừng là bạn xưng hô mày-tao với họa sĩ Đinh Cường. Có những chi tiết không nhiều người biết: họa sĩ Rừng từng đi lính VNCH, rồi đào ngũ, bị quân cảnh VNCH bắt đưa ra chiến trường làm lao công đào binh. Đầu tháng 4/1975, họa sĩ Rừng bị Bắc quân bắt làm tù binh ở Ban Mê Thuột (trang 70-71). Đó là một thời kỳ xuất hiện rất nhiều tài năng, vì bản thân tôi thời mới lớn là người say mê đọc các truyện ngắn do họa sĩ Rừng sáng tác, ký tên là Kinh Dương Vương.
Về nhà thơ Bùi Giáng, có một số chi tiết ít người biết về đời sống của thiên tài đầy chữ nghĩa này. Bùi Giáng cũng là một họa sĩ từng triển lãm tranh. Đinh Cường kể lại về Bùi Giáng, “Anh đã ở qua rất nhiều nơi, những năm 1960, đường Phan Thanh Giản, nhà cháy, về đường Trương Tấn Bửu, có lúc ở trong Đại học Vạn Hạnh. Thời kỳ này anh vẽ nhiều tranh bột màu trên giấy, có khi là bút chì sáp, nhiều nhất là bút bi. Đã triển lãm tranh bột màu lần duy nhất tại nhà sách Albert Portail (về sau là nhà sách Xuân Thu, đường Tự Do, Sài Gòn).” (trang 134)
Trong tuyển tập II, có một nữ họa sĩ rồi trở thành ni sư, nhưng lại không nghe giới hoạt động Phật giáo nói tới. Đó là họa sĩ Tôn Nữ Kim Phượng, trước khi trở thành Ni sư Thích Nữ Diệu Trang. Họa sĩ Đinh Cường để ra 8 trang viết về họa sĩ ni sư này:
“Bây giờ Thích Nữ Diệu Trang đã nằm yên nghỉ dưới bóng tháp bên sân chùa Báo Quốc - Huế. Tôi có cơ duyên được thắp cây hương trước quan tài chị quàn ở chùa Diệu Hỷ bên Gia Hội có Thích Nữ Như Minh vào tháng 8 năm 2000 nhân mùa hè, từ Virginia về, lần nào cũng về thăm Huế, quê ngoại tôi ở đó và cũng còn vài người bạn cũ.
Tôi thật lúng túng trước tên gọi, Thích Nữ Diệu Trang, pháp danh Nguyên Nghi hay chỉ gọi thế danh Tôn Nữ Kim Phượng. Bởi ít ai biết dưới màu áo lam kia, dưới vóc dáng khoan thai đài các kia, dưới gương mặt nụ cười hiền kia là một tâm Bồ Tát với đôi bàn tay tài hoa còn phụng hiến cho Nghệ Thuật (tôi không thích dùng nữ họa sĩ, nữ văn sĩ, vì nghệ thuật khi đã thành danh là một tên gọi, không nam không nữ). Họa sĩ Tôn Nữ Kim Phượng, người bạn cùng thời học ở trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế, lúc trường còn tọa lạc trên đường Phan Đình Phùng, bên bờ sông Bến Ngự, những năm cuối 50 đầu 60...” (trang 88)
Thế rồi, tới thời kỳ sau 1975... họa sĩ Đinh Cường kể tiếp rằng vị ni sư này là người giúp các họa sĩ, “Hình ảnh Tôn Nữ Kim Phượng luôn bên mẹ, nhất là những tháng ngày sau tháng 4-1975, tôi thường lên thăm bác và chị ở chùa Già Lam, lúc còn Thầy Trí Thủ trụ trì. Nhớ thời gian khó nhất mà chị vn có những hộp màu nước Guitar của gia đình ở ngoại quốc gởi về thật quý, và chị đã chia sẻ cùng bạn bè để có màu vẽ tranh lụa kiếm sống.
Nhớ là Tôn Thất Văn (một họa sĩ vẽ tranh lụa giỏi, tốt nghiệp khóa đầu tiên Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế cùng với Nguyễn Thị Thanh Trí, Hoàng Thị Diệm Phương, Thái Hạc Oánh, Trần Thị Quỳnh Chi ...) quay quắt tìm một ống màu vàng chanh (jaune citron) khi bức tranh lụa lớn, dài do khách đặt, vẽ gần xong mà thiếu màu cần thiết ấy, tôi đã tìm xin Phượng đưa cho bạn... còn gì đẹp hơn cử chỉ ấy...” (trang 93-94)
Đinh Cường nhận định và đưa ra một đề nghị: “Tôn Nữ Kim Phượng với số lượng tranh vẽ không nhiều, nhưng đã để lại một thế giới hội họa cho riêng mình, hay nói như nhà phê bình nghệ thuật Thái Bá Vân: cái thế giới ở ngoài hội họa mới chính là hội họa. Thật vậy chăng, người họa sĩ như xa lạ ấy, với tâm hồn của một Thích Nữ như đã hóa thân, tôi nghĩ, chị đã để lại cho Huế, nơi chị sinh ra và lớn lên, một cây bông Phượng Vàng quý, hiếm - là những tác phẩm của chị sẽ được sưu tầm và lưu giữ trong Viện Bảo Tàng Mỹ Thuật Huế, nêu có, là một ước muốn chính đáng cho bộ mặt Văn hóa Huế. Viết về Tôn Nữ Kim Phượng là viết về một tiếng nói, một giọng cười đã tắt, mà vẫn còn âm vang mãi một lời kinh. Nghệ thuật như một lời kinh cứu khô. Và dáng dấp gầy cao, khoan thai đài các của Phượng vẫn còn in dấu trong lòng bạn bè...” (trang 94)
Một thiếu sót lớn tới bây giờ: chưa thấy tài liệu nào của Phật giáo nói về Ni sư Thích Nữ Diệu Trang, người nổi tiếng khi ngoài đời là họa sĩ Tôn Nữ Kim Phượng. Có phải vì Ni sư giữ hạnh ẩn tu sau khi thọ đại giới?
Có một điểm không được Đinh Cường (và cả Huỳnh Hữu Ủy) nhắc tới nhiều, có lẽ vì dễ gây ra đau đớn: đó là nỗi buồn chiến tranh thời đất nước còn chia cắt. Đó là nỗi buồn của một thế hệ nghệ sĩ bị chia đôi, khi bạn bè thân thiết — những người từng uống cà phê chung, làm thơ chung, mơ mộng chung — một hôm bỗng đứng ở hai phía của một cuộc nội chiến. Phải đọc kỹ lắm, mới thấy một vài tiếng thở dài của vài người trong thế hệ này. Tôi là người thế hệ đi sau, không hiểu hết, và chỉ đoán mơ hồ là thế, khi đọc về cái chết của nhà thơ Ngô Kha, hay chuyện họa sĩ Bửu Chỉ bị tù vì biểu tình thời kỳ trước 1975 và rồi cũng bị trù dập vài năm sau khi đất nước thống nhất.
Tuyển tập “Đi Vào Cõi Tạo Hình II” của Đinh Cường có quá nhiều thông tin cần đọc cho người quan tâm về sáng tác mỹ thuật và về các họa sĩ nổi tiếng ở Miền Nam VN trong gần một thế kỷ qua, từ lời kể của Đinh Cường, một chứng nhân văn hóa và lịch sử. Người điểm sách không thể ghi hết những điểm cần chú ý, như về hoàn cảnh nhạc sĩ Trịnh Công Sơn khi bước vào sáng tác hội họa, hay cái nhìn của nhà văn Ngô Thế Vinh về họa sĩ Nghiêu Đề (mà họ Ngô gọi là bạn thời tấm cám).
Tuyển tập này là một tác phẩm độc đáo, không chỉ nhờ ngòi bút thơ mộng của họa sĩ Đinh Cường, mà còn vì có quá nhiều chi tiết về các họa sĩ mà chúng ta không gặp nơi các sách khác.
Phan Tấn Hải
06/02/2026