NGUYỄN VĂN TUẤN
Hôm nay (4/7/2026), nước Mĩ kỉ niệm 250 năm ngày lập quốc. Đó là một cột mốc lớn của một quốc gia lớn. Nhưng với tôi, ngày này còn gợi lại một điều rất riêng: cái duyên của tôi với nước Mĩ.
Thật ra, tôi đã dành một chương trong cuốn hồi ức ‘Giấc mơ Kangaroo‘ viết về kỉ niệm của tôi với nước Mĩ. Còn ở đây chỉ muốn ghi thêm vài kỉ niệm rất cá nhân.
Trong Phật giáo có một khái niệm rất đẹp: duyên khởi. Nói một cách đơn giản, không có sự vật hay sự việc nào tự nhiên mà có. Mọi chuyện xảy ra đều do nhiều điều kiện gặp nhau, nhiều nhân duyên kết lại. Trong đời sống, chúng ta thường nghĩ mình chọn một con đường, nhưng thật ra con đường đó được hình thành từ vô số điều kiện mà nhiều khi đến rất lâu sau ta mới nhìn thấy hết.
Cái ‘duyên khởi’ của tôi với nước Mĩ có lẽ nên được hiểu theo tinh thần đó.

■ Từ một giấc mơ không thành
Tôi dùng chữ “duyên” vì quả thật câu chuyện của tôi với Mĩ không phải là một kế hoạch được sắp đặt từ trước. Nó bắt đầu từ một giấc mơ không thành.
Đầu năm 1981, khi còn ở trong trại tị nạn Thái Lan, tôi cũng như nhiều người Việt tị nạn khác, muốn đi Mĩ. Bà con, bạn bè, và rất nhiều người Việt tị nạn đều nói đến Mĩ như một bến bờ lớn. Trong trí tưởng tượng của một thanh niên vừa thoát khỏi một đất nước đầy bất trắc, Mĩ là vùng đất của tự do, của cơ hội, của một tương lai mà mình có thể làm lại từ đầu. Lúc đó, tôi biết về Mĩ chỉ qua sách giáo khoa, tạp chí, và … lính Mĩ. Thời trước 1975 tôi không ưa Mĩ đâu, nhưng khi tới trại tị nạn mới thấy Mĩ là một đại ân nhân.
Nhưng đời người nhiều khi xoay hướng chỉ vì một chi tiết rất nhỏ. Chuyện là phái đoàn Mĩ ít khi đến trại tị nạn ở Thái Lan để phỏng vấn. Trong khi đó, phái đoàn Úc đến trước. Họ phỏng vấn, hỏi vài câu, rồi một câu trả lời về con Kangaroo mà tôi được nhận đi Úc.
Vậy là tôi đi Úc.
Không có một quyết định triết lí nào cả. Không có một sự chọn lựa lớn lao nào cả. Chỉ là hoàn cảnh đưa đẩy. Tôi muốn đi Mĩ, nhưng cái duyên đưa tôi đến Úc.
Tuy tôi không đi Mĩ, nhưng Mĩ vẫn cứ ở đâu đó trong đời tôi. Bà con tôi đi Mĩ. Mấy đứa em họ đi Mĩ. Bạn bè tôi đi Mĩ. Nhiều người thân quen sau này thành người Mĩ gốc Việt. Những lá thư, những cuộc điện thoại, những câu chuyện về đời sống bên đó làm cho nước Mĩ không xa lạ với tôi. Nó như một người bà con ở xa, mình không sống chung nhà, nhưng vẫn nghe tin tức hoài.
■ Đến cái duyên đi Mĩ
Rồi đến đầu thập niên 1990, khi còn làm nghiên cứu sinh, tôi bắt đầu đặt chân đến Mĩ thường xuyên hơn. Mỗi năm, tôi theo thầy đi dự hội nghị khoa học bên Mĩ. Thầy đi đâu, tôi theo đó. Hết tiểu bang này đến tiểu bang khác.
Đối với một nghiên cứu sinh từ Úc, đó là những chuyến đi mở mắt.
Nước Mĩ trong sách báo và phim ảnh đã khác, nước Mĩ trong khoa học còn khác hơn nữa. Các hội nghị đông người, nhiều ý tưởng, nhiều tranh luận, nhiều nhân vật lớn. Không khí khoa học ở đó có cái gì rất trực tiếp, rất cạnh tranh, nhưng cũng rất rộng mở.
Tôi bắt đầu có cảm tình đặc biệt với nước Mĩ từ đó.
Trong những hội nghị đó, tôi có dịp trình bày các kết quả nghiên cứu của mình. Tôi cũng hay đặt câu hỏi. Có lẽ vì những câu hỏi đó hơi khác thường, hoặc cũng có thể vì tôi là một anh nghiên cứu sinh gốc Việt nhỏ con nhưng hay đứng lên hỏi, nên một số vị trưởng lão trong chuyên ngành loãng xương bắt đầu chú ý.
Tôi nhớ những ánh mắt, những cái bắt tay, những câu hỏi sau phiên họp. Đối với một người trẻ, những điều đó rất quan trọng. Nó cho mình cảm giác rằng mình có thể bước vào một cộng đồng khoa học lớn hơn, và tiếng nói của mình, dù còn nhỏ, cũng được lắng nghe.
■ Cái visa kì lạ
Sau khi tốt nghiệp, một điều rất bất ngờ xảy ra: tôi được mời sang Mĩ làm việc, và được bổ nhiệm thẳng lên chức Associate Professor. Tôi không qua postdoc / hậu tiến sĩ, cũng không qua Assistant Professor.
Nói thật, ai cũng ngạc nhiên. Tôi cũng ngạc nhiên.
Nhưng dĩ nhiên là mừng trong bụng. Tôi nghĩ, nếu nước Mĩ cho mình một cơ hội lớn như vậy, thì mình phải làm hết sức để xứng đáng với niềm tin đó.
Tôi còn nhớ rất rõ ngày tôi tới phi trường ở Mĩ. Anh chàng nhân viên di trú nhìn visa của tôi, rồi nhìn tôi, rồi hỏi:
“Anh có chơi môn thể thao nào?”
Tôi nói: “Không.”
“Có chơi nhạc cụ nào không?”
Tôi cũng nói: “Không.”
Anh ta ngạc nhiên: “Ủa sao kì vậy? Visa này là dành cho những nghệ sĩ và lực sĩ xuất sắc mà.”
Tôi nghe mà cũng ngạc nhiên theo. Sau này tôi mới biết lúc đó loại visa dành cho giới khoa học trong năm đã hết quota, nên họ xếp tôi vào nhóm văn nghệ sĩ và lực sĩ xuất sắc 🙂 Tôi nghĩ trong bụng: khi người Mĩ muốn mở cửa cho ai, họ thường tìm được một cách rất thực tế.
Câu chuyện nghe có vẻ khôi hài, nhưng nó cũng nói lên một điều gì đó rất Mĩ: thực dụng, linh động, và đôi khi rất hào phóng với những người mà họ nghĩ là có thể đóng góp.
■ Những năm tháng … vì Mĩ
Những năm tháng sau đó là những năm tôi làm việc cho Mĩ, theo đúng nghĩa đen và nghĩa bóng. Tôi xây dựng nhóm nghiên cứu, làm việc với đồng nghiệp, hướng dẫn sinh viên, viết grant, đi thuyết trình, và chu du ngoại giao khắp nơi để xin tiền nghiên cứu. Xin rất nhiều, nhưng nhận chẳng bao nhiêu.
Ai làm khoa học ở Mĩ đều biết xin tài trợ là một nghệ thuật, một cuộc chiến, và cũng là một bài học khiêm tốn. Mình có thể có ý tưởng hay, có dữ liệu tốt, có bài báo tốt, nhưng tiền thì vẫn không dễ gì đến đâu. Tuy chẳng bao nhiêu, nhưng cũng đủ để làm. Và qua những lần xin tiền, báo cáo, trình bày, hỏi han, rất nhiều người biết đến mình.
Mĩ đã mở cho tôi những cánh cửa mà trước đó tôi không nghĩ mình có thể bước qua.
Tôi đã đến những địa chỉ lừng danh của Mĩ: Mayo Clinic, MassGen, Columbia, Harvard, UCSF, UCSD, USC, UCLA, Stanford, và nhiều nơi khác. Mỗi nơi có một văn hóa riêng, một phong cách riêng, nhưng điểm chung là tinh thần làm việc rất chuyên nghiệp và niềm tin rất mạnh vào giá trị của tri thức. Ở đó, người ta có thể tranh luận gay gắt trong phòng họp, nhưng sau đó vẫn bắt tay nhau và tiếp tục hợp tác. Ở đó, nếu anh có ý tưởng tốt và làm được việc, người ta sẽ chú ý đến anh, bất kể anh đến từ đâu.
Tôi cũng may mắn gặp được những “đại sư phụ” trong chuyên ngành loãng xương: Larry Riggs, Joe Melton, Elizabeth Barrett-Connor, A. M. Parfitt, Steve Cummings, C. Rosen, và nhiều người khác.
Đó là những tên tuổi mà khi còn là nghiên cứu sinh tôi chỉ biết và ngưỡng mộ qua bài báo. Vậy mà sau này tôi được gặp, được nói chuyện, được học hỏi, và có người còn giúp tôi rất nhiều trong sự nghiệp. Họ mời tôi về nhà ăn cơm tối. Họ giới thiệu tôi đến với người này người kia trong “bộ lạc”.
Có những ân tình trong khoa học không thể đo bằng con số. Một lời giới thiệu, một lá thư ủng hộ, một lời khuyên đúng lúc, đôi khi có thể làm thay đổi cả một hướng đi.
Qua họ, tôi được mời phục vụ trong vai trò lãnh đạo của hiệp hội loãng xương Mĩ. Tôi làm editor đầy trách nhiệm cho JBMR, tập san số 1 trong chuyên ngành loãng xương thế giới. Tôi được bầu làm Fellow của ASBMR trong đợt đầu tiên. Đối với tôi, đó không chỉ là một vinh dự nghề nghiệp. Đó còn là một sự công nhận.
Một người tị nạn từ Việt Nam, không đi Mĩ theo diện định cư, không được đào tạo ở Mĩ từ đầu, nhưng vẫn được cộng đồng khoa học Mĩ mở cửa và giao trách nhiệm. Tôi nghĩ điều đó nói lên cái hay của nước Mĩ.
Dĩ nhiên Mĩ không phải là thiên đường. Không có quốc gia nào là thiên đường cả. Nhưng Mĩ có một khả năng đặc biệt: nhận ra tiềm năng từ bên ngoài và cho người đó một sân chơi để thử sức.
Nói một cách thành thật, ở Mĩ tôi được công nhận nhiều hơn là ở Úc. Câu này nghe có vẻ hơi buồn, nhưng đó là sự thật của đời tôi. Không có Mĩ, tôi chưa chắc có sự nghiệp như ngày hôm nay.
Úc là quê hương mới của tôi, là nơi cưu mang tôi, là nơi tôi sống phần lớn đời mình. Nhưng trong những năm đầu sự nghiệp, Úc đối với tôi có lúc hơi chật chội.
Khi tôi quay về Úc, UNSW nói rằng tôi chỉ đáng chức Senior Lecturer thôi. Thầy tôi nghe vậy chỉ mỉm cười và nói: “Họ trừng phạt mày đó vì mày bỏ Úc.”
Câu nói đó vừa đùa vừa thật. Nhưng đời tôi lại một lần nữa rẽ hướng. Thầy kéo tôi về Garvan để lập labo về di truyền học loãng xương, và tôi “trụ trì” cái labo đó suốt 21 năm trời. Nhìn lại, nếu không có những năm tháng ở Mĩ, không có sự công nhận từ Mĩ, không có những người Mĩ đã nâng đỡ tôi, có lẽ tôi cũng không đủ tự tin và vốn liếng khoa học để tồn tại ở một địa chỉ cạnh tranh ác liệt ở Úc suốt 2 thập niên.
■ Duyên khởi
Nhìn lại sau hơn 40 năm, tôi thấy trong cái tình cờ đó có một chuỗi nhân duyên rất hay. Tôi không định cư ở Mĩ, nhưng bà con tôi, mấy đứa em họ tôi, và nhiều bạn bè tôi lại đi Mĩ. Tôi không chọn Mĩ làm quê hương thứ hai, nhưng Mĩ đã mở cho tôi những cánh cửa mà nếu không có, có lẽ sự nghiệp của tôi đã rất khác.
Tôi không phải là người Mĩ, nhưng rất nhiều người Mĩ đã đối xử với tôi như một đồng nghiệp thật sự. Tôi không sống ở Mĩ lâu, nhưng Mĩ đã cho tôi một không gian để lớn lên trong khoa học.
Duyên khởi chỉ nhắc ta rằng đời người là kết quả của nhiều cuộc gặp gỡ: một phái đoàn đến trại đúng lúc, một người thầy dẫn mình đi hội nghị, một báo cáo được các bậc trưởng lão chú ý, một lá thư giới thiệu, một cơ hội nghề nghiệp, một cái visa lạ lùng, một cộng đồng khoa học sẵn sàng lắng nghe, những phòng họp ở Mayo, MassGen, Harvard, Stanford, UCSF, UCSD. Những điều đó, nếu đứng riêng lẻ, có vẻ nhỏ, nhưng khi nối lại với nhau, chúng tạo nên một con đường.
Tôi biết ơn nước Úc vì đã cưu mang tôi khi tôi không còn quê hương để trở về. Nhưng tôi cũng biết ơn nước Mĩ vì đã công nhận tôi khi tôi còn đang đi tìm chỗ đứng trong khoa học. Có lẽ đời người tị nạn là vậy: mình mang ơn nhiều nơi, nhiều người, nhiều vùng đất. Quê hương cũ cho mình căn cước và bản sắc. Quê hương mới cho mình đời sống và cơ hội. Và có những quốc gia khác, dù mình không hoàn toàn thuộc về, vẫn góp phần làm nên con người mình hôm nay.
Cho nên, nhân ngày 4/7/2026, tôi chỉ muốn nói một câu rất đơn giản, bằng cả tiếng Việt và tiếng Anh: Cảm ơn nước Mĩ. Thank you, America.
NGUYỄN VĂN TUẤN Fourth of July, 2026
Tác giả Nguyễn Văn Tuấn là một Thuyền Nhân được định cư tại Úc châu từ năm 1982, hiện là Giáo sư của Khoa Y của Đại học New South Wales, Giáo sư của Trường Y, Đại học Notre Dame Australia, và Giáo sư xuất sắc của Đại học Công nghệ Sydney. Tác giả được biết đến như là một chuyên gia hàng đầu trên thế giới trong lãnh vực loãng xương, được bầu làm Viện Sĩ của Hội Nghiên Cứu Loãng Xương Hoa Kỳ (ASBMR), Viện Sĩ của Viện Hàn Lâm Y Học Australia (AAHMS), Viện Sĩ của Học Viện Hoàng Gia New South Wales, và được Nữ Hoàng Elizabeth Đệ Nhị trao Huân Chương Australia vì những đóng góp quan trọng cho y khoa và giáo dục đại học. Ngoài khoa học, tác giả còn là một người yêu văn học và văn hoá, và đã viết hàng trăm bài điểm sách trong thời gian 50 năm qua.
