Thư ngỏ gửi Liên Hiệp quốc
5-6-2026
Lời giới thiệu: Nhân Ngày Môi trường Thế giới, ngày 5 tháng 6, Mạng lưới Người dân Bảo vệ các dòng sông Kok, Sai, Ruak, Mekong, Salween và Kraburi, đã gửi thư ngỏ tới Liên Hiệp Quốc, cảnh báo về những tác động môi trường nghiêm trọng do hoạt động khai thác khoáng sản ở thượng nguồn các con sông trong khu vực.
Người dân Thái Lan ngày càng nhận thức rõ rằng họ đang phải gánh chịu những hệ lụy từ các dự án khai thác phục vụ lợi ích kinh tế, nhưng gây tổn hại lâu dài cho môi trường và nguồn nước. Nếu tình trạng ô nhiễm này không được kiểm soát, hậu quả sẽ không chỉ dừng lại ở một đất nước, mà có thể lan rộng trên toàn lưu vực các dòng sông xuyên biên giới ở Đông Nam Á.
Vì vậy, người Việt Nam cần quan tâm và theo dõi chất lượng nguồn nước của các con sông bắt nguồn từ Trung Quốc, Myanmar và Lào. Đây cũng là khu vực sở hữu trữ lượng đất hiếm rất lớn ngoài Trung Quốc, khiến cuộc chạy đua khai thác tài nguyên ngày càng quyết liệt, kéo theo những hệ lụy về môi trường, có thể ảnh hưởng đến hàng triệu người dân trong khu vực. Sau đây là bản dịch bức thư ngỏ:
***
Chủ đề: Kêu gọi Liên Hiệp Quốc thừa nhận rằng, các cộng đồng lưu vực sông trong khu vực đang phải gánh chịu những tổn thất nặng nề, trở thành các “vùng hy sinh” của quá trình chuyển đổi năng lượng toàn cầu, và khẩn cấp hành động để bảo vệ công bằng môi trường, cũng như quyền con người.
Kính gửi: Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc
Nhân Ngày Môi trường Thế giới, chúng tôi – Mạng lưới Người dân Bảo vệ các dòng sông Kok, Sai, Ruak, Mekong, Salween và Kraburi – muốn cất lên tiếng nói đại diện cho các cộng đồng vùng biên giới đang phải gánh chịu những cái giá về môi trường, sức khỏe và an ninh sinh kế, để thế giới có thể chuyển dịch sang năng lượng sạch một cách công bằng.
Trong bối cảnh chuyển đổi năng lượng toàn cầu, một số cộng đồng đang bị đẩy vào tình thế trở thành những “vùng hy sinh” của nền kinh tế xanh. Trong khi người dân tại các đô thị lớn và các quốc gia công nghiệp phát triển được hưởng lợi từ pin, xe điện và các công nghệ năng lượng sạch, thì các cộng đồng vùng biên giới lại phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm kim loại nặng trong nguồn nước sông, chuỗi thức ăn và môi trường sống; điều này ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, lối sống và các thế hệ tương lai của họ.
Kể từ khi công bố kết quả kiểm nghiệm chất lượng nước và trầm tích vào năm 2025, tình trạng ô nhiễm kim loại nặng đã được phát hiện tại các dòng sông Kok, Sai, Ruak, Mekong và Salween, cũng như tại các lưu vực sông khác có liên kết với các khu vực khai thác khoáng sản ở thượng nguồn. Những tác động này không chỉ giới hạn ở chất lượng nước mà còn ảnh hưởng đến trầm tích, các loài thủy sinh, cây trồng và sự phơi nhiễm hàng ngày của người dân địa phương đối với các chất độc hại. Nỗi bất an về sự an toàn của nguồn nước và thực phẩm đã trở thành thực tế mà các cộng đồng phải đối mặt mỗi ngày.
Về bản chất, cuộc khủng hoảng này là vấn đề ô nhiễm xuyên biên giới, bởi lẽ nhiều cộng đồng bị ảnh hưởng nằm ở một quốc gia, trong khi các nguồn gây ô nhiễm lại nằm ở quốc gia khác, hoặc tại những khu vực mà nhà nước không thể kiểm soát và thực thi pháp luật một cách hiệu quả. Hệ quả là người dân bị ảnh hưởng buộc phải trông chờ vào sự hợp tác quốc tế – vốn thường chậm trễ và không thể theo kịp những thiệt hại đã xảy ra.
Chúng tôi không phủ nhận sự cần thiết của quá trình chuyển đổi sang năng lượng sạch. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi đó phải bảo đảm tính công bằng và không để ai bị bỏ lại phía sau. Việc cắt giảm khí thải nhà kính không được phép đánh đổi bằng sự mất mát về tài nguyên nước, sức khỏe và các quyền cơ bản của cộng đồng vùng biên giới. Việc đẩy gánh nặng ô nhiễm sang những nhóm người có ít quyền thương lượng nhất, không thể được coi là một quá trình chuyển đổi công bằng.
Hơn nữa, người dân sống ở khu vực thượng nguồn tại Myanmar – nơi diễn ra các hoạt động khai thác khoáng sản – còn phải đối mặt với tình cảnh ngặt nghèo hơn nữa. Trong bối cảnh xung đột và năng lực quản trị còn hạn chế, họ hầu như không có cơ hội tiếp cận các dịch vụ giám sát môi trường, chăm sóc y tế, các biện pháp khắc phục hậu quả, hay thậm chí là những không gian an toàn để lên tiếng và đòi lại công lý.
Thực trạng về những bất công đan xen này – bao gồm bất công về môi trường, khi các cộng đồng vùng biên giới phải gánh chịu hậu quả ô nhiễm thay cho người tiêu dùng ở hạ nguồn và các chủ thể nắm quyền lực ở cuối chuỗi cung ứng, trong khi nhiều người bị ảnh hưởng, không thể tiếp cận các cơ chế thực thi công lý hay các kênh giải quyết khiếu nại hiệu quả – đòi hỏi phải có sự nhìn nhận và hành động khẩn trương.
Vì những lý do này, chúng tôi kêu gọi Liên Hiệp Quốc:
1. Công nhận và đưa vấn đề “Các khu vực hy sinh xuyên biên giới” (Transboundary Sacrifice Zones) vào chương trình nghị sự như một vấn đề ưu tiên về công bằng môi trường và quyền con người.
2. Hỗ trợ các quy trình lắng nghe ý kiến và khảo sát thực tế ở cấp khu vực về tác động của hoạt động khai thác khoáng sản phục vụ chuyển dịch năng lượng tại lưu vực sông Mekong.
3. Khuyến khích các quốc gia, doanh nghiệp và bên thu mua khoáng sản trong chuỗi cung ứng năng lượng sạch tuân theo các tiêu chuẩn quốc tế về môi trường và quyền con người, đồng thời bảo đảm hệ thống truy xuất nguồn gốc khoáng sản minh bạch.
4. Sử dụng khuôn khổ về quyền con người đối với một môi trường trong sạch, lành mạnh và bền vững, làm cơ sở cho việc giám sát, điều tra và quy trách nhiệm cho các bên liên quan.
5. Tăng cường bảo vệ các khía cạnh nhân đạo, y tế, môi trường và quyền con người cho các cộng đồng tại những khu vực chịu ảnh hưởng của xung đột.
6. Khẳng định rằng, quá trình chuyển dịch năng lượng công bằng phải bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau và không được chuyển gánh nặng của nền kinh tế xanh sang các cộng đồng dễ bị tổn thương nhất.
Chúng tôi không phủ nhận sự cấp thiết của quá trình chuyển đổi sang năng lượng tái tạo. Tuy nhiên, chúng tôi không thể chấp nhận một quá trình chuyển đổi buộc một số cộng đồng phải đánh đổi dòng sông, nguồn thực phẩm, sức khỏe và tương lai của con em họ để đổi lấy sự bền vững ở một nơi khác trên thế giới. Nếu thế giới cần năng lượng tái tạo, thì thế giới cũng phải chịu trách nhiệm về những tác động phát sinh từ việc khai thác khoáng sản dùng để sản xuất nguồn năng lượng đó.
Nhân Ngày Môi trường Thế giới này, chúng tôi kêu gọi Liên Hợp quốc, các quốc gia thành viên, các doanh nghiệp và cộng đồng quốc tế công nhận rằng quá trình chuyển dịch năng lượng không thể được coi là thành công thực sự nếu bất kỳ cộng đồng nào bị bỏ lại để đơn độc gánh chịu những hậu quả về môi trường, sức khỏe và quyền con người.
Chúng tôi chân thành hy vọng Liên Hợp quốc sẽ phát huy vai trò lãnh đạo và tầm ảnh hưởng của mình để thúc đẩy quá trình chuyển dịch công bằng, hướng tới một tương lai phát thải carbon thấp, tôn trọng quyền con người và không để ai bị bỏ lại phía sau, để Ngày Môi trường Thế giới thực sự phản ánh niềm hy vọng, trách nhiệm chung và sự công bằng cho tất cả mọi người.
Chúng tôi trân trọng gửi thư này để quý vị xem xét.
Trân trọng,
Mạng lưới Nhân dân Bảo vệ các dòng sông Kok, Sai, Ruak, Mekong, Salween và Kraburi.
_________
Chú thích:
The declaration was drafted and submitted as a collective appeal by the People’s Network for the Protection of the Kok, Sai, Ruak, Mekong, Salween, and Kraburi Rivers. Rather than being a petition signed by random individuals, the list of signatories is comprised of a coalition of community leaders, civil society organizations (CSOs), local authorities, and religious figures who jointly organized the “Peace Walk for Rivers” in Northern Thailand. [1, 2, 3, 4]
The core coalition of signatories and endorsing groups includes:
Prominent Individual Leaders & Advocates
Niwat Roykaew: Acclaimed environmental activist, Goldman Environmental Prize winner, and chairman of the Chiang Khong Conservation Group. [1, 2]
Tuenjai Deetes: Prominent human rights defender and former Thai Senator. [1, 2]
Phra Maha Nikhom Mahabhinikkhamano: Assistant Abbot of Wat Tha Ton (Tha Ton Temple), representing the Buddhist clergy driving the Dharma-based environmental movement. [1, 2]
Nitipakorn Saengsuwan: The District Chief of Mae Ai, representing local government alignment with the community. [1]
Core Environmental & Civil Society Networks
The Chiang Khong Conservation Group (Mekong School): The primary grassroots organization coordinating local community data and river monitoring. [1, 2]
The Network of Chiang Rai Artists: Local cultural leaders who used advocacy art to highlight the transboundary impact of toxic mining. [1]
Local Riverine Communities & Indigenous Ethnic Groups: Representatives from villages along the Kok, Sai, Ruak, Mekong, Salween, and Kraburi river basins who are directly impacted by transboundary heavy metal contamination (specifically from upstream rare earth and gold mining). [1, 2]
Supporting Coalitions
The Inter-Faith and Buddhist Clergy Alliance: Hundreds of monks and novices who lent spiritual and structural backing to the movement via the Dhamma Yatra (Peace Walk). [1, 2]
Regional Southeast Asian Human Rights Networks: Regional allies supporting the integration of the UN framework on the right to a clean, healthy, and sustainable environment.
____