SỨ MẠNG ĐẠI HỌC
Viện Đại Học Cần Thơ _ Ngọn Hải Đăng Miền Tây
GS ĐỖ BÁ KHÊ
Ánh Nguyệt, nguyên là luật sư Toà Thượng Thẩm Sài Gòn. Sau 1975, Chị định cư tại Pháp, là phóng viên cho Đài RFI, trong suốt hơn hai thập niên làm việc cho RFI, có thể nói Chị là người có sự hiểu biết sâu rộng và mối quan tâm đặc biệt về con Sông Mekông và Đồng Bằng Sông Cửu Long, qua các bài nhận định và phỏng vấn các học giả và chuyên gia trong lưu vực, trong đó có thể kể "buổi trò chuyện" với GS Đỗ Bá Khê năm 2004, chỉ một năm trước khi ngày GS Khê qua đời. "Sứ Mạng Đại Học" - là một trong số những bài viết, "xưa và nay" mà GS Đỗ Bá Khê gửi cho PV Ánh Nguyệt trước buổi phỏng vấn để "tỏ tâm tư của thầy." Trong một tấm carte nhỏ gửi cho tôi, GS Đỗ Bá Khê viết: "Tôi vẫn tin ở tương lai của Đại Học Cần Thơ", và trong đó có cả một chi tiết rất riêng tư thú vị là "Bến Ninh Kiều* là do Anh Hai tôi hình thành khi làm Tỉnh Trưởng tại đó... Mong rồi ra, người viết sẽ tìm lại được phần thu âm buổi trò chuyện của GS Đỗ Bá Khê và phóng viên Ánh Nguyệt, để có thề đi cùng với bài viết này.
“Tại tất cả các quốc gia trên thế giới, cũ hoặc mới, mạnh hay yếu, độc tài hay dân chủ”, ngày nay trường đại học mọc lên để thỏa mãn nhu cầu đại học dường như là vô tận.
Một cường quốc như Hoa Kỳ có khả năng thâu nhận hơn 43% thanh niên trong tuổi đại học, trung bình mỗi tuần lễ có 1 đại học mọc lên, thế mà cũng không đáp ứng hết nhu cầu. Tại các nước đang mở mang, sự khao khát đại học lại càng khẩn yếu hơn. Như ở miền Nam Việt Nam này, từ một con số không, nay có 3 đại học công, 4 đại học tư, lại còn một số đại học khác đang trong thời kỳ phôi thai.
Vì áp lực từ dưới vọng lên nên biện pháp giản dị là mở thêm đại học để thỏa mãn nhu cầu hiếu học. Nhưng cũng như các nước đang vươn mình, nước ta vấp phải vào một trở ngại thứ hai, đó là sự khan hiếm tài lực và nhân lực tối thiểu để thành lập và điều hành một đại học.
Lợi tức quốc gia chưa đủ để thi hành giáo dục tiểu học cưỡng bách như Hiến định, cũng như quá thiếu thốn để mở mang trung học đến nỗi 2/3 học sinh phải ghi tên tại các tư thục, đừng nói chi đến đại học là một công trình rất đắt giá.
Tài chính eo hẹp có thể ít nguy cơ hơn là khuyết điểm nhân sự. Một số đại học tư đã giải quyết vấn đề tài chánh bằng cách thu học phí cao để thêm vào phần trợ cấp của chính phủ cùng các tài nguyên khác để trang trải chi phí điều hành. Nhưng nhân lực hiện nay là một vấn đề nan giải. Có giảng đường tiện nghi, có phòng thí nghiệm trang bị đầy đủ mà thiếu bộ óc điều khiển thì vô dụng! Bất đắc dĩ, một số giáo sư phải trở thành lưu động để giúp các đại học bạn.
Khi thành lập một đại học phải định rõ sứ mệnh của nó trong thực tế nào?
Sứ mệnh thông thường của đại học là truyền đạt và bồi đắp sự hiểu biết. Nói một cách khác, hai tác dụng cổ điển của đại học là giảng dạy để mở rộng kiến thức và khảo cứu để tìm hiểu Sự Thật.
Đó là nghĩa hẹp của đại học phát sinh từ Âu châu với những vị hiền triết Hy Lạp, lưu truyền đến các đại học sau này, như Đại học Y khoa Salerno, và Đại học Luật khoa Bologna tại Italy. Đại học Thần học và Triết học Paris, Đại học Oxford và Cambridge. Những đại học này có một truyền thống lâu đời nhứt, được thành lập trong những hoàn cảnh kinh tế xã hội trước cuộc cách mạng kỹ nghệ. Giảng dậy tất nhiên là tác dụng chính yếu của đại học. Phải thông rõ các điều cũ để suy luận các điều mới. Vì thế sự hiểu biết thường được truyền đạt dưới hình thức giảng luận, sách vở hoặc ấn phẩm khác.
Tiến bộ khoa học kỹ thuật đã thu hẹp không ngừng địa cầu mà cả vũ trụ. Chỉ non một nửa thế kỷ, máy bay trở thành công cụ lưu thông thay đổi cuộc diện chính trị kinh tế và xã hội.
Việc gì xảy ra tại mũi Kennedy hoặc tại mặt trăng có thể truyền đi trong khoảnh khắc khắp thế giới. Không gian và thời gian bị rút lại vì sự “bùng nổ của sự hiểu biết. Kiến thức chỉ trong thế kỷ 20 bằng kiến thức mà loài người góp nhặt trong tất cả các thế kỷ trước. Ngay bây giờ người ta đã nghĩ đến viễn ảnh của đời sống trong thế kỷ thứ 21 cả trên trái đất lẫn trên cung trăng.
Nhưng có điều mâu thuẫn là trong sự hiểu biết của toàn thể nhân loại phát triển càng nhanh thì sự hiểu biết mỗi cá nhân thu được lại càng không theo kịp đà tiến, vì giáo dục tiến chậm, vì nhiều đại học thiếu phương tiện và điều kiện để đồng nhịp với thế giới bên ngoài của cộng đồng đại học. Những gì và sinh viên thu thập được tại đại học hôm nay thì ít năm sau đã lỗi thời. Vì thế chương trình và phương pháp giảng dạy phải làm thế nào để cho ngoài một số ý tưởng căn bản, sinh viên còn có óc xét đoán và sáng tạo về sau, tùy theo sở thích cá nhân tìm học thêm để thích nghi với kiến thức đương thời.
Tác dụng thứ hai của đại học là khảo cứu để tìm hiểu Sự Thật và phát triển vốn liếng hiểu biết hiện hữu. Đại học bảo tồn tinh hoa của xã hội. Nhờ đó mà văn hóa được lưu truyền qua các thời đại. Nhưng đại học không thụ động chỉ lập lại kho tàng hiểu biết một cách khô khan. Mỗi thế hệ, khi chuyển lại văn hóa cho thế hệ kế tiếp, có bổn phận phong phú thêm văn hóa ấy. Các điều giảng dạy ngày hôm nay là kết quả cuộc khảo cứu hôm qua, và phải khảo cứu hôm nay hầu có tài liệu mới để giảng dạy ngày mai. Ôn cố tri tân, chưa đủ, phải “ nhựt tân, nhựt nhựt tân" mới có tiến tới được.
Nhà bác học và triết lý Pascal nói: “Con người ta sinh ra để tìm sự thật.” Đứa trẻ sơ sinh đã biết liếc mắt quan sát chung quanh. Lớn lên nó bò từ góc này sang góc nọ, để khám phá một vật mới. Sự khám phá của lớp người trước được bồi đắp hoặc bổ khuyết bởi thế hệ sau, nhân loại theo đuổi một cuộc khảo cứu không ngừng.
Mấy ngàn năm trước người Trung Hoa cũng có câu; “Sự thật cũng như dòng nước chảy cứ trôi đi vô tận”. Mặc dù vậy nhân loại theo dòng thời gian vẫn cố tìm tòi khảo cứu mong đến chỗ thiện mỹ hơn.
Trong việc khảo cứu, loài người chỉ phăng từ hạt nhỏ của một xâu chuỗi dài, như Newton, người đặt ra các định luật căn bản về cơ học, nhận xét: “Tôi chẳng khác nào đứng trên một bãi biển, lượm nhặt một vài hòn đá tốt, còn trước mặt tôi là biển chân lý mênh mông vô tận. Chưa chắc các hòn đá chọn lọc ấy đều toàn mỹ, vì trên đường khảo cứu, làm sao tránh khỏi thiếu sót! Cơ học cổ điển của Newton phải được bổ khuyết bởi cơ học tương đối của Einstein để đi đến cơ học hạch tâm và không gian. Max Plank, giải Nobel về thuyết nguyên lượng (Quantum) đã cùng một ý niệm như sau: “Nhìn lại con đường rắc rối quanh co dẫn đến sự khám phá thuyết nguyên lượng, tôi nhớ rất rõ rằng Goethe đã nói là bao giờ tìm tòi theo đuổi một điều gì con người luôn luôn lầm lỗi”.
Không phải vì ám ảnh lầm lỗi mà không khảo cứu, vì thụ động là trái luật sinh tồn và tiến hóa. Vậy một đại học xứng đáng với danh nghĩa của nó phải khảo cứu để đóng góp vào gia tài hiểu biết. Tên của nhiều đại học đã được gắn liền với các khám phá khoa học.
Trở về với thực tại, ta tự hỏi Đại học Việt Nam có nên theo đuổi cao vọng với khám phá lừng danh như thế không? Ta phải nhìn nhận rằng nước ta là một quốc gia kém mở mang, đại học của ta còn non nớt, thiếu dụng cụ, thư viện, giáo sư. Đã phải khiêm tốn và thực tế hơn để theo đuổi chương trình khảo cứu nào có liên hệ trực tiếp cho sự phát triển kinh tế và xã hội của nước ta. Một nước kém mở mang như Việt Nam, không thể phí phạm trong việc khảo cứu độc đáo về lý thuyết. Trái lại, nên áp dụng các kiến thức và kỹ thuật đã được tìm ra ở xứ người để giải quyết các vấn đề khẩn yếu của xứ ta. Đây không phải là bắt chước mà là một việc làm mang tính sáng tạo để phân biệt phần nào hữu ích và thích nghi hiểu biết sẵn có vào thực trạng của quốc gia. Như vậy mới có thể phát triển mau chóng và đỡ tốn kém công quỹ.
Đại học Việt Nam phải thực tiễn và đây ta bước sang bước thứ 3 của đại học một sứ mệnh mới nổi bật sau cuộc Cách Mạng Kỹ Nghệ và trong thời đại khoa học kỹ thuật ngày nay, đó là tác dụng công ích của đại học.
Đại học Việt Nam phải làm tròn sứ mạng công ích để phụng sự xã hội đang bị chậm tiến. Đào tạo chuyên viên và cán bộ cho công tư sở chưa phải là có tác dụng có ích hoàn toàn. Phải định hướng khảo cứu để nâng cao đời sống của công cộng. Phải có những chương trình đại chúng để mở mang dân trí phát triển và nền dân chủ thật sự. Xứ ta là mô xứ nông nghiệp thì đại học phải đóng góp vào việc nghiên cứu và nâng cao sản xuất trong ngành ấy. Nền dân chủ còn mới, thì đại học phải giúp củng cố nền tảng chính trị, cải tổ cơ cấu hành chính để đưa đến công bằng xã hội.
Thời xưa giáo dục tại Việt Nam giới hạn giữa học giả quy tụ một số nhỏ môn sinh. Quốc Tử Giám là một cộng đồng riêng của một thiểu số nhà văn học. Đại học Bologna thành lập ở Ý đại Lợi hồi thế kỷ 11 là do một số sinh viên bỏ tiền ra mướn thầy về dạy (Universitas Magistrorum) vai trò phải tuân kỷ luật của thầy. Từ Á sang Âu, đại học thời xưa chỉ phụng sự cho thiểu số được ưu đãi. Đó là một tháp ngà chói sáng tự cô lập giữa biển người tối tăm.
Ngày nay đại học phải được quan niệm là một cộng đồng nhỏ gồm giáo sư và sinh viên, nằm ngay trong cộng đồng lớn hơn tức là xã hội bên ngoài. Lắm lúc cần phải ngồi trên đỉnh tháp ngà mới có đủ yên tĩnh sáng suốt mà suy nghĩ đến việc cao xa.
Tầm hoạt động của một đại học phải vượt khỏi chu vi của đại học. Đại học phải đến gần với cộng đồng để thấy rõ nhu cầu của Cộng đồng mà đáp ứng. Vào cuối thế kỷ 19, một nhà giáo dục Hoa Kỳ chán ngấy cái nghiệp văn chương và lí thuyết của đại học đương thời mạnh dạn thúc đẩy khuynh hướng thực dụng và thốt rằng: "phải chi tiêu cả triệu Mỹ kim để mua phân bón không xuất mộ xu để mua văn chương.” Đó là động lực phát động phong trào “đại học Canh Nông Kỹ Nghệ” ( A & M Colleges / Agricultural and Mechanical Colleges) của Hoa Kỳ. Kết quả ngày nay chỉ có 6% dân Mỹ làm nghề nông nhưng sức sản xuất chẳng những thỏa mãn nhu cầu trong xứ mà còn thặng dư để xuất cảng và viện trợ cho những xứ khác.
Tác dụng có ích của đại học không chỉ giới hạn trong việc khảo cứu, mà còn phải gồm các công tác thường xuyên khác để hòa mình với cộng đồng, chẳng hạn như các buổi diễn thuyết về văn hóa, thảo luận về công dân giáo dục và các chương trình văn nghệ, công tác xã hội, tranh giải thể thao, tất cả hướng về mở mang dân trí và dân chủ và tạo cơ hội thắt chặt tình đồng loại.
Nói đến tác dụng công ích của đại học, có người cho đó là việc quá tầm thường, làm tổn thương đến sự nghiệp cao cả cổ truyền của đại học. Thật ra những đại học lừng danh không ngần ngại tham gia và các công tác tầm thường nhưng quan trọng ấy. Đại học Harvard đã sáng chế 1 chiếc tàu đổ rác cho thành phố Boston. Đại học Yale có công tác dân sự vụ, xem mạch phát thuốc cho cộng đồng New Haven, và đảm trách việc phục hồi nạn nhân thất nghiệp. Đại học California sáng chế một việc tầm thường là dây nịt an toàn cho xe hơi, tạo ra 1 giống cà tô-mát mới, có cuống chắc để có thể hái bằng máy mà không hao hụt.
Giáo dục quốc gia đạt trên căn bản khoa học nghĩa là phải khai phóng. Nay trong hoàn cảnh kinh tế xã hội mới, sứ mệnh của đại học thêm tác dụng mới, vậy đại học Việt Nam phải chấp nhận tác dụng mới ấy để phục sự xã hội.
Định hướng đại học theo đường lối thực tiễn mới, có đi ngược với truyền thống giá trị dân tộc không? Ông René Maheu, Tổng Giám đốc cơ quan Giáo dục Văn hóa và Khoa học Liên Hiệp Quốc, quả quyết là không. Tại Đông Kinh khi bàn về đại học Á châu, ông khẳng định đại học phải đáp ứng nhu cầu của xã hội đang phát triển và có thể làm như vậy mà không hy sinh giá trị truyền thống.
Đại Học Cần Thơ được thành lập trong những điều kiện khó khăn. Nhờ nỗ lực và hy sinh của đàn anh mà hôm nay có 1 lớp tân khoa sẵn sàng bắt tay vào việc xây dựng xứ sở, hoặc tiến lên đường đại học để phục vụ đắc lực hơn về sau.
Ta lại mơ ước một Đại Học Cần Thơ thích hợp với hoàn cảnh gồm 3 sứ mạng: giảng dạy, nghiên cứu và công ích, Một việc khó vì nguy cơ khan hiếm tài chính và nhơn sự. Hai sứ mạng trước chưa chu toàn thì sứ mạng thứ 3 là một sứ mạng mới, sao khỏi gặp trở ngại.
Tuy nhiên có mơ ước mới có tiến bộ. Thuở xưa tiền nhân đã mơ ước một mảnh đất phì nhiêu, trải bao gian lao nguy hiểm để mở mang bờ cõi, và đất lành chim đậu, khai khẩn lưu vực Cửu Long với những phương tiện thô sơ. Kết quả là 6 triệu dân cư, mặc dù còn có đến 43% đất đai chưa khai thác, hiện Châu Thổ này sản xuất đến 70% lúa gạo trên tổng số sản xuất toàn quốc. Ngày nay trong thời đại khoa học kỹ thuật, các tỉnh miền Tây đang trông chờ nơi anh ánh sáng soi đường của Đại Học Cần Thơ, và mơ ước một chân trời mới, tô điểm bằng những cánh đồng với bông lúa vàng nặng trĩu, những thửa vườn hoa quả oằn cây, dân cư thơ thới, một cộng đồng trù phú trong một xã hội công bằng.
Đại Học Cần Thơ đã làm cách mạng bằng việc bách khoa chương trình cho thực tiễn với các môn khoa học ứng dụng, khoa học xã hội, và nhất là trường Cao Đẳng Nông Nghiệp nhằm vào việc trồng trọt chăn nuôi và ngư nghiệp.
Tôi tin tưởng rằng: được thành lập do nguyện vọng của cư dân Tiền Giang Hậu Giang, Đại Học Cần Thơ sẽ sớm làm tròn sứ mệnh, để không làm phụ lòng mơ ước của cộng đồng Đồng Bằng Sông Cửu Long.
19/12/1970
________
* Bến nước này được người Pháp đặt tên là Quai de Commerce (tiếng Việt là: bến thương mại). Người dân ở bến thường gọi bằng cái tên dân dã là bến Hàng Dương vì dọc bờ sông có hàng cây dương [4] hay nhân dân còn gọi tên khác là bến Lê Lợi vì con đường dọc theo mé sông trước đây có tên là đường Lê Lợi.[1][5]
Vào khoảng năm 1957 dưới thời Việt Nam Cộng Hòa (thời Đệ Nhất Cộng hòa), bến hàng dương đã đổi thành bến Ninh Kiều gắn với việc ông Đỗ Văn Chước* - Tỉnh trưởng Phong Dinh (tên gọi khác của Cần Thơ). Ông ta cho lập nơi bến sông này một công viên cây kiểng và bến dạo mát theo đề xuất của ông Ngô Văn Tâm, Trưởng ty Nông nghiệp, đồng thời phụ trách đoàn Thanh Niên 4T (Khuyến Nông).[4]
Sau đó Đỗ Văn Chước trình lên Ngô Đình Diệm đặt tên công viên và bến là Ninh Kiều dựa vào một sự kiện trong lịch sử Việt Nam và lấy tên một địa danh lịch sử chiến thắng quân Minh của nghĩa quân Lam Sơn do Lê Lợi chỉ huy.[4] Ngày 4 tháng 8 năm 1958, Bộ trưởng Nội vụ thời Đệ Nhất Cộng Hoà là ông Lâm Lễ Trinh từ Sài Gòn xuống Cần Thơ dự lễ cắt băng khánh thành, đọc Nghị định đặt tên công viên và bến Ninh Kiều.[4]
Ngày nay, quanh khu vực bến được đổi tên thành quận Ninh Kiều thuộc Thành phố Cần Thơ. Đường Lê Lợi dọc mé sông nay là đường Hai Bà Trưng, đường này đã được quy hoạch trở thành phố đi bộ và chợ đêm đầu tiên của Thành phố Cần Thơ.[5] [nguồn: Wikipedia]