Nguyễn Duy Chính
Lời nói đầu: Khi còn sinh tiền, mỗi khi trao đổi trên điện thoại anh bạn vong niên của tôi là Phạm Xuân Hy thường đề cập đến những tập tục của người Trung Hoa cách đây chưa lâu nhưng nay đã thành dĩ vãng. Cũng có những chuyện nhiều người biết như bó chân, hoạn quan … nhưng cũng có những điều cần một chút công phu tìm kiếm cho có đầu có đuôi. Nhiều khi chúng ta rằng đó chỉ là việc tự nhiên nhưng đi sâu cũng có những nguồn gốc của nó. Chuyện cái bím tóc sau lưng người Trung Hoa là một. Để tưởng nhớ, tôi viết một bài ngắn về tóc đuôi sam mà nhiều người chúng ta còn thấy khi xem những tranh vẽ chế giễu người Tàu.
***

Một nhóm người Trung Hoa đang ăn. Nguồn: Wikipedia
Khi người Mãn Châu chiếm được Trung Hoa họ bắt dân chúng phải thay đổi trang phục. Những ai chống lại sẽ bị coi là phản loạn và chịu tội tử hình. Trong lịch sử, người Trung Hoa búi tóc và tết thành một cục trên đỉnh đầu. Cái búi tó ấy cũng là tập quán của người Việt, được coi như quốc hồn quốc tuý. Thời người Pháp mới sang, việc cắt bỏ búi tóc theo Tây phương vẫn bị coi như một hành động bất hiếu.
Ở Trung Hoa, hàng ngàn thợ cạo đầu thắt đuôi sam cũng phản đối vì phải thay đổi nghề nghiệp. Trước đây họ chỉ cần dao cạo và lược gỗ, nay họ phải mua một bộ đồ nghề mới với giá cao, một chi tiêu mà họ coi là phí phạm. Trong nhiều tháng dân chúng phản đối việc cắt tóc và do đó những khu vực do chính quyền Dân Quốc kiểm soát nay vẫn còn rất đông người để đuôi sam. Chính quyền nay phải áp dụng biện pháp mạnh. Năm 1913, một số cơ quan và đoàn thể có tinh thần cấp tiến đã đưa ra quyết tâm cưỡng bách phải cắt bỏ mái tóc dài. Tại nhiều đô thị lớn, những đoàn thanh niên được đưa ra đường nếu thấy ai còn để đuôi sam thì sẽ lẻn tới cắt trộm mái tóc của họ. Nhiều thành phố có quan nha thiết lập trạm cắt tóc những ai chưa tuân lệnh. Nhiều chuyện cãi vã xảy ra nhất là những người bị cắt bất ngờ nên đã nguyền rủa: “Chúng mày cắt tóc của tao thì sẽ có người cắt đầu chúng mày”. Tuy nhiên phần lới chỉ biết khóc lóc chạy trốn mặc dù cũng có một số hung hăng chống cự lại.
Ở nước ta cũng có phong trào đổi mới cắt tóc ngắn vào đầu thế kỷ do những nhà nho có óc tiến bộ đề xướng nhưng thực ra cũng có tính ép buộc của chính quyền Pháp. Nguyễn Vỹ, một nhà văn không mấy nổi tiếng thời tiền chiến nhưng lại khá thành công khi ông chủ trương một bán nguyệt san với tên Phổ Thông ở Saigon trong nhiều năm. Phổ Thông là một tạp chí dành cho đại chúng tương tự như Selection của Pháp hay Reader’s Digest của Mỹ, cung cấp những kiến thức khá hấp dẫn. Trong số những mục thường xuyên do chính Nguyễn Vỹ đảm trách có một truyện dài, nửa tiểu thuyết, nửa hồi ký nhan đề Tuấn, Chàng Trai Nước Việt (chứng tích thời đại từ 1900 đến 1970) kể về những biến đổi xã hội vào đầu thế kỷ XX, khi người Pháp tuy mới chiếm Việt Nam trong khoảng 40 năm nhưng đã thiết lập được một bộ máy hành chánh khá chu đáo. Giai đoạn này cũng là thời kỳ chuyển giao từ Hán học sang Tây học và Quốc Ngữ đưa đến những biến động tâm lý và xã hội khi người dân phải từ bỏ cách thức, tập quán cũ để theo đuổi những hình thức mới mà người Pháp đem sang. Bắt buộc đầu tiên mà học trò phải tuân thủ là không còn được để tóc dài như cha mẹ, ông bà mà phải hớt tóc ngắn mới được nhập học. Nguyễn Vỹ đã miêu tả rất sống động cái cảnh một thanh niên chuyển từ búi tóc sang hớt ca rê.

… Trưa hôm ấy, chàng thanh niên Lê văn Thanh về nhà thưa với cha, là ông Xã Quý, về việc cúp tóc. Ông Xã không chịu. Ông đập bàn, đập ghế, la hét om sòm:
— Con có cha, như cái đầu có tóc. Theo phong tục nước An-Nam, con phải để tóc, ấy là để thờ Cha Mẹ, ấy là có hiếu. Cắt tóc đi cũng như là từ bỏ cha mẹ. Tao theo sách thánh hiền dạy’ lễ giáo từ xưa tới nay của nước An-Nam như thế. Tao đấy đã 50 tuổi, ông Nội bà Nội mầy đã quá vãng rồi, mà tao còn búi tóc, để giữ đạo làm con cho trọn chữ Hiếu. Huống chi ngày nay tao còn sống mà mầy lại cắt cái búi tóc bỏ đi sao được! Chiều mầy vô trường thưa với Quan Đốc-Học như thế.
Nói xong, ông Xã ngồi khóc ròng rã. Chàng con trai Lê văn Thanh, cũng khóc nức nở. Bà Xã, ở dưới bếp chạy lên nghe câu chuyện của chồng vừa nói, cũng ngồi xuống ngạch cửa, khóc hu hu. Ông Xã nói tiếp, với giọng tức tối:
— Làm con, có cái búi tóc ở trên đầu để thờ Cha kính Mẹ mà cắt bỏ đi, thì còn gì là Cha con, Mẹ con nữa !… Mầy mà nghe lời người ta cắt bỏ cái búi tóc, thì là tao nhảy xuống giếng tao tự tử !
Ông lại khóc to lên, hu ! hu ! hu !
Ông Xã khóc, bà Xã khóc, chàng thanh niên Lê văn Thanh cũng khóc, nhưng rốt cuộc rồi cái búi tóc trên đầu chàng cũng phải cắt bỏ đi, tóc phải cúp « carré », và Quan Đốc học trường Nhà Nước đã truyền lệnh như thế. Nhưng năm 1910, tận nơi tỉnh lỵ mà tôi đang nói đây — cũng như tại các tỉnh khác ở Trung Việt, chỉ mới có một vài người làm nghề hớt tóc mà thôi. Chú Bảy theo ghe nước mắm vào Đồng Nai học nghề cúp tóc trước đó một vài năm. (Lúc bây giờ, cho đến khoảng 1920, ở các tỉnh Trung Việt, người ta vẫn gọi Saigon là Đồng Nai. Danh từ « Saigon » chưa được thông dụng) Chú mua kéo, « toon-đơ », dao cạo, cũng ở tại Đồng Nai, đem về mở tiệm cúp tóc ở tỉnh lỵ. Nói là mở tiệm, nhưng chú chỉ thuê một xó hè của một tiệm buôn khách trú, đặt một cái bàn con, một chiếc ghế đẩu, và treo một tấm kiếng trên vách tường, thế là đủ cho chú hành nghề. Chú treo tấm vải trắng phía ngoài đường, trên vải chú viết bằng mực Tàu, một chữ Tây: « COIFFURE », và chua ở dưới hai chữ Hán (Thế Phát: Cắt tóc). Chữ Quốc ngữ vì chưa được truyền bá, ít người biết, nên chú thợ hớt tóc chỉ viết quảng cáo bằng chữ Hán và chữ Tây, mặc dầu chữ tây cũng chưa mấy người học đến. Chú đề chữ tây cho oai, bắt chước chữ tàu học lỏm trong Đồng Nai, và thỉnh thoảng chú nói với một vài bác lính tập: “ Tui làm cốp-phơ cho quan Công-Sứ”.
Vì vậy mà trong tỉnh, người ta gọi chú là « chú Bảy cốp phơ ».
Chiều hôm ấy, chàng thanh niên Lê văn Thanh đến tiệm hớt tóc, nét mặt rầu rĩ, nói với chú Bảy « cốp phơ »:
— Chú Bảy đem đồ qua nhà tôi, cúp tóc cho tôi được không chú ? Vì ông già tôi còn phải cúng Ông Bà để cho tôi cắt tóc.
Chú Bảy cốp phơ gật đầu lia lịa:
— Thầy Xã nói phải. Cái búi tóc trên đầu mình là của Ông Bà cha mẹ. Cắt nó đi là có tội, cho nên phải cúng Ông Bà. Cúng một lần rồi sau khỏi cúng chớ sao.
— Quan Đốc học bắt học trò phải hớt tóc, tôi tuân lịnh Quan, chớ nói thiệt với chú, người An Nam mình có cái búi tóc để thờ Ông Bà cha mẹ, cắt đi phạm tội bất hiếu.
— Phải, cậu Bốn có học sách Thánh Hiền cậu nói tôi nghe được.
Cậu Bảy cốp phơ gói dao, kéo, toon-đơ, gương, lược vào trong một gói vải đỏ rồi xách tòn ten đi theo cậu Bốn Thanh đến nhà ông Xã. Trên bàn thờ ông bà, có bày một hộp trầu cau, một nải chuối chín và một con gà luộc. Mâm gỗ lớn đựng mười chén cháo và mười đôi đũa, đặt trên bộ ván kê trước bàn thờ. Ông Xã thắp đèn hương, đứng khấn vái hồi lâu. Ông khấn như sau đây:
« Bữa nay, thằng con bất hiếu Lê văn Thanh, tuân lệnh Quan, phải cắt tóc để đi học trường Nhà Nước, nên có lễ vật để cáo với liệt vị tiền nhân, các bậc Cao tằng Tổ khảo với Tổ phụ, Tổ mẫu, chứng giám. Xin vong linh liệt vị phù hộ cho con cháu, để nó học hành, công danh hiển đạt ».
Khấn xong, ông lạy ba lạy. Đến lượt Lê văn Thanh, áo dài, khăn đen với cái búi tóc trên đầu, cũng lạy ba lạy. Xong nghi lễ cáo với ông bà, ông Xã đưa tay vẫy gọi chú Bảy cốp phơ đứng khúm núm ngoài hè. Chú vào kéo một chiếc ghế để ngay chiếc bàn thờ, bảo Lê văn Thanh ngồi. Thanh gỡ cái khăn đen trên đầu ra, cung kính đặt nó trên một chiếc khay bên cạnh mâm cháo gà, vái thêm ba vái nữa rồi mới ngồi ghế. Chú Bảy bảo chàng xõa búi tóc ra. Một lọn tóc đen mướt chảy lòng thòng xuống đến nửa lưng. Chú Bảy cốp phơ tự thấy mình đang đóng một vai trò trọng đại, nên chú làm ra vẻ oai vệ, lấy vạt áo lau lại hai lưỡi kéo trước khi lùa lọn tóc nắm vừa vặn trong bàn tay, rồi tay kia cầm kéo cắt sát trên đỉnh đầu. Tóc dài quá, kéo thì lụt, chú Bảy phải xáp đến bốn năm lượt búi tóc mới rơi hết xuống đất thành một đống đen ngòm.
Bà Xã đứng gần đấy, òa lên khóc, thê thảm, quay lưng đủng đỉnh vào nhà trong. Ông Xã rưng rưng hai ngấn lệ. Trên bàn thờ, ba que nhang cùng tỏa ra một làn khói thơm nồng, cuồn cuộn lên cao. Ngọn đèn dầu phọng cháy tỏ như thể có vong linh các đấng tiền nhân đang chứng minh nghi lễ « thế phát » của đứa con trưởng nam trong gia đình.
Chú Bảy cầm « toon-đơ » ủi một đường từ ót lên tới đỉnh đầu. Một luống tóc theo lưỡi toon-đơ bị hất ra hai bên, rụng tơi bời xuống ghế. Nhiều mớ tóc còn muốn bám chặt vào cổ áo của Lê văn Thanh, chưa chịu rời ra.
Thanh cúi đầu ngồi yên lặng, không quẫy cựa. Chàng có cảm tưởng đang cam chịu một thay đổi lớn lao trong đời chàng, và mỗi mớ tóc xác xơ rơi xuống đất là một chút dĩ vãng đang rời khỏi đầu óc của chàng trai nước Việt đương buổi giao thời.
Nén nhang trên bàn thờ vừa tắt, thì tóc của Lê văn Thanh cũng vừa hớt xong, theo kiểu ca-rê (vuông) Chú Bảy lấy dao, cạo tém xung quanh gọn gàng, sạch sẽ, xong đưa tấm kiếng cho Thanh soi, và cười đắc chí, bảo:
— Cậu Bốn thấy không, cái đầu của cậu cúp ca-rê như vậy có khác gì cái đầu của thầy Thông, thầy Ký đâu nè.
Lê văn Thanh soi gương, tủm tỉm cười. Nghe chú Bảy cốp phơ khen cái đầu giống thầy Thông, thầy Ký, chàng khoái lắm, nhưng không dám nói ra. …
(Tuấn, chàng trai nước Việt, 1969 tr. 37-41)
Trong giai đoạn mà nước ta thay đổi khá nhanh – cũng vì người Pháp cai trị trực tiếp – nhiều tập quán mới bị cưỡng chế thì Trung Hoa lại bị cái vấn nạn đuôi sam mà tiếng Anh có cái tên khinh miệt là pigtail (đuôi lợn) hay queue (đuôi sam). Câu chuyện cắt bỏ đuôi sam của người Tàu là một câu chuyện dài, không ít phần mâu thuẫn giữa các thành phần xã hội. Trong thiên khảo cứu này, cũng nên nói dài dòng một chút cho cái tập quán đeo đuổi dân Trung Hoa suốt đời Thanh (1644-1911), tính ra đến hơn hai thế kỷ rưỡi.
Trước đây, chúng tôi đã có làm hai nghiên cứu ngắn về sự tàn huỷ cơ thể của Trung Hoa. Đó là việc bó chân cho con gái để họ có bàn chân búp sen nhưng thực tế là một cuộc tra tấn lâu dài và tàn ác. Bên cạnh đó, hàng ngàn, có khi lên đến hàng vạn nam nhân bị thiến để đưa vào hầu hạ trong cung, sống cuộc đời nam không ra nam, nữ không ra nữ.
Những chi tiết về tóc đuôi sam chủ yếu được rút ra từ sách có nhan đề Chinese Potpourri (Nồi lẩu Trung Hoa) của James Zee-Min Lee in tại Hongkong (The Oriental Publishers) năm 1950 (tái bản 1951, 1961). Đây là một cuốn sách viết nhiều vấn đề của Trung Hoa ¾ thế kỷ trước, khá thú vị vì tác giả đã tìm hiểu trong cộng đồng của chính mình, pha trộn với nghiên cứu từ sách vở. Đây là những quan sát của một Trung Hoa buổi giao thời, không khác gì những kinh nghiệm cá nhân mà Nguyễn Vỹ từng trải khi ông còn trẻ. Zee-Min Lee cũng trực tiếp phỏng vấn rất đông đồng bào ông trên nhiều nơi, thu góp được những mẩu ký ức từ nhiều vùng nên cái nhìn của ông rất đa dạng.
Lịch sử Trung Hoa có những bước ngoặt rất bất ngờ. Gần như suốt lịch sử mấy nghìn năm họ búi tóc trên đỉnh đầu. Hình ảnh dễ thấy nhất là tượng những người lính bằng đất nung (terra-cotta) trong mộ Tần Thuỷ Hoàng. Qua hàng nghìn pho tượng đất người ta có thể tìm hiểu khá chi tiết về khuôn mặt, vóc dáng, để râu nhưng tất cả đều có chung một kiểu tóc búi lên. Thế nhưng cái tập quán lâu đời ấy đã thay đổi khi quân Thanh lấy được trung nguyên.
Khi mới chiếm được Trung Hoa, nhà Thanh đã ra lệnh cho người Hán phải cạo đầu tết tóc đuôi sam để chứng tỏ sự tuân phục triều đình, ai không tuân lệnh thì sẽ mất đầu. Kể từ đó tóc đuôi sam được coi như một đặc trưng của người Trung Hoa, một biểu tượng không thể thiếu trong những tranh hí hoạ khi muốn miêu tả người Tàu.
Việc Trung Hoa thuộc về người Mãn Châu là một câu truyện dài và nhiều tài liệu miêu tả với nhiều tình tiết khác nhau. Thế nhưng phổ biến nhất vẫn là việc quân của Lý Tự Thành, ngoại hiệu Sấm Vương, khởi đầu Thiểm Tây rồi lan rộng ra cả vùng tây bắc cho đến khi tiến quân chiếm lấy Bắc Kinh. Quân Minh lúc ấy không còn sức chống cự nên kinh thành dường như bỏ ngỏ, quân phiến loạn vào chiếm đóng cướp của, gian dâm, đốt phá, lửa cháy ngợp trời. Vua Sùng Trinh ở trong cung nhìn ra ngoài thấy tình hình không còn có thể cứu vãn được nên càng thêm hoảng loạn. Các quan lại và triều đình ai nấy lo thân chạy trốn.
Theo sử sách, trong những giờ phút cuối, bên cạnh ông chỉ còn một hoạn quan hộ giá. Hai người trèo lên một ngọn đồi ở sau cung điện có tên là Môi Sơn (煤山) và nơi đây cả hai treo cổ trên một cây keo (acacia). Đó là số phận của ông vua sau cùng của nhà Minh ở Bắc Kinh.
Trong khi Lý Tự Thành chiếm đóng kinh thành thì lực lượng tinh nhuệ nhất còn sót lại của nhà Minh là đoàn quân đóng ở Sơn Hải Quan, cửa ngõ thông qua đất của người Mãn Châu. Nhà Minh có ba cửa ngõ thông ra bên ngoài, Sơn Hải Quan ở phía bắc, Ngọc Môn Quan ở phía tây và Trấn Nam Quan ở phía tây nam, tất cả đều có trọng binh trấn giữ. Trấn Nam Quan chính là cửa ải ở phía bắc nước ta, còn gọi là Nam Quan.
Trong ba cửa ải này, ngoài Sơn Hải Quan thì Ngọc Môn Quan là nơi ngăn ngừa các giống Hung Nô, Thát Đát mà người Trung Hoa gọi là Khuyển Nhung gồm những giống dân du mục, sống trên thảo nguyên, mỗi khi đói kém lại tràn xuống cướp bóc lương thực. Cái nạn bắc xâm trong nhiều thế kỷ là một hiểm hoạ nên nhiều triều đại Trung Hoa phải bỏ không biết bao nhiêu sinh mạng, công sức, tiền bạc để xây một bức tường dài ngăn Hung Nô tràn xuống. Bức tường đó được gọi tên là Vạn Lý Trường Thành, đến nay được dùng làm thắng cảnh du lịch nổi tiếng với câu “Bất đáo Trường Thành phi hảo Hán”.
Sơn Hải Quan khi đó do tướng nhà Minh là Ngô Tam Quế trấn giữ và người Mãn Châu nhiều lần chiêu dụ họ Ngô cộng tác với họ, văn (khuyên nhủ) hay võ (công phá), đều không thành công. Khi nghe tin kinh thành thất thủ, họ Ngô bị kẹp giữa hai lực lượng, phía đông bắc là Mãn Châu, phía tây nam là Sấm Vương. Trong khi ông còn đang phân vân sẽ phải trở giáo theo phe nào thì tin cấp báo cho hay cha ông và toàn bộ gia đình đang sống ở Bắc Kinh đã bị Lý Tự Thành bắt giữ làm con tin. Tệ hơn nữa, người ái thiếp xinh đẹp của ông ta tên Trần Viên Viên cũng bị Sấm Vương chiếm đoạt và xâm phạm. Biết rằng với lực lượng ít ỏi của mình không chống nổi cả hai bên, Ngô Tam Quế viết thư xin hàng lãnh tụ Mãn Châu Đa Nhĩ Cổn (Dorgon) để mượn binh về đánh họ Lý. Đây là cái tin vui mà người Thanh chờ đợi ¼ thế kỷ qua.
Ngày 26 tháng 5, 1644 quân Thanh tiến vào Sơn Hải Quan nay đã mở rộng chào đón họ. Như chim sổ lồng, đoàn quân Thát Đát hung hãn tràn vào kinh đô. Đám quân ô hợp của Sấm vương thua to nhưng chẳng bao lâu đã bị tàn sát. Chính Lý Tự Thành là người bỏ chạy trước để lại đám tàn quân.
Sau khi các lực lượng đối kháng đã bị tiêu diệt, người Mãn Châu tự lập triều đình với lực lượng 20 vạn quân đóng tại kinh thành chứ không rút về phía bắc như họ hứa hẹn. Nhà Thanh phong cho Ngô Tam Quế làm Bình Tây Vương và Đa Nhĩ Cổn đưa cháu lên làm vua đầu tiên của triều đại, tức vua Thuận Trị nhà Thanh.
Tiếp theo sau, một sắc chỉ ra lệnh cho tất cả những ai là thần dân của Đại Thanh phải tuân theo việc để tóc và mặc theo y phục của người Mãn Châu. Điều đó có nghĩa là mọi người nam đều phải cạo nửa đầu phía trước và tóc chung quanh phải cạo khoảng 5 phân tính từ dưới chân tóc đi lên. Tóc còn lại để dài tết thành một cái bím thả ra sau lưng chứ không được tết thành một búi như trước nữa. Kiểu tóc đuôi sam đó được duy trì cho đến khi nhà Thanh sụp đổ.
Đây là một cái tin chấn động và một số đông phản kháng tích hoặc tiêu cực. Những người sống gần bờ biển thì dùng thuyền chạy ra khơi, đến định cư ở những nơi quyền hành nhà Thanh chưa vói tới. những đợt di dân xuống khu vực Đông Nam Á tạo thành biến động chính trị và trong trường kỳ cũng xây dựng được những thế lực kinh tế, quân sự, có khi thành một tiểu quốc do người minh hương cầm đầu. Minh hương là cái tên đặt cho những ai còn hoài vọng nhà Minh, muốn sống như dân nhà Minh ở các vùng đất mới.
Một số người khác thì lên núi làm đạo sĩ. Cái danh hiệu đạo sĩ không bị ràng buộc bởi luật lệ này nhưng đó cũng chỉ là phản ứng tiêu cực. Một số khác thì đi làm sư tuy phải cạo đầu nhưng cũng là một cách chống đối. Chính vì việc “phản Thanh” vào thế kỷ XVII rất đa dạng mà ngày nay nhiều tập thể tưởng như rất cũ nhưng thực ra chỉ mới phát triển vài thế kỷ gần đây. Đạo sĩ, tăng lữ là nguồn gốc phát sinh ra các bộ môn huyền cơ – không phải bắt đầu nhưng chính là vùng đất vun trồng của nó – như địa lý, thuật số, bói toán. Cũng từ tầng lớp tăng đạo, cái gọi là võ thuật (martial arts) biến thái thành những môn phái mà gần đây được huyền thoại (hay huyền hoặc) hoá rất nhiều. Những bài quyền được nguỵ trang trong cách thức nhận đồng môn, phân đẳng cấp khởi đầu từ những hội kín – tức xã hội đen – là những tổ chức ngầm chống chính quyền. Gần đây ảo giác về quyền thuật lẫn lộn giữa hoa mỹ và thực chiến đã chịu nhiều thử thách, đánh tan cái huyền thoại mà người ta hằng tin theo. Giới đạo sĩ cũng di cư xuống Tứ Xuyên là nơi xa xôi hẻo lánh cho đỡ bị dòm ngó.
Thế nhưng việc gì rồi cũng có những bước ngoặt mới. Bang hội từ nguyên thuỷ là chống nhà Thanh thì về sau lại phò triều đình. Dưới danh nghĩa “phò Thanh diệt Dương”, cuối thế kỷ XIX nhiều hội kín đã tuân phục để trở thành một lực lượng của Thanh triều lấy tên là Nghĩa Hoà Đoàn, tuyên truyền pháp thuật, súng bắn không chết mà người ngoài gọi là Loạn Quyền Phỉ hay Boxers. Sau khi tan rã, một số dư đảng chạy ra bên ngoài cũng hình thành những nhóm “mãi võ” mưu sinh, thần quyền dùng bùa chú hay thuốc kích thích để nguỵ trang những hoạt động siêu nhiên của họ. Đó cũng là lý do ở các vùng đất mới như châu thổ sông Cửu Long các ông đạo và tôn giáo mới được nhiều người tin theo.
Trở lại việc kết tóc đuôi sam và đội một chiếc mũ chóp nay là một biểu tượng của Trung Hoa coi như không thể thiếu cho cả dân tộc, trong cũng như ngoài nước. Những ai có một bím tóc dài đen là một niềm hãnh diện, một hình ảnh của người Tàu và tranh hí hoạ của Tây phương khi muốn miêu tả người Tàu thì đuôi sam, răng vổ, mắt hí, áo dài thùng thình … là những góc cạnh không thể thiếu.
Đến đời Càn Long, việc ép buộc tuân theo, là người dân thiên triều thì phải theo y phục, mũ nón nhà Thanh lấn áp cả tập quán dân tộc. Vua Lê Chiêu Thống và những người đi theo phải gióc tóc, mặc áo theo kiểu nhà Thanh. Bốn người là bọn Lê Quýnh vì không chịu tuân theo nên bị phạt nặng, mặc dù họ không có tội tình gì cả ngoài cái án “bất tuân”. Vua Càn Long cũng từng phán rằng nếu nhóm Lê Quýnh quần áo rách rưới thì chỉ phát cho y phục kiểu Tàu chứ không được thay bằng y phục An Nam. Ông cũng nhắc lại một án lệ cũ khi tù nhân người Hồi xin đổi đừng cho ăn thịt heo theo kiêng cữ của họ thì ông nói rằng nếu không ăn thịt heo thì nhịn đói.
Việc chống đối triều đình về việc cải cách y phục này dần dần nhạt nhoà vì nhà Thanh cũng cạo đầu những tù nhân như một dấu tích phạm tội nên việc kết tóc đuôi sam cũng là một thứ “thẻ căn cước” để chứng tỏ thân phận mình. Vả lại ngoài việc sinh hoạt bình thường, người dân còn cần tham gia những hoạt động xã hội khác nên không ai muốn bày tỏ thái độ chống đối triều đình. Đến thế kỷ thứ XVIII, ăn mặc theo y phục và kiểu tóc nhà Thanh không còn là một nhắc nhở về việc bại trận nữa. Những ai có mái tóc dài với cái đuôi sam chấm đất lại coi mình có một cốt cách phong lưu. Nhiều người không có diễm phúc ấy phải dùng một bộ tóc giả. Khi gọi ai vô biện (無辮) tức không có búi tóc là một hình thức sỉ nhục.

Theo phong tục Trung Hoa thì khi đứa trẻ con trai sau khi sinh được một tháng người ta sẽ cạo đầu, chỉ để lại một cái chỏm trên đỉnh để che cái thóp (fontanel) là nơi xương sọ chưa che hết. Việc cạo đi những sợi tóc máu này là để cho tóc mọc lại được dày hơn. Buổi lễ được tổ chức bằng một tiệc mừng gọi là “Ăn Đầy Tháng”. Sau đó từ một đến năm tuổi, đứa trẻ sẽ luôn luôn được cạo đầu nhưng để lại những cái chỏm theo hình dáng mà người mình gọi là để trái đào. Đến khoảng sáu tuổi thì từ đó tóc mới được nuôi và mọc tự nhiên và chỉ cạo quanh chân tóc chừng một inch (2.5 cm). Việc này có tên là “Nuôi Dưỡng Gốc Bím”. Lúc đầu còn ngắn nhưng khi dài thêm một đoạn nữa thì người ta chia thành từng cụm để buộc ra những cái đuôi sam nhỏ gọi là “Tóc Pháo” vì giống như những chiếc pháo buộc vào đầu. Khi khoảng 14 tuổi thì tóc đã đủ dài để tết thành một sợi mà thôi. Lúc đó sẽ thả xuống sau lưng và đó là dấu hiệu đã thành nhân.
Vào thời này, tuổi thành hôn của con trai là 18 và tối hôm trước ngày cưới vào một thời gian thuận tiện thì người ta có một nghi lễ để sửa soạn cho chàng trai, nếu không có nghi lễ này thì anh ta vẫn bị coi là đồng niên chưa được thành người lớn. Một người có vai vế cao trong làng, thường là một vị tuổi cao đức trọng, đời sống sung túc nhiều con lắm cháu được mời tới để cử hành tượng trưng cho những phúc lộc mà người ta ban cho cặp vợ chồng. Buổi lễ diễn ra trong gian thờ của nhà chú rể, trên bàn thờ để nhang đèn, và các loại đồ cúng tế như rượu và các món ăn, hoa quả là những phẩm vật dâng lên tổ tiên.
Một cái khay trên đặt một bộ quần áo mới, kèm một chiếc mũ có chỏm cũng được đặt trên bàn thờ. Sau khi mọi thứ đã xong, chú rể được đưa tới trước bàn thờ để làm lễ gia tiên rồi ngồi trên một cái ghế hướng về bàn thờ. Vị tuổi cao đức trọng khi đó sẽ xổ cái đuôi sam của chú rể ra rồi lấy lược chải. Người chủ lễ đứng bên cạnh đọc một câu tụng niệm mỗi một lọn tóc được tháo ra. Nghi lễ có thể mỗi nơi một khác nhưng bài kinh đó ở Quảng Đông thì như thế này:
Lọn tóc đầu tiên là nay đã thành người lớn, luôn luôn đáng kính như những người đồng bào của mình,
Lọc tóc thứ hai là để cho cô dâu chú rể luôn luôn hoà hiệp,
Lọn tóc thứ ba là để cho hai vợ chồng sống chung đến lúc râu tóc bạc phơ,
Lọn tóc thứ tư là mong cho cô dâu chú rể con cháu đầy đàn.
Sau khi xổ ra mười lọn tóc thì khi buổi lễ xong lại bắt đầu tết lại đan thêm một dải lụa đỏ để chứng nhận là buổi lễ đã được thực hành. Sau đó chú rể được tặng cho một chiếc mũ đường quan (mũ có tua đỏ và chóp) thay một bộ quần áo mới. Từ đó nam nhân mới được coi là trưởng thành.
Cũng như để râu, việc cạo tóc trên đầu cũng có nhiều kiểu nhưng tựu trung ba loại thông dụng hơn cả: kiểu thượng lưu (dandy) dành cho người có danh vọng, kiểu thương nhân (merchant) dành cho giới buôn bán hay giới học trò còn kiểu thợ thuyền (worker) dành cho công nhân.
Kiểu thượng lưu cạo tóc rất ít chỉ chừng một phân từ chân tóc trở lên và để dài khoảng 3 phân vòng quanh đầu cho nó chĩa ra thành hình như một cái mũ nồi (coronet). Với thanh niên, đây là một kiểu tóc rất sành điệu.
Kiểu thương gia hay học trò thì tóc cổ điển hơn, chân tóc cạo chừng 5 phân hay nhiều hơn chung quanh đầu còn lại để tóc cho dài thành một dải thả ra sau lưng. Theo thông lệ thì cứ ba đến năm ngày phải cạo tóc một lần. Nếu tóc không đủ dài, người ta phải dùng tóc giả hay các dây lụa tết thành đuôi sam sao cho thả xuống đến bắp chân mới được. Chỉ con gái mới dùng dải lụa màu đỏ hay hồng còn con trai thì luôn luôn màu đen. Khi cha hay mẹ qua đời, con trai dùng dải lụa màu trắng một thời gian và sẽ không cạo tóc trong một trăm ngày là thời kỳ để tang.


Trái: Cạo đầu. Phải: Tết tóc. Nguồn: Hong Kong 100 years ago và The Chinese Century
Đối với giới công nhân thì cũng làm như thế, có điều chân tóc được cạo cao hơn kiểu tóc nho sinh và chỉ chỏm tóc trên đầu mới để dài. Tóc tết cũng chặt hơn để khỏi xổ ra làm trở ngại cho công việc. Khi làm việc họ có thể cuốn cái đuôi sam quanh đầu hay quanh cổ cho khỏi bất tiện. Tuy nhiên việc làm này cũng chỉ được phép khi đang làm việc hay ngồi ăn chứ nếu ở đời thường, đó là một hành vi thách thức chẳng khác gì mấy tay anh chị xắn tay áo lên khi sắp đánh nhau. Một khi chào hỏi hay muốn nói chuyện với ai, người thợ phải thả đuôi sam xuống vì đó là một cách thức bày tỏ sự cung kính.
Cái đuôi sam ngoài việc làm hoạt động thêm vướng víu cũng còn thiếu vệ sinh, cũng chẳng có một công dụng gì. Thời gian chải gỡ và tết tóc tốn rất nhiều thời gian nhất là ở Trung Hoa trước đây phương tiện thiếu thốn nên việc có được một đầu tóc chỉnh tề thì chỉ cốt sao cho khỏi mất mặt là chính. Những dầu bóng mà người ta dùng để giữ cho tóc được mượt mà thường tạo thành những vết bẩn sau lưng áo nên cũng tốn thì giờ giặt giũ cho sạch sẽ.
Việc duy nhất có chút công dụng là khi người cha giận dữ dùng ngay cái đuôi sam làm roi tạm thời để dạy dỗ đứa con ngỗ nghịch. Cuối đời Thanh khi chương trình học đã cải biến theo lối học Tây phương thì có khi học trò dùng làm dụng cụ vẽ vòng tròn trên bảng đen trong những bài toán hình học. Trẻ con có khi dùng đuôi của chiếc đuôi sam để ngoáy tai, ngoáy mũi bạn đồng môn khi trêu đùa.
Trẻ con cũng còn nghịch ngợm lén buộc tóc hai đứa khác vào nhau để khi chay ra hai phía sẽ bị vướng đưa đến những trận cười chế nhạo.


Nguồn: The Chinese Century: A Photographic History of the Last Hundred Years.
Lính mã tà người Sikh trong các tô giới của người Anh được cai trị bằng các thoả ước riêng biệt (chứ không theo luật Trung Hoa) một khi bắt giữ những thành phần “ngoài vòng pháp luật” mà người Anh thuê mướn trên đường phố thường buộc các bím tóc thành một chùm như người ta xâu ếch để họ không thể bỏ trốn được. Cũng vì việc này, quan lại Trung Hoa đã phản đối coi như một hình thức hối nhục quốc thể nhà Thanh. Người ta vẫn tự hào là quần áo có thể rách rưới, cũ kỹ nhưng một chiếc đuôi sam được chăm sóc kỹ lưỡng vẫn là một hình thức thể hiện nhân cách, đói cho sạch, rách cho thơm của người Tàu. Nếu người ngoại quốc đùa rỡn hay khinh rẻ bím tóc của họ thì đó là một hình thức không thể tha thứ được.
Sau 200 năm cai trị, ở miền nam Trung Hoa đã xẩy ra một cuộc nổi dậy nhằm lật đổ nhà Thanh. Đó là loạn Thái Bình Thiên Quốc của Hồng Tú Toàn. Đây cũng không phải là lần nổi dậy lớn đầu tiên mà trước đó đã có những cuộc chống đối nhân danh tôn giáo và bang hội khá rầm rộ, lực lượng xây dựng được lên đến hàng chục vạn người.
Hồng Tú Toàn tự cho mình là con thứ của Thượng Đế trong đạo Ki Tô, em của Jesus Christ. Vụ nổi dậy bùng lên và lan nhanh qua nhiều tỉnh miền nam. Hồng Tú Toàn kêu gọi dân chúng bỏ tục cạo đầu thắt đuôi sam, quay lại y phục thời Minh như một quyết tâm cởi bỏ cái ách cai trị của người Mãn Châu. Lời kêu gọi này đánh thức tấm lòng ái quốc của dân chúng nên rất nhiều người chạy theo. Nhà Thanh lập tức kết án bất cứ ai không giữ tập tục của triều đình là “Giặc Tóc Dài”, mặc dù cái tên “trường phát” vốn đã có từ lâu. Trước đây, khi hải phỉ hoành hành ngoài biển ở phía đông, họ gọi là “Giặc Lùn” hay Nuỵ Khấu (Oa Khấu). đến khi hải phỉ tràn xuống phương nam thì nhà Thanh cho là là người di là chính nên họ gọi là Di phỉ. Người phương nam không tết tóc, cạo đầu như người Trung Hoa nên họ gọi là Trường Phát Di Nhân (người di tóc dài). Khi chúa Nguyễn Phúc Ánh đánh bại thuỷ quân Tây Sơn, một số tàn quân chạy sang vùng Quảng Đông ăn cướp, một số khác trốn vào các hòn đảo vùng duyên hải giáp với biên giới Trung Hoa nên nhân dịp đó nhà Thanh cho rằng Tây Sơn dung nạp hải phỉ và quay sang công nhận nhà Nguyễn. Cái tên Giặc Tóc Dài khi đó trở thành cái tên gọi cướp biển ở phía nam.
Khi giặc Thái Bình Thiên Quốc nổi lên, nhà Thanh đồng hoá với những người phương nam nên gọi chung là Giặc Tóc Dài, ai không cạo tóc đều là phản nghịch. Vì triều đình Hồng Tú Toàn không tồn tại lâu nên sau đó dân chúng lại quay trở về việc để tóc đuôi sam như cũ.
Cũng chính từ thời kỳ mà nhà Thanh suy yếu, sau Chiến Tranh Nha Phiến đến các hoà ước khác mở cửa biển, lập tô giới nên người ngoại quốc đều cho rằng để tóc đuôi sam là một truyền thống lâu đời của Trung Hoa. Khi người Trung Hoa di cư hay sang làm việc ở bên ngoài, đuôi sam trở thành một đặc trưng được đồng hoá với người Tàu. Hễ cứ đề cập đến người Trung Hoa, trên tranh vẽ, phim ảnh hay tiểu thuyết, cái đuôi sam là vật không thể thiếu.

Tô Định hà hiếp dân ta. Nguồn: Bảo Vân, Việt Sử Bằng Tranh (tập 5)
Không cứ gì người Âu Châu, đến ngay người Việt cũng không ngoại lệ. Cũng không mấy người biết rằng cái đuôi sam chỉ có từ đời Thanh mà tưởng như là một truyền thống lâu đời nên những tranh vẽ lịch sử của nước ta mỗi khi vẽ quân Tàu, quan Tàu thì đều dùng y phục cận đại như mẫu hình tiêu chuẩn. Từ quân Hán đánh Hai Bà Trưng đến quân Tống, quân Minh, hễ vẽ tranh đánh với quân Tàu thì người phương bắc phải có đuôi sam mà bên ta thì đội nón chóp. Thực ra những đặc điểm bên ngoài đó chỉ mới có từ đời Thanh và đời Nguyễn chứ không lâu hơn.
Ngày mồng 10 tháng October năm 1911, cuộc cách mạng Tân Hợi nổ ra và triều đại nhà Thanh bị lật đổ. Trung Hoa trở thành một nước Cộng Hoà kể từ ngày 12 tháng February năm 1912. Từ đó lời kêu gọi “Cắt bỏ đuôi sam” được hô vang trên toàn quốc. Một biện luận còn đi xa hơn nói rằng “đuôi sam không phải là của Trung Hoa mà là một hủ tục của người Mãn Châu, là biểu tượng khuất phục của người Trung Hoa, không thể không bỏ nếu muốn trở thành một nước Cộng Hoà thực sự. Kẻ nào không cắt bỏ đuôi sam là chống cách mạng”.
Những người ở miền Nam Trung Hoa, nhất là khu vực Quảng Đông hưởng ứng lời kêu gọi này trước hết và nồng nhiệt nhất. Họ không những cắt bỏ đuôi sam mà còn bỏ cả chiếc áo dài rộng thùng thình, đôi giày vải cũ kỹ để chuyển sang mặc theo lối Tây phương, đi giày da. Ở vào thời kỳ hơn 100 năm trước, những thay đổi này thực là tiến bộ. Thế nhưng đa số người dân không biết rằng cách ăn mặc của nhà Thanh chỉ mới hơn 200 năm lại không chấp nhận, coi đó là một hành vi bạn nghịch, bất trung đã soán ngôi thiên tử và bất hiếu khi cắt bỏ mớ tóc dài.
Người ta lý luận rằng tóc đuôi sam là một niềm tự hào dân tộc, cắt nó đi là bắt chước người nước ngoài, lẽ nào chúng ta lại đi theo bọn thực dân cướp nước? Vạn lần không! Thà chết còn hơn bỏ đi cái bím tóc. Đó chính là một phong trào chống lại cắt tóc ngắn. Những người cắt bỏ đuôi sam đối với quần chúng trông dị hợm và đi lại mất thăng bằng. Giới nho sĩ còn than rằng cắt bỏ đuôi sam không khác gì cắt bỏ cánh tay. Những trẻ em nhà quê còn tụ tập thành bầy đuổi đánh và lăng mạ những ai đã cắt tóc bằng khẩu hiệu: “Còn bím tóc thì là vua, mất bím tóc thì là giặc”.

Cắt đuôi sam đời Dân Quốc. Nguồn: The Chinese Century: A Photographic History of the Last Hundred Years.
Hàng ngàn thợ cạo đầu thắt đuôi sam cũng phản đối vì phải thay đổi nghề nghiệp. Trước đây họ chỉ cần dao cạo và lược gỗ, nay họ phải mua một bộ đồ nghề mới với giá cao, một chi tiêu mà họ coi là phí phạm. Trong nhiều tháng dân chúng phản đối việc cắt tóc và do đó những khu vực do chính quyền Dân Quốc kiểm soát nay vẫn còn rất đông người để đuôi sam. Chính quyền nay phải áp dụng biện pháp mạnh. Năm 1913, một số cơ quan và đoàn thể có tinh thần cấp tiến đã đưa ra quyết tâm cưỡng bách phải cắt bỏ mái tóc dài. Tại nhiều đô thị lớn, những đoàn thanh niên được đưa ra đường nếu thấy ai còn để đuôi sam thì sẽ lẻn tới cắt trộm mái tóc của họ. Nhiều thành phố có quan nha thiết lập trạm cắt tóc những ai chưa tuân lệnh. Nhiều chuyện cãi vã xảy ra nhất là những người bị cắt bất ngờ nên đã nguyền rủa: “Chúng mày cắt tóc của tao thì sẽ có người cắt đầu chúng mày”. Tuy nhiên phần lớN chỉ biết khóc lóc chạy trốn mặc dù cũng có một số hung hăng chống cự lại.

Một thanh niên trước và sau khi cắt bỏ đuôi sam. Nguồn: Chinese Potpourri.
Chẳng bao lâu phong trào cắt bím tóc lan ra mọi nơi trên đất Trung Hoa nên những người muốn giữ lại thì nay phải cuộn tròn dấu dưới mũ. Thế nhưng việc che đậy này không thoát khỏi ánh mắt soi mói của đám sinh viên vì họ thấy cái trò đi cắt tóc này rất thích thú. Một người giả vờ đến gần lỡ tay hất cái mũ ra và những người khác xông tới cắt gọn bím tóc trước khi nạn nhân kịp phản ứng.
Tuy những trò tai quái này không được mấy người hưởng ứng như cũng có tác dụng tâm lý. Người ta thấy rằng nếu tự mình “canh tân” nghĩa là đến một tiệm cắt tóc để cho thợ làm thì tốt hơn là đi ngoài phố mà bị ép buộc và nhục mạ. Người ta cũng thấy rằng để tóc theo kiểu Tây phương gọn gàng, sạch sẽ hơn, đi lại cũng dễ dàng hơn nên tự ý thay đổi. Tuy nhiên cũng mất đến một hai năm việc thay đổi này mới được chấp nhận một cách bình thường.
Đến giai đoạn sau này, chiếc bím tóc lại trở thành một hình thức phân biệt của thành phần Bảo Hoàng và những người theo chính thể Cộng Hoà. Đó là vào năm 1916 khi toàn nước Trung Hoa nay đã bừng tỉnh sau giấc ngủ dài và đã bước chân vào ngưỡng cửa canh tân. Đến lúc này việc cắt bỏ cái bím lượt thượt sau lưng được coi như hành vi yêu nước. Những người còn giữ cái đuôi sam nay thành cổ hủ và dị hợm mỗi khi ra đường. Tuy nhiên nay họ chỉ là một thiểu số phần lớn là người còn thích chế độ quân chủ và người Mãn Châu.
Kẻ được coi như nổi đình nổi đám nhất là Trương Huân (張勳), một nhân vật bảo hoàng có cái ngoại hiệu là “Lão Hổ”. Ông ta là tướng của Mãn Thanh và năm 1916 đã có mưu toan khôi phục chế độ quân chủ để đưa vua Tuyên Thống trở lại ngai vàng nhưng không thành công. Trương Huân không chịu cắt bỏ tóc nên còn có tên là Biện Soái (tướng đuôi sam), quân của ông ta gọi là Biện Tử Quân (quân đuôi sam). Tuy nhiên thái độ ngoan cố của Trương Huân lại gây ra tác dụng ngược vì nhiều người không còn muốn giữ trên đầu một biểu tượng của nhà Thanh, lại càng không muốn đi ngược với xu thế thời đại. Chiếc đuôi sam cũng biến mất cùng với sự sụp đổ của Thanh triều. Chính cái đuôi sam này là nguồn gốc của những việc đàn áp người Hán, “muốn giữ tóc thì mất đầu, muốn giữ đầu thì cạo tóc” của thời kỳ nhà Thanh mới nhập quan, ép buộc phải cạo nửa đầu để phân biệt gây ra những làn sóng chạy trốn, nay lại không ít người sống chết để giữ nó.
Thế nhưng di chứng của bím tóc vẫn còn tồn tại rất lâu. Người Âu châu chưa chịu buông tha cho cái hình ảnh rất đặc trưng là một người Tàu mắt hí, răng vổ với cái đuôi sam sau lưng và bộ áo dài trên người. Áo tay rộng, che phủ người vốn chỉ dành cho phụ nữ nên người Trung Hoa bị coi là quá nhiều nữ tính.
Không phải tết tóc sau đầu người Âu châu không có. Nhiều nhân vật quí tộc của họ cũng có “đuôi sam” tuy ngắn hơn theo kiểu của họ như vua George II, Louis XIII, hay quốc phụ của Hoa Kỳ là George Washington nhưng riêng người Trung Hoa bị kỳ thị và chính họ cũng chấp nhận như một đặc điểm của sự thấp kém hơn người quan ngoại. Trong thứ bậc của các sắc dân trong các triều đại Nguyên, Thanh thì Hán nhân luôn luôn không được coi là bình đẳng với các dân tộc khác.
William Makepeace Thackeray (1811-1863), một nhà văn kiêm hoạ sĩ trào phúng người Anh đã có một bài thơ nhan đề “A Tragic Story” miêu tả sự khôi hài việc để tóc đuôi sam như sau:
“A Tragic Story”
“Một câu chuyện buồn”
Đọc bài thơ này chúng ta hình dung ra cái bi kịch của người Trung Hoa, không khác gì con chó đuổi theo cái đuôi của mình nên cứ loanh quanh, lòng vòng mãi. Tuy bài thơ được viết cách thời kỳ Dân Quốc mấy chục năm nhưng cũng nói lên cái bế tắc khi muốn đoạn tuyệt với truyền thống. Ngay ở nước ta, việc cố giữ cái búi tóc – mà các cụ gọi là « búi tó củ hành » – cũng đã gây ra nhiều cảnh khôi hài khi một số nhà nho còn trung thành với nó như học giả Nguyễn Văn Tố chẳng hạn. Các cụ bị chế riễu có khi còn đưa lên mặt báo nói đây là nơi dung túng cho chấy rận.
Khi thời kỳ để tóc đuôi sam đã qua đi, ít người biết rằng đã có thời người ta trân quí nó, chẳng khác gì nhiều hủ tục khác, bó chân chẳng hạn. Thanh niên Trung Hoa nhiều người nghĩ rằng việc đó đã lâu lắm rồi nhưng thực ra không lâu, chỉ mới hơn trăm năm chứ mấy. Khi tôi còn bé, cụ giáo dạy tôi học Pháp văn thường kể chuyện đời vua Khải Định (1916-1925), tưởng như truyện đời xửa đời xưa nhưng nến tính ra thì chỉ cách lúc đó mới khoảng 40 năm (1963), ít hơn thời gian tôi sống xa quê hương. Bốn mươi năm đối với một đứa trẻ 15, 16 tuổi là cả một thời kỳ « hồng hoang ». Ngày hôm nay (2026), khi kể một câu chuyện xảy ra cho chính mình 60 năm trước thì người viết tưởng như mới hồi năm ngoái. Hai mươi năm giấc ngủ của Rip Van Wrinkle [1] cũng còn ngắn hơn nhiều.
Từ một bảo bối truyền thống trở thành một vật kinh tởm, một nỗi quốc nhục chỉ là ý niệm đổi thay. Điều đó có khác gì những cụ đồ nho ngày nào để móng tay dài mà hôm nay nếu chúng ta trông thấy chắc sẽ không thấy có gì trân quí cả.

Người ta kể rằng trong phim Welcome Danger (1929) mà tài tử khôi hài Harold Lloyd đóng vai chính được trình chiếu ở Đại Hí Lâu Thượng Hải, một số sinh viên cho rằng cảnh một người Trung Hoa để bím tóc bị rượt kéo là một xúc phạm đến danh dự của họ nên đã tẩy chay đòi tiền lại. Sự kiện trở thành một cuộc vận động gây ra nhiều rối loạn đưa đến kiến nghị đòi cấm cuốn phim và yêu cầu rạp chiếu bóng và diễn viên phải lên tiếng xin lỗi họ. Chính tài tử Harold Lloyd sau này cũng phân trần là ông không có ý khinh miệt người Trung Hoa mà chỉ thuần tuý nhằm chọc cười khán giả.
Nực cười thay, khi người Trung Hoa muốn đoạn tuyệt với cái quá khứ đuôi sam thì người nước khác vẫn tiếp tục coi đó làm biểu tượng của người Tàu. Chẳng cứ gì tại các nước Tây phương, nhiều nơi khác, trên báo chí, sách vở cũng đầy rẫy hình ảnh và lời lẽ kỳ thị người Trung Hoa. Trong những thời kỳ có xung đột với phương bắc, người Tàu ở Việt Nam cũng bị chống đối và ngược đãi.

Người Tàu hãy cút đi (hí hoạ). Nguồn: The Search for Modern China
…………………
[1] Một câu truyện do Washington Irving viết năm 1819 kể về một chàng trai lè phè muốn chạy trốn cô vợ hay cằn nhằn nên xách súng đi lên núi Catskill và gặp một nhóm người lả lùng đang chơi bóng. Anh chàng uống rượu của họ và say mèm, ngủ một giấc 20 năm, khi xuống núi thì nước Mỹ từ một thuộc địa của Anh nay đã thành một nước Cộng Hoà. Về đến nhà vợ anh cũng đã qua đời, chỉ còn một đứa con trai giống hệt anh. Câu chuyện này không khác gì chuyện Từ Thức của nước ta nói lên sự phù du của cuộc đời, mở mắt ra thấy đầu đã bạc.