Chủ Nhật, 23 tháng 8, 2026

Quản trị môi trường phân mảnh ở Đông Nam Á

Vì sao không ai có trách nhiệm


với tác động môi trường tích lũy trên toàn khu vực?



Phạm Phan Long



Sông Mekong Luang Prabang, Laos. Nguồn: Wikimedia photo


Lời dẫn nhập: Khủng hoảng môi trường ở Đông Nam Á không đơn thuần là khủng hoảng do ô nhiễm, phá rừng, khai khoáng hay xây dựng đập thủy điện. Đó còn là một cuộc khủng hoảng về trách nhiệm giải trình: Những tổ chức đưa ra các quyết định phát triển thường hoạt động riêng rẽ ở từng quốc gia, trong khi không có tổ chức nào có chức năng và trách nhiệm quản lý những tác động tích lũy, xuyên biên giới trên toàn khu vực do chính các quyết định đó gây ra.

Đông Nam Á không thiếu các cơ chế bảo vệ môi trường. Điều còn thiếu là một cơ chế đủ thẩm quyền để kết nối các quyết định phát triển với những tác động môi trường tích lũy mà chúng tạo ra. Trong số các thể chế phát triển quốc tế, ASEAN là tổ chức khu vực duy nhất bao trùm hầu hết Đông Nam Á và có đủ phạm vi chính trị để đưa những vấn đề này lên cấp khu vực.

Khi ASEAN đã long trọng tuyên bố rằng quyền được sống trong một môi trường lành mạnh là một quyền của con người, thì bảo vệ môi trường cho toàn khu vực không còn chỉ là vấn đề thuộc chính sách phát triển của từng quốc gia; đó đã trở thành trách nhiệm chung không thể né tránh của toàn khu vực. ASEAN đang đứng trước một sứ mạng, đồng thời cũng là một cơ hội chưa từng có. Sau đây là bài tóm lược khảo sát hoạt động của các tổ chức phát triển và đề xuất thành lập ASEAN Transboundary Environmental Protection Mechanism (ATEPM) để đảm nhận trách nhiệm này. Bài viết đã được Asia Sentinel đăng tải bằng tiếng Anh.


***

Bài viết lập luận rằng, Đông Nam Á đang đứng trước một nghịch lý lớn: Trong nhiều thập niên, khu vực đã xây dựng một mạng lưới thể chế ngày càng mạnh để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cơ sở hạ tầng, thương mại và hội nhập, nhưng chưa xây dựng được một hệ thống tương xứng để quản trị những hệ quả môi trường do chính quá trình phát triển đó tạo ra.

Từ năm 1966 đến nay, ADB, ASEAN, hợp tác Mekong, GMS, MRC và LMC cùng với APEC, các cơ quan Liên Hợp Quốc, chính phủ và khu vực tư nhân đã giúp Đông Nam Á kết nối ngày càng sâu rộng. Đường sá, đường sắt, hành lang kinh tế, hệ thống năng lượng, khai khoáng, nông nghiệp và thương mại xuyên biên giới đã tạo ra tăng trưởng và cải thiện đời sống cho hàng triệu người.

Nhưng kết nối kinh tế luôn đi kèm những hệ quả môi trường.

Một con đường có thể mở một vùng rừng cho khai khoáng và định cư. Một đập thủy điện có thể thay đổi dòng chảy tại địa phương; nhiều đập cùng lúc có thể biến đổi dòng chảy, phù sa và thủy sản của cả lưu vực. Khai khoáng, công nghiệp và nông nghiệp có thể đưa ô nhiễm vào các dòng sông quốc tế.

Vấn đề căn bản là môi trường không vận hành theo biên giới quốc gia. Sông, phù sa, ô nhiễm nước và không khí, cá, đa dạng sinh học và những thay đổi dòng chảy đều có thể vượt qua biên giới. Trong khi đó, các thể chế quản trị môi trường vẫn chủ yếu được tổ chức theo từng quốc gia, từng ngành hoặc từng lưu vực.

Vì vậy, kết nối kinh tế của khu vực đã tiến nhanh hơn kết nối trong quản trị môi trường.

Khoảng trống nằm giữa các thể chế

Bài viết không cho rằng Đông Nam Á thiếu thể chế. Ngược lại, khu vực có rất nhiều thể chế, nhưng chúng được tạo ra cho những mục tiêu khác nhau.



ADB có thể tài trợ hạ tầng. GMS điều phối các hành lang kinh tế. LMC thúc đẩy hợp tác phát triển giữa sáu quốc gia Mekong. MRC có chuyên môn sâu về thủy văn, thủy sản, phù sa, lũ lụt và hạn hán. ASEAN tạo khuôn khổ hợp tác chính trị.

Nhưng khi một sự cố môi trường vượt qua biên giới, không có một cơ chế đủ thẩm quyền để kết nối tất cả những năng lực này thành một hành động thống nhất: Điều tra, cảnh báo, bảo vệ cộng đồng và phối hợp phục hồi.

Đó là “lớp kết nối” còn thiếu trong quản trị môi trường khu vực.

ASEAN: tiến bộ quan trọng nhưng còn giới hạn

ASEAN có vai trò đặc biệt vì đây là thể chế chính trị khu vực chủ yếu của Đông Nam Á. Tuy nhiên, các nguyên tắc chủ quyền, đồng thuận, tham vấn và không can thiệp hạn chế khả năng ASEAN tự mình điều tra tổn hại môi trường trong một quốc gia hoặc yêu cầu hợp tác khi xảy ra tranh chấp nhạy cảm.

Tuyên bố ASEAN năm 2025 về Quyền được sống trong một môi trường an toàn, sạch, lành mạnh và bền vững là một bước tiến quan trọng về mặt chuẩn mực. Nhưng công nhận một quyền chưa đủ để bảo vệ quyền đó khi tổn hại môi trường vượt qua biên giới.

Do đó, bài viết không kêu gọi từ bỏ ASEAN mà đề nghị bổ sung chủ nghĩa khu vực về môi trường cho chủ nghĩa khu vực về chính trị.

Từ bảo vệ từng dự án sang quản trị cả hệ thống

Một trong những lập luận quan trọng nhất của bài là đánh giá tác động của từng dự án không còn đủ.

Câu hỏi truyền thống là:

Dự án này có chấp nhận được về mặt môi trường không?

Câu hỏi mới phải là: Điều gì xảy ra khi dự án này tương tác với hàng trăm dự án khác trong cùng một hệ sinh thái?

Vì vậy cần chuyển từ project safeguards sang system safeguards — từ bảo vệ từng dự án sang bảo vệ cả hệ thống — thông qua đánh giá tác động tích lũy, đánh giá rủi ro xuyên biên giới, giám sát chung và đặc biệt quan tâm đến hậu quả đối với hạ lưu.

Đề xuất ATEPM

Bài viết đề xuất ASEAN thành lập ASEAN Transboundary Environmental Protection Mechanism (ATEPM), không nhằm thay thế MRC, ASEAN hay các cơ quan quốc gia, mà kết nối những gì đã tồn tại.


ATEPM có sáu chức năng:

1. Giám sát môi trường khu vực bằng vệ tinh, cảm biến, phòng thí nghiệm, dữ liệu quốc gia và quan sát cộng đồng.

2. Điều tra môi trường nhanh bằng các nhóm liên ngành.

3. Kênh báo cáo an toàn cho cộng đồng, nhà khoa học, NGO, nhà báo, người bảo vệ môi trường và người tố giác.

4. Cảnh báo sớm khi ô nhiễm hoặc sự cố đe dọa quốc gia láng giềng.

5. Minh bạch và trách nhiệm giải trình thông qua hồ sơ công khai về sự cố và kết quả điều tra.

6. Quỹ Môi trường Khu vực để cứu trợ khẩn cấp và phục hồi lâu dài.

Một nguyên tắc đặc biệt quan trọng là:

Tổn hại môi trường không dừng lại ở biên giới; cứu trợ và phục hồi cũng không nên dừng lại ở đó.

Thông điệp cuối cùng

Bài viết không chống lại phát triển. Nó cũng không đề nghị tháo dỡ những thể chế đã góp phần làm thay đổi Đông Nam Á.


Thông điệp là quản trị phải bắt kịp một khu vực ngày càng liên kết.

Đông Nam Á đã dành nhiều thập niên xây dựng kết nối kinh tế. Nhưng các hệ sinh thái của khu vực vốn đã liên kết với nhau từ lâu. Điều còn thiếu là sự kết nối tương xứng trong quản trị môi trường.

Vì vậy, vấn đề cốt lõi không chỉ là ô nhiễm, phá rừng, khai khoáng hay thủy điện. Đó là khủng hoảng trách nhiệm giải trình: Những người và thể chế quyết định phát triển thường không phải là những người có đủ thẩm quyền để quản lý các tác động tích lũy và xuyên biên giới mà những quyết định đó tạo ra.

ATEPM được đề xuất để lấp chính khoảng trống đó.


Phạm Phan Long


24-8-2026