Thứ Hai, 5 tháng 10, 2026

Nhật Ký An Lộc: chiến tranh nhìn từ bàn mổ

 

Nguyễn Văn Tuấn

 

Cuộc chiến Quốc - Cộng Việt Nam đã kết thúc hơn nửa thế kỷ trước, nhưng dư âm của nó vẫn còn rất lâu trong ký ức của mọi người Việt Nam. 

 

Ngày 13/4/1972, quân đội Bắc Việt mở cuộc tấn công vào An Lộc, thuộc tỉnh lỵ Bình Long, cách Sài Gòn chỉ chừng 100 km về phía bắc. Quốc lộ 13 bị cắt. An Lộc bị bao vây. Pháo kích diễn ra gần như liên tục. Cuộc chiến kéo dài cả ba tháng trời, và sau đó, An Lộc gần như chỉ còn lại những đống gạch vụn. 

 

Những con số cho thấy mức độ khốc liệt của trận đánh. Theo một nghiên cứu của Mỹ, đã có khoảng 78,000 quả đạn pháo rơi xuống An Lộc trong ba tháng. Lược lượng Việt Nam Cộng Hoà phòng thủ An Lộc chịu khoảng 5,400 thương vong; trong đó có khoảng 2,300 người chết hoặc mất tích. Tổn thật của phía Bắc Việt khó xác định hơn vì không có công bố chánh thức, nhưng phía Mỹ ước tính rằng có hơn 10,000 người chết và 15,000 người bị thương. Số thường dân bị chết và bị thương không thể xác định, nhưng có hàng chục ngàn người trong tỉnh Bình Long phải bỏ nhà đi tị nạn. 

 

Những dữ liệu trên cho chúng ta biết quy mô của trận An Lộc. Nhưng những con số không kể được những câu chuyện đằng sau. Câu chuyện là trong thành phố bị bao vây, có một bệnh viện nhỏ. Và, trong bệnh viện đó, có một bác sĩ trẻ tên là Nguyễn Văn Quý. 

 

Nhật Ký An Lộc là câu chuyện về những ngày tháng ác liệt đó, do chính Bác sĩ Nguyễn Văn Quý ghi lại. 







Có nhiều cách và góc nhìn để kể lại một cuộc chiến. Người chỉ huy có thể nhìn chiến tranh qua bản đồ, phòng tuyến và tương quan lực lượng. Người lính nhớ những cuộc hành quân, những người đồng đội đã hy sinh và những lần mình thoát chết. Nhà sử học có thể nhìn chiến tranh qua tài liệu và những quyết định của các trận đánh. Còn với một bác sĩ quân y, chiến tranh hiện ra trong những thân thể bị thương, những người lính đang mất máu, những ca mổ phải thực hiện trong vài phút. 

 

Nhật Ký An Lộc của Bác sĩ Nguyễn Văn Quý là câu chuyện chiến tranh nhìn từ góc độ đó. 

 

Cuốn sách được xuất bản vào năm 2002 tại California và được Tập san Y sĩ Việt Nam - Canada và Việt Ecology Press tái bản năm 2026. Trong hơn 400 trang, tác giả kể lại những ngày tháng ông làm bác sĩ giải phẫu tại Bệnh viện Tiểu khu Bình Long, đặc biệt là những ngày An Lộc trở thành một chiến trường ác liệt vào năm 1972. Đây là một nhựt ký chiến tranh, một tài liệu về quân y, và cũng là câu chuyện của một bác sĩ trẻ phải tìm cách giữ sự sống trong một hoàn cảnh nguy hiểm trực chờ mỗi giây phút. 

 

Có lẽ tác giả đã nói khá rõ ý nghĩa mà ông muốn gởi lại. Ngay đầu ấn bản mới, ông đề tặng cuốn sách cho "một thế hệ tuổi trẻ đã đi qua chiến tranh, nhiều người không trở về". Ông gọi những trang sau đó là ký ức về một "cuộc chiến tương tàn" gởi lại cho những thế hệ mai sau. 

 

Chính cách nhìn đó làm cho Nhật Ký An Lộc đáng được đọc hơn nửa thế kỷ sau khi những sự kiện trong sách xảy ra. 

 

Từ trường y đến chiến trường 

 

Tác giả tốt nghiệp Đại học Y Khoa Sài Gòn năm 1967. Ông là con trai độc nhứt của một quả phụ, và ông có thể xin miễn quân dịch. Tuy nhiên, ông đã chọn con đường binh nghiệp. Năm 1968, ông gia nhập Khoá 10 Y Sĩ Trưng Tập. Sau một thời gian phục vụ tại Trung Đoàn 43, Sư Đoàn 18 Bộ Binh.  Trong thời gian phục vụ ông trực tiếp chứng kiến những thuơng vong ngoài chiến trường, và tự nhận thấy khả năng của một bác sĩ ở đơn vị tác chiến khá giới hạn. Phần lớn công việc lúc bấy giờ là sơ cứu, rồi chuyển thương. Ông xin học thêm giải phẫu và sau đó về Bệnh viện Tiểu Khu Bình Long. 

 

Ông đến Bình Long ngày 13/4/1971. Gần đúng một năm sau, chiến tranh về đến tận bệnh viện. Sau khi Lộc Ninh thất thủ vào đầu tháng 4/1972, lực lượng Bắc Việt tiếp tục tiến về An Lộc, trong khi Quốc lộ 13 phía nam thành phố bị cắt nhằm ngăn tiếp viện đường bộ. Các trận đánh tại An Lộc trở thành phần quan trọng của cuộc tổng tấn công vào năm 1972. 

 

Bối cảnh quân sự đó cần được biết để hiểu cuốn sách. Nhưng tác giả ít khi nhìn chiến trrường từ tầm chiến lược. Phạm vi quan sát của ông cụ thể hơn: khi một đợt tấn công xảy ra, điều ông trực tiếp thấy là số người bị thương đưa vào. Khi một trận pháo kích bắt đầu, vấn đề trước mắt là làm sao tiếp tục mổ, thuốc còn bao nhiêu, nước còn bao nhiêu, người nào cần được cứu trước. Và, từ đó, bệnh viện trở thành một chiến trường khác. 

 

Một bệnh viện trong thành phố bị vây 

 

Điều tạo cho Nhật Ký An Lộc một vị trí khá đặc thù trong những tác phẩm viết về chiến tranh Việt Nam là mức độ chi tiết về thực hành y khoa.

 

Tác giả Nguyễn Văn Quý viết về lựa thương, gây mê, vết thương bụng, vết thương ngực, gãy xương, nhiễm trùng, v.v. Ông cũng viết về những điều rất căn bản của một bệnh viện mà trong thời bình chúng ta coi là đương nhiên: điện, ước, dụng cụ vô trùng, chỉ may, thuốc men, nhân viên, và khả năng chuyển bệnh nhân lên tuyến trên. 

 

Nhưng ở An Lộc, những yếu tố trên trở thành vấn đề. Có một chi tiết làm tôi nhớ lâu là chuyện chỉ khâu. Khi hết loại chỉ cần thiết để đóng bụng, ông dùng những sợi nylon lấy từ dây cột bao cát, khử trùng rồi dùng cho bệnh nhân. Ông kể trường hợp Đại uý Nghi được khâu bằng loại nylon này, sau đó vết thương lành mà ông không ghi nhận nhiễm trùng. Ông đã sử dụng cách này cho thêm 3 trường hợp trước khi được tiếp tế chỉ may. 

 

Chi tiết có thể là nhỏ, nhưng nó nói lên khá nhiều về y khoa chiến trường. Trong phòng mổ hiện đại, bác sĩ làm việc trong một hệ thống được thiết kế để kiểm soát rủi ro. Ở An Lộc, người bác sĩ phải tự tạo ra hệ thống đó từ những gì có sẵn, vì họ không có nhiều lựa chọn. 

 

Cuối cuộc chiến, Nguyễn Văn Quý ghi rằng mình đã thực hiện phẫu thuật cho 254 trường hợp mà ông gọi là "đại giải phẫu". Trong đó, 6 bệnh nhân tử vong tại chỗ, còn kết quả của những bệnh nhân được chuyển đi thì ông không có điều kiện để theo dõi. Ông cũng thú nhận việc ghi chép bệnh án gần như không thể duy trì được vì pháo kích trở nên dữ dội. Có những ngày mục tiêu đơn giản là mổ cho xong rồi tìm chỗ trú ẩn. 

 

Ấn bản 2026 có một chi tiết cần lưu ý khi xem cuốn sách như một tư liệu y khoa chiến trường. Trong phần phỏng vấn cuối sách, tác giải giải thích rằng con số 254 thực chất là tổng số ca phẫu thuật được ghi nhận, gồm cả đại phẫu và tiểu phẫu. Sự đính chánh này đáng giữ lại, vì nó cho thấy khoảng cách hơn nửa thế kỷ giữa biến cố và ký ức, đồng thời nhắc người đọc phân biệt giữa số liệu ghi trong hoàn cảnh chiến trường và cách diễn giải sau này. 

 

Tuy nhiên, dù gọi những trường hợp đó là gì, con số vẫn gợi ra một thực tế khó hình dung đối với người làm y tế thời bình. Mỗi ca là một con người cụ thể, một quyết định cần được đưa ra trong điều kiện thông tin, thời gian và phương tiện đều thiếu thốn trầm trọng. 

 

Khi người bên kia chiến tuyến trở thành bệnh nhân 

 

Theo tôi, chương "Người tù binh" là một trong những phần quan trọng nhứt của cuốn sách. Nếu chỉ chọn một câu chuyện để nói về con người Nguyễn Văn Quý, tôi sẽ chọn câu chuyện này. 

 

Hai tù binh bị thương được đưa vào bệnh viện. Một phụ nữ khoảng 23 tuổi bị thương ở bụng, và một thanh niên khoảng 21 tuổi bị gãy xương đùi. Nguyễn Văn Quý mổ cho cả hai. Ông mô tả giản dị:

 

"Tôi đã mổ cho hai người này, săn sóc họ cũng giống như những người dân khác, không phân biệt thù hay bạn".

 

Sau mổ, hai tù binh bị còng tay vào thành giường và có nhân viên an ninh canh giữ. Điều gây chú ý là Nguyễn Văn Quý đã dành khá nhiều dòng để nghĩ về cảm giác đau và tê mà cái còng có thể gây ra. Ông nhớ lại một bệnh nhân từ thời sinh viên từng bị cố định tay trong lúc truyền dịch và suy ra sự khó chịu mà những người tù binh phải chịu. Những ngày sau đó, ông nhận thấy thái độ dè dặt của họ dần thay đổi khi thấy bác sĩ và y tá chăm sóc cho họ giống như những bệnh nhân khác. Ở một đoạn khác, ông viết: "Tôi sẽ cố gắng trong khả năng của tôi đề cứu sống họ, cố giữ cho họ được toàn vẹn thân thể". 

 

Cả hai đều bình phục, họ cảm ơn ông và e kíp đã cứu sống mình. Ông viết rằng "Đây là tiếng nói ‘cám ơn’ đầu tiên của người nữ tù binh tôi nhận được từ khi cô ta nằm bệnh viện. Thật khác hẳn thái độ nghi kỵ và đề phòng lúc ban đầu."

 

Câu chuyện tiếp tục với một quan sát nhân văn. Những bệnh nhân khác trong trại ngoại khoa biết người phụ nữ là tù binh, nhưng tác giả không thấy thái độ thù ghét gì cả, Từ đó, ông viết rằng ngoài chiến trường hai bên có thể bắn nhau, nhưng khi một người bị thương bước vào bệnh viện thì "mọi người chỉ là bệnh nhân thôi". Ông nhắc đến việc họ cùng là người Việt, cùng ngôn ngữ, cùng phong tục, và cho rằng phần lớn những người đang trực tiếp chịu đựng cuộc chiến đều mong có một cuộc sống bình an. Từ góc nhìn đó, ông xác định y sĩ và y tá sẽ chữa trị "không phân biệt ta hay địch trên phương diện y khoa". Đọc Nhật Ký An Lộc, tôi nghĩ tính nhân văn của tác giả hiện rõ nhứt ở đây. Nó không được trình bày như một bài giảng về y đức, mà chỉ đơn giản qua những việc làm cụ thể.  

 

Một con người biết sợ 

 

Một chi tiết khác trong cuốn sách làm tôi chú ý là tác giả không cố gắng tạo ra một hình ảnh của một 'người hùng' trong thời chiến. Ngược lại, ông kể những lần chạy tìm hầm ẩn náo khi pháo rơi, những lần thoát chết vì tình cờ, những lo âu khi có một tiếng nổ qúa gần. Khi được hỏi có sợ hay không, câu trả lời được ghi rất gọn: "có chứ". 

 

Có lẽ chính sự thừa nhận cái sợ đó làm cho lòng can đảm dễ hiểu hơn. Can đảm ở đây không phải là trạng thái không biết sợ, mà là khả năng tiếp tục làm việc trong khi vẫn biết mình có thể chết bất cứ lúc nào. 

 

Tác giả còn có óc hài hước và khả năng tự chế giễu. Khi mới hành quân, ông kể chuyện mình còn ngây thơ đến mức nhìn thấy một cây phong lan đẹp giữa rừng và dự tính lúc trở về sẽ ghé lấy. Người lính đi cùng phải nhắc rằng đoàn quân lúc về chắc chắn sẽ đi một con đường khác. Những trang viết không phải chỉ có những thương vong, mà còn có những bữa ăn, chuyện trò bạn bè, những câu nói đùa và nỗi nhớ gia đình và những khoảnh khắc mà chiến tranh chưa lấy đi được. Những chuyện như thế xuất hiện xen giữa thương vong và pháo kích, tạo ra một nhịp rất đời thường. 

 

Một văn phong ít có ý thức viết văn 

 

Tác giả tự nhận rằng cách viết của ông có phần "lộn xộn". Ông giải thích rằng những sự kiện đang xảy ra thường kéo ông về những ký ức cũ, rồi từ đó ông lại trở về với hiện tại. Ông có thể kể về một ca mổ, rồi chuyển sang chuyện kiếm thức ăn; từ tiếng pháo nhắc đến một người quen; một thương binh lại nhớ về kỷ niệm khi còn là sinh viên. Tức là quá khứ và hiện tại cứ đan xen lẫn nhau trong những đoạn văn một cách "tự nhiên không gò ép". 

 

Văn chương của Nguyễn Văn Quý ít trau chuốt, giống như người lính viết thư về nhà trên ba lô vậy. Có những đoạn dài, những cuộc đối thoại được kể gần như nguyên vẹn, có những chi tiết tưởng như không cần thiết. Nhưng cảm giác chung là người viết đang kể lại những điều ông thấy hơn là nghĩ cách tạo ra ấn tượng cho người đọc. 

 

Một điểm quan trọng khác là hoàn cảnh hình thành bản thảo. Tác giả cho biết ông bắt đầu viết ngay tại An Lộc năm 1972 vì không biết mình có sống sót hay không. Ông cũng muốn gia đình biết những gì đã xảy ra khi ông chết. Khi chiến sự trở nên dữ dội, có lúc ông phải ngưng viết hai hoặc ba tuần vì quá bận chăm sóc thương binh. Sau này ông mới đánh máy lại bản thảo được gia đình giữ. 

 

Do đó, nếu đọc cuốn nhật ký như một người sử liệu, cần nhận ra những lớp thời gian. Có những quan sát được ghi giữa biến cố 1972; có lớp biên tập khi sách xuất bản năm 2002. Và, trong lần tái bản 2026 còn có lời tựa, bài giới thệu và phỏng vấn nhìn lại sau hơn nửa thế kỷ.  Những lớp thời gian đó có giá trị riêng, nhưng chúng nên được phân biệt khi dùng các chứng từ trong sách để nghiên cứu lịch sử. 

 

Ba cách nhìn về chiến tranh 

 

Đọc Nhật Ký An Lộc khiến tôi liên tưởng đến Mùa Hè Đỏ Lửa của Phan Nhật Nam và Nhật ký Đặng Thùy Trâm. 

 

Mùa Hè Đỏ Lửa là một trong những tác phẩm ký sự chiến trường nổi tiếng của miền Nam về cuộc tổng tấn công năm 1972. Phan Nhật Nam là một người lính và nhà văn quân đội. Mùa Hè Đỏ Lửa được viết khi chiến trường còn chưa nguội, bao quát nhiều mặt trận của năm 1972, trong đó có An Lộc, và về sau chính nhan đề cuốn sách gần như trở thành tên gọi của cả mùa chiến tranh đó. 

 

Văn của Phan Nhật Nam dữ dội, giàu hình ảnh, mang nhịp điệu của chiến trường, với những đơn vị quân đội, những trận đánh, cái chết và sự tan hoang của cả một vùng đất. Khi viết về An Lộc, ông nhìn thành phố như một chiến trường mà sự sống và cái chết diễn ra trên một quy mô gần như vượt khỏi sức tưởng tượng của con người. Nguyễn Văn Quý nhìn cũng một An Lộc từ một khoảng cách gần hơn nhiều. Ông không nhìn qua bản đồ hành quân hay đội hình tác chiến, mà qua những người bị thương được khiêng vào bệnh viện. Nếu Mùa Hè Đỏ Lửa cho chúng ta thấy An Lộc từ chiến trường, thì Nhật Ký An Lộc cho chúng ta thấy chiến trường từ bàn mổ. Hai cuốn sách vì vậy bổ sung cho nhau một cách tự nhiên. 

 

Đặng Thùy Trâm và Nguyễn Văn Quý gần như cùng thế hệ, cùng là bác sĩ, nhưng phục vụ ở hai chiến tuyến. Bà Trâm tốt nghiệp Đại học Y Hà Nội năm 1966, vào Quảng Ngãi và phụ trách bệnh xá Đức Phổ cho đến khi qua đời vào năm 1970. Nhật ký Đặng Thùy Trâm ghi lại những ca cấp cứu, sự thiếu thốn, cái chết của đồng đội, nhưng cũng dành rất nhiều chỗ cho tình cảm, lý tưởng, cô đơn và những suy tư của một người phụ nữ trẻ. Nguyễn Văn Quý ít trữ tình hơn; ông viết nhiều về vết thương, mổ xẻ, chỉ khâu, thuốc men, tản thương và những chuyện rất cụ thể của một bệnh viện bị vây. 

 

Nhưng có một điểm hai người bác sĩ gặp nhau: trước một người bị thương, bổn phận của người thầy thuốc là cứu người. Với Nguyễn Văn Quý, nguyên tắc đó được thử thách đặc biệt khi bệnh nhân là người lính phía bên kia. Ông đã mổ và chăm sóc cho họ “không phân biệt thù hay bạn”, và sau đó viết rằng khi vào bệnh viện thì “mọi người chỉ là bệnh nhân thôi”. Hai bác sĩ đứng ở hai chiến tuyến khác nhau, nhưng nghề y đưa họ về cùng một điểm: bảo vệ sự sống trong khi chung quanh họ là một cuộc chiến đang hủy hoại sự sống.

 

Viết đến đây, tôi không thể không nghĩ đến một nghịch cảnh đau lòng xảy ra chỉ 3 năm sau 1975. Một số hồi ký của quân nhân Việt Nam Cộng Hòa và một số công trình sử học ghi lại rằng, sau khi Tổng Y Viện Cộng Hòa ở Sài Gòn được tiếp quản ngày 30/4/1975, nhiều thương bệnh binh VNCH đang điều trị đã phải rời bệnh viện, trong đó có những người còn bị thương nặng. Các tài liệu chánh thức trong nước thuật lại việc tiếp quản theo một cách khác, nhấn mạnh việc tổ chức thuốc men và thực phẩm cho thương bệnh binh. Sự khác biệt giữa các nguồn tự nó cũng nói lên một vấn đề lớn hơn của ký ức chiến tranh: cùng một biến cố, nhưng những người ở hai phía có thể mang theo những ký ức rất khác nhau.

 

Chính vì vậy, câu “mọi người chỉ là bệnh nhân thôi” của Nguyễn Văn Quý càng đáng suy nghĩ. Trong chiến tranh, người ta có thể gọi nhau là địch. Nhưng trong bệnh viện, người đang đau đớn trước mặt người bác sĩ chỉ nên có một danh xưng: bệnh nhân.

 

Sau hơn nửa thế kỷ 

 

Trận An Lộc đã lùi vào lịch sử hơn nửa thế kỷ, và cuộc chiến cũng đã kết thúc từ lâu. Nhưng chiến tranh có một đời sống dài hơn tiếng súng. Nó còn lại trong ký ức của những người sống sót, trong những gia đình mất người thân, trong những câu chuyện được kể lại, và cả trong những câu chuyện không được phép kể.

 

Trong hơn nửa thế kỷ qua, lịch sử cuộc chiến tại Việt Nam phần lớn được kể từ quan điểm của "bên thắng cuộc". Điều đó có thể hiểu được về mặt chánh trị, nhưng nó tạo ra một khoảng trống về mặt lịch sử. Hàng triệu người Việt Nam đã sống trong Việt Nam Cộng Hòa, đã đi học, làm việc, yêu thương, lập gia đình, phục vụ trong quân đội, bị thương, chết và mất mát trong cuộc chiến ấy. Họ cũng là một phần của lịch sử Việt Nam. Nếu tiếng nói của họ vắng mặt, bức tranh mà chúng ta truyền lại cho những thế hệ sau sẽ không thể đầy đủ. 

 

Ở ý nghĩa đó, Nhật Ký An Lộc là một chứng từ đáng quý. Nó không phải là “sự thật cuối cùng” về trận An Lộc, vì không một nhựt ký cá nhân nào có thể làm được điều đó. Nguyễn Văn Quý viết từ vị trí của một bác sĩ quân y Việt Nam Cộng Hòa, với những niềm tin, giới hạn và cảm xúc của người trong cuộc. Chính vì vậy, cuốn sách này có giá trị như là một chứng từ. Muốn đến gần sự thật, chúng ta cần đặt nhiều mảnh ghép với nhau và cạnh nhau. 

 

Đọc một chứng từ của phía bên kia không có nghĩa là phải đồng ý với mọi nhận định của người viết. Nó chỉ đòi hỏi chúng ta thừa nhận một điều tưởng như rất đơn giản: người bên kia cũng đã sống, đã đau khổ, đã yêu thương, đã mất mát, và cũng có quyền kể lại câu chuyện của mình.

 

Đó là lý do tôi nghĩ Nhật Ký An Lộc nên có một chỗ trên giá sách của mỗi gia đình Việt Nam. Trên giá sách đó có thể có Nhật ký Đặng Thùy Trâm, Mùa Hè Đỏ Lửa, và những cuốn sách viết từ nhiều phía khác nhau của cuộc chiến. Không phải để con cháu chúng ta tiếp tục những tranh chấp của cha ông, mà để chúng hiểu rằng lịch sử Việt Nam rộng hơn bất cứ một câu chuyện chánh thức nào.

 

Nguyễn Văn Quý mở đầu cuốn sách bằng lời tưởng niệm “một thế hệ tuổi trẻ đã đi qua chiến tranh, nhiều người không trở về”, và muốn gởi lại ký ức về một “cuộc chiến tương tàn” cho những thế hệ mai sau. Tôi nghĩ sau hơn nửa thế kỷ, đó cũng là cách tốt nhứt để đọc cuốn sách này. 

 

Tiếng súng ở An Lộc đã im từ lâu. Những người từng cầm súng ở hai phía rồi cũng lần lượt ra đi. Điều còn lại là ký ức. Nhưng ký ức chỉ có thể trở thành lịch sử khi những tiếng nói khác nhau được quyền hiện diện. Nhật Ký An Lộc là một tiếng nói như thế, và đó là lý do cuốn sách này cần được đọc, cần được giữ lại, và cần được trao từ thế hệ này sang thế hệ khác.

 

 

Nguyễn Văn Tuấn 

Sydney, tháng 9 / 2026

 

 

___________

 

Tác giả Nguyễn Văn Tuấn là Giáo sư xuất sắc về y học chính xác thuộc Đại học Công nghệ Sydney (UTS) và Giáo sư y khoa thuộc Đại học New South Wales, Viện sĩ Viện Hàn lâm Y học Úc, Học giả của American Society for Bone and Mineral Research. Ông từng là một thuyền nhân, vượt biển đến Thái Lan vào đầu năm 1981, và được định cư ở Úc vào đầu năm 1982. Ông có nhiều đóng góp quan trọng cho chuyên ngành loãng xương toàn cầu và được Nữ hoàng Elizabeth Đệ Nhị trao tặng Huân chương Australia vào năm 2022. Ông là tác giả cuốn hồi ức Kangaroo Dreams (Nxb Quill Hawk, 2025) kể lại hành trình 45 năm định cư ở nước ngoài.