Chủ Nhật, 20 tháng 9, 2026

Hợp tác Lancang-Mekong:

Từ quan hệ bất đối xứng đến đối tác công bằng và trách nhiệm

Những điều Cơ chế Hợp tác Lancang-Mekong cần  trong thập kỷ thứ hai

Phạm Phan Long 


Thành tích tăng trưởng của LMC trong thập niên đầu

Trong mười năm đầu của Hợp tác Lancang-Mekong (LMC), tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Trung Quốc tăng từ khoảng 11,2 nghìn tỷ USD năm 2016 lên 19,5 nghìn tỷ USD năm 2025 — tăng khoảng 74%. Việt Nam và Campuchia tăng nhanh hơn, trên 250%. Thái Lan tăng chậm hơn, khoảng 42%. Myanmar chỉ tăng khoảng 21%. Lào gần như đứng, vì kip mất giá mạnh che mất phần tăng thực trong nước.


Bảng 1: Tổng sản lượng quốc gia của các nước trong hợp tác Lancang-Mekong

Trên giấy tờ, Hợp tác Lancang-Mekong (LMC) là một thành công. Sau Hội nghị cấp cao Tam Á năm 2016, thương mại giữa Trung Quốc với Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam nay đã tăng mạnh, đạt 500,9 tỷ USD năm 2025 — hơn 150% so với một thập kỷ trước. Đường sắt, đường bộ, đầu tư và giao lưu nhân dân cũng mở rộng (Bộ Ngoại giao Trung Quốc, 2026). Đây là con số tăng trưởng ngoạn mục.

Tiến bộ đó là thật. Nhưng đo thành công chỉ bằng thương mại và hạ tầng thì bỏ sót câu hỏi chính: đang xây dựng kiểu quan hệ nào?

Trung Quốc và năm đối tác Mekong không đứng cùng vị thế. Trung Quốc là nền kinh tế lớn nhất, nguồn hàng chế tạo, vốn và hạ tầng, đồng thời là quốc gia thượng nguồn sông Lancang. Các nước hạ nguồn cung cấp thị trường, nông sản, năng lượng và khoáng sản. Cả sáu nước đều hưởng lợi, nhưng quy mô, năng lực sản xuất và sức mặc cả chênh nhau rất lớn.

Thương mại tăng, nhưng bất đối xứng

Trên cán cân hàng hóa, Trung Quốc bán nhiều, mua ít với Việt Nam, Thái Lan, Campuchia và Myanmar. Lào khác: Trung Quốc nhập từ Lào nhiều hơn xuất sang, nhưng Lào bán chủ yếu khoáng sản, phân kali, đất hiếm, nông sản và điện. Tổng kim nghạch chênh lệch đã nhiều, kim ngạch bình quân trên đầu người, chênh lệch sẽ lớn. Cư dân hạ nguồn tiêu thụ khối hàng Trung Quốc lớn; ngược lại cư dân Trung Quốc tiêu thụ hàng các nước khác rất ít. Tỷ lệ bán ra mua vào Trung Quốc với Việt Nam là  28, Thái Lan là 40, cực lớn với Campuchia là 840.

Bảng 1. Thương mại hàng hóa với Trung Quốc, 2025

NướcTrung Quốc xuấtTrung Quốc nhậpNhận xét
Việt Nam~198 tỷ USD~98 tỷ USDXuất nhiều hơn nhập
Thái Lan~104 tỷ USD~50 tỷ USDXuất nhiều hơn nhập
Campuchia>18 tỷ USD<1,7 tỷ USDLệch rất lớn
Myanmar~11,4 tỷ USD~8,0 tỷ USDXuất nhiều hơn nhập

Cùng lúc, quy mô nền kinh tế tăng không đều. GDP danh nghĩa bằng USD (nominal GDP in US dollars) của Việt Nam và Campuchia lớn nhanh trên sổ đô la; Thái Lan chậm hơn; Myanmar chậm hơn nữa; GDP Lào tính bằng USD gần đứng vì kip mất giá.

Bảng 3. GDP danh nghĩa bằng USD (nominal GDP in US dollars), 2016–2025

Nước20162025Thay đổi
Trung Quốc11.199 tỷ USD19.498 tỷ USD+74% (~1,7 lần)
Việt Nam203 tỷ USD515 tỷ USD+154% (~2,5 lần)
Campuchia20 tỷ USD51 tỷ USD+156% (~2,6 lần)
Thái Lan407 tỷ USD577 tỷ USD+42% (~1,4 lần)
Myanmar67 tỷ USD82 tỷ USD+21% (~1,2 lần)
Lào~16 tỷ USD~16–17 tỷ USDgần đứng (kip mất giá)

Túi tiền dân cư lệch cùng chiều. Tổng thu nhập quốc dân bình quân đầu người (GNI per capita) của người Trung Quốc vẫn gấp nhiều lần người Thái, người Việt, người Campuchia, người Lào và người Myanmar.

Bảng 4. Tổng thu nhập quốc dân bình quân đầu người (GNI per capita), 2025

NướcGNI/ngườiSo với Trung Quốc
Trung Quốc14.230 USD
Thái Lan7.690 USD~1/2
Việt Nam4.970 USD~1/3
Campuchia2.750 USD~1/5
Lào2.150 USD~1/7
Myanmar1.320 USD~1/11

Những yếu tố trên cộng hưởng nhau. Nước lớn bán hàng chế tạo và tư bản nhiều giá trị hơn; nước nhỏ bán nông sản, tài nguyên hoặc gia công ít giá trị hơn. Hộ dân hạ nguồn thu nhập mỏng hơn, vẫn mua nhiều hàng Trung Quốc hơn. Lào bán được tài nguyên nhưng cạn kiệt dần giá trị thấp hơn, trong khi hạ tầng vay nợ tăng rủi ro trả nợ.

Thương mại tăng không tự chứng minh hợp tác công bằng nhưng từ những phân tích trên tình hình dường như ngược lại.

Nguồn: Hải quan Trung Quốc / hải quan từng nước (2025); Ngân hàng Thế giới (GDP 2016 và 2025; GNI/người 2025, phương pháp Atlas). Số làm tròn. GDP đo sản lượng; GNI đo thu nhập về tay cư dân. Cả hai là trung bình, không trừ tài nguyên cạn, cá mất hay phù sa mất.

Những chi phí và vốn liếng GDP không hềtính đến

GDP bỏ sót nhiều chi phí then chốt không thể bỏ qua. Nó không trừ tài nguyên cạn kiệt, thiệt hại môi trường, mất nghề cá, suy thoái hệ sinh thái hay di dời cộng đồng. Nó cũng không phân biệt thu nhập với việc ăn dần vốn tự nhiên. Than, khoáng sản, gỗ, rừng, cát sông, nước ngầm và loài hoang dã có thể bị lấy nhanh hơn khả năng tái tạo. Phần bán ra được tính là tăng trưởng; phần tài sản mất đi thì không. Khác gì đốn hết rừng rồi gọi tiền bán gỗ là “lợi nhuận”, mà không thấy đã đánh mất vốn tài nguyên.

Ở Mekong, hiểu lầm này rất lớn. Đất hiếm và vàng rời Myanmar và Lào như giá trị xuất khẩu. Cát và trầm tích rời sông như “phát triển”. Rừng và cá rời đi như hàng hóa. Đồi núi bị xẻ, nước thải độc, nghề cá suy sụp và loài không phục hồi được — không bị trừ vào GDP. Sự cạn kiệt vốn tài nguyên là có thật. GDP không ghi nhận.

Một đập tăng điện, nhưng đổi dòng chảy và trầm tích, làm tổn thương nông nghiệp và thủy sản hạ nguồn. Một mỏ tạo xuất khẩu, nhưng để lại ô nhiễm và mất môi trường sống. Ủy hội sông Mekong đã ghi nhận tác động lên cá, thủy văn và trầm tích, và nhấn mạnh phải xét tác động cộng dồn của nhiều đập, không xét từng dự án tách biệt (MRC, 2022).

Nơi tạo giá trị không phải nơi chịu hết chi phí. Câu hỏi đủ hơn là: ai nắm giá trị, ai chịu rủi ro, ai trả khi tác động vượt biên giới?

Lào cho thấy cán cân thương mại chưa đủ. Đường sắt Trung Quốc–Lào rút ngắn thời gian và tăng hàng hóa, nhưng vận hành qua liên doanh phía Lào nắm cổ phần thiểu số, và tài trợ làm tăng lo ngại nợ. Lợi ích có thật. Phân phối lợi ích mới là vấn đề dài hạn.

Quyền kiểm soát tài nguyên chung khôngđồng đều

Mỗi nước hội nhập khác nhau. Việt Nam gắn sâu chuỗi sản xuất Trung Quốc. Thái Lan có quan hệ công nghiệp rộng. Campuchia phơi nhiễm cao với hàng nhập và đầu tư. Lào xuất tài nguyên kèm hạ tầng Trung Quốc tài trợ. Myanmar tập trung tài nguyên, năng lượng và kết nối. Lệ thuộc không chỉ là thâm hụt thương mại. Nó còn đến từ nợ, sở hữu hạ tầng, khoảng cách công nghệ và quyền quyết định hạn chế đối với việc có tác động xuyên biên.

Trung Quốc đã xây chuỗi đập lớn trên Lancang. Vấn đề không phải đập có tạo điện hay không; chúng có. Vấn đề là quyết định thượng nguồn có tính đủ đến dòng chảy, trầm tích, nghề cá và sinh kế hạ nguồn hay không. Đập Lào, khai thác cát, tưới tiêu, đổi mục đích đất và khí hậu cũng góp phần. Dù vậy, địa lý tạo bất đối xứng không tránh được: Trung Quốc kiểm soát thượng nguồn con sông mà hàng triệu người hạ nguồn phụ thuộc.

Khoáng sản chiến lược cùng một logic. Myanmar cung đất hiếm cho công nghiệp khu vực và Trung Quốc, trong khi khai thác gây ô nhiễm lưu vực và cộng đồng. Đây không chỉ là thương mại. Đây là phân phối giá trị, quyền kiểm soát và rủi ro.

Quyền lực lớn, trách nhiệm nhân bản càng lớn

Linh hoạt là điểm mạnh của LMC: sáu nước hợp tác mà không cần siêu quốc gia. Tuyên bố Tam Á (2016) đã nêu kết nối, năng lực sản xuất, quản lý nước, chia sẻ dữ liệu và giảm nghèo.

Nhưng linh hoạt có giới hạn. LMC không phải cơ quan quản lý toàn lưu vực với quy tắc ràng buộc về tác động xuyên biên. LMC cũng không có cơ chế độc lập để cộng đồng hay nước hạ nguồn yêu cầu xem xét và khắc phục khi bị hại. Bình đẳng hình thức giữa chính phủ không tạo ra ảnh hưởng ngang nhau. Thập kỷ đầu xây kết nối. Thập kỷ thứ hai phải buộc kết nối đó chịu trách nhiệm về hệ quả, và giúp nước yếu hơn giữ được nhiều giá trị hơn.

Quyền lực lớn đi với trách nhiệm cao trước hết vì công bằng: ai có sức định hình kết quả thì phải chịu trách nhiệm về hệ quả. Đó còn là trách nhiệm nhân bản: không chuyển chi phí sang người sống nhờ sông, cá và đất hạ nguồn.


Quyền lực phục vụ con người trong Quan hệ đối tác công bằng(AI Minh họa)

Tư tưởng Trung Hoa không xa nguyên tắc này. Trước khi có khái niệm dân chủ hiện đại hàng ngàn nǎm, thầy Mạnh Tử đã đưa ý lấy ý thức nhân nghĩa (仁义, rényì) và hành động nhân chính (仁政, rénzhèng) làm sứ mạng của việc cai trị. Nhân từ (仁慈, réncí) và nhân nghĩa là ý thức đạo đức; nhân chính là đưa ý thức đó vào hành động cầm quyền.

Câu hỏi vẫn là: quyền lực để làm gì, và thực thi thế nào với người bị ảnh hưởng? Chủ tịch Tập Cận Bình nói nước lớn phải đối xử với nước nhỏ như bình đẳng. Năm 2025, Ngoại trưởng Vương Nghị cảnh báo chống “luật rừng, kẻ mạnh ăn thịt kẻ yếu”.

Những nguyên tắc đó là chuẩn cho Mekong. Trung Quốc không cần nhỏ lại, cũng không phải chịu mọi việc trong lưu vực. Năng lực lớn hơn cho Trung Quốc cơ hội lớn hơn để lãnh đạo có trách nhiệm: minh bạch hơn, không đẩy chi phí môi trường xuống hạ nguồn, và giúp đối tác tiến lên ngành giá trị cao hơn.

Mọi thành viên LMC đều ảnh hưởng láng giềng. Chính phủ hạ lưu, chủ đầu tư và bên cho vay cũng chịu trách nhiệm về đập, mỏ và hạ tầng trong nước mình. Nhưng trách nhiệm phải tương xứng với năng lực. Quyền lực càng lớn, nghĩa vụ ngăn hại và mở cơ hội càng lớn. Lãnh đạo như vậy không làm yếu ảnh hưởng của Trung Quốc. Nó làm ảnh hưởng đó đáng tin hơn.

Chủ quyền không xóa hệ quả hạ nguồn. Dự án đụng sông dùng chung thì trách nhiệm kéo tới người sống nhờ sông. Khai thác hại lưu vực thì trách nhiệm chạm cộng đồng xuyên biên. Hội nhập tạo giá trị thì cũng phải để nước kém phát triển hơn giữ lại nhiều giá trị hơn.

Đây không phải chống phát triển. Đây là phát triển có trách nhiệm: nhận hệ quả, ngăn hại có thể tránh, giảm hại không tránh được, và khắc phục khi hại đã xảy ra. Trách nhiệm không chỉ thuộc về ai có thẩm quyền ký quyết định. Nó thuộc về ai có sức gây ra, ngăn chặn hoặc sửa hệ quả.

Quan hệ đối tác công bằng đòi hỏi điều gì

Bài viết này đã chứng minh có sự chênh lệch về lợi ích và thiệt hại rất lớn giữa Trung Quốc so với các nước cùng khu vực trong thập niên vừa qua. Không những thế những báo cáo kinh tế đã bỏ sót những chi phí ngoại ứng và tài nguyên xem như không hề có, để nạn nhân để phải oan ức âm thầm gánh chịu. Nếu cứ tiếp tục lộ trình này các nước nhỏ sẽ rơi vào thảm họa môi trường và cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên.

Mục tiêu không phải làm các nền kinh tế bằng nhau. Mục tiêu là cân bằng hơn về trách nhiệm, cơ hội và giá trị. Tầm với lớn hơn phải đi với minh bạch lớn hơn. Ảnh hưởng lớn hơn đối với sông dùng chung phải đi với sự cân nhắc lớn hơn cho cộng đồng hạ nguồn. Chi phí xuyên biên không được chuyển cho người ít quyền nhất đối với quyết định đã tạo ra chúng.

LMC có thể làm việc này mà không từ bỏ chủ quyền. LMC nên:

  • rà soát minh bạch các dự án hạ tầng và đầu tư lớn;
  • đánh giá tác động cộng dồn và xuyên biên, không chỉ từng dự án;
  • chia sẻ kịp thời dữ liệu thủy văn, vận hành và môi trường;
  • bảo đảm cộng đồng bị ảnh hưởng được tham gia thực chất;
  • có quy trình phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục đáng tin;
  • công bố điều kiện tài trợ và rà soát nợ;
  • hỗ trợ chuyển giao công nghệ và năng lực nhà cung cấp địa phương;
  • công bố chỉ số phân phối lợi ích, rủi ro và giá trị giữa các nước.

Sông không dừng ở biên giới. Lưu vực không dừng ở biên giới. Chuỗi cung ứng không dừng ở biên giới.

Trách nhiệm cũng không nên dừng lại ở đó.

Đó là nền tảng để biến quan hệ bất đối xứng thành quan hệ đối tác công bằng.

Phạm Phan Long

Chú thích: Bài này đã có phiên bản Anh ngữ của tác giả trên trang mạng trực tuyến Asia Sentinel:

Unequal Relationship: Lancang-Mekong Cooperation

What is needed to build equality as the scheme enters its second decade

Tài liệu tham khảo

  1. Tổng cục Hải quan nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. 2025. Giá trị xuất nhập khẩu của Trung Quốc theo quốc gia/khu vực, tháng 12 năm 2025.
  2. Kwan, Regan, và Brian Eyler. 2025. Unregulated Mining along Rivers in Mainland Southeast Asia. Stimson Center.
  3. Hợp tác Lancang-Mekong. 2016. Tuyên bố Tam Á. Bộ Ngoại giao Trung Quốc, 23 tháng 3.
  4. Ủy hội sông Mekong. 2022. Joint Environmental Monitoring Programme at Two Mekong Mainstream Dams.
  5. Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. 2026. Phát biểu của Vương Nghị nhân kỷ niệm 10 năm LMC.
  6. Ross, Steve, và Regan Kwan. 2026. “Rare Earth Mining in Myanmar Expands to TNLA-Held Territory.” Stimson Center.
  7. Văn phòng Thông tin Quốc vụ viện nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. 2023. A Global Community of Shared Future.
  8. Stimson Center. 2025a. Mining in Mainland Southeast Asia—River Basins Dashboard.
  9. Stimson Center. 2025b. “Toxic Rare Earth Mining Is Ruining Mekong Tributaries in the Golden Triangle.”
  10. Stimson Center. 2026. “Mining, Conflict, and Environmental Action in Myanmar’s Borderlands.”
  11. Ngân hàng Thế giới. 2025. “GDP per Capita (Current US$).”