Thứ Bảy, 5 tháng 9, 2026

Trang tưởng niệm BS Hà Ngọc Thuần 1940-2026

Người Thư-Sinh Muôn Thuở 

Sau 50 năm nhớ về Nghiêm Sỹ Tuấn


HÀ NGỌC THUẦN 



LGT: Đây là bài viết từ Brisbane Úc Châu của Bác sĩ Hà Ngọc Thuần tháng 10 năm 2018 _ cách đây 8 năm, đã đăng trong Tuyển Tập YSTT Nghiêm Sỹ Tuấn, Người Đi Tìm Mùa Xuân do Tập San Y Sĩ Việt Nam Canada và Việt Ecology Press cùng đứng tên xuất bản và phát hành năm 2019. Phần hình ảnh và tiểu sử cũng do chính BS Hà Ngọc Thuần cung cấp. Đăng tải lại bài viết "Sau 50 năm nhớ về Nghiêm Sỹ Tuấn" có ý nghĩa như một nén nhang tưởng nhớ cả hai cây viết cột trụ trong Ban Quan Điểm của tờ báo SVYK Tình Thương ngày nào. 



*

*


A book is a bit like an iceberg. The author’s name is on the cover, but ninety percent is below the surface, with the names of many others who deserve credit. Michael RuseDarwinism and Its Discontents – 2006


“Một cuốn sách cũng phần nào giống như một tảng băng trôi. Tên tác giả được ghi trên bìa sách, nhưng chín mươi phần trăm còn lại nằm khuất dưới mặt nước, với tên tuổi của biết bao người khác cũng xứng đáng được ghi nhận công lao.” — Michael Ruse, Darwinism and Its Discontents (2006)




1. Nghiêm Sỹ Tuấn sanh năm 1937, vào một ngày đầu năm. Tính theo âm lịch, Anh thuộc tuổi Bính Tý, tuổi con Chuột, không phải năm Đinh Sửu, tuổi con Trâu, như những người sanh sau ngày Tết Nguyên Đán. Sau này khi viết văn Anh lấy bút hiệu là Yển Thử. Thử là Con chuột. Nhưng khi hỏi Anh là Yển Thử có ý nghĩa đặc biệt nào, và vì lý do nào Anh lại chọn bút hiệu đó, thì Anh chỉ cười mà không giải đáp. Lẽ cố nhiên chúng ta phải biết hai chữ yển và thử này viết sang chữ Hán như thế nào thì mới có thể nói chuyện tìm kiếm trong tự điển Đào Duy Anh hay tự điểnThiều Chửu. Đây là một bí mật mà Anh đã mang theo về bên kia thế giới. Quý vị thông thạo chữ Hán có thể đoán biết được, nhưng dù có đoán đúng chăng nữa cũng chỉ là “đoán” mà thôi.



Sau này tôi, Hà Ngọc Thuần, người viết bài này, được kể như một người bạn thân trong số những người bạn thân của Anh, định cư tại Úc Đại Lợi là xứ sở của những con Kangaroo. Kangaroo, tiếng Việt, hay tiếng Hán Việt, dịch là đại thử. Tôi không đủ kiến thức khoa học để biết con chuột và con Kangaroo giống nhau hay khác nhau như thế nào, nhưng nói một cách đại khái thì con Kangaroo lớn lắm và hình thù như thấy trong tranh ảnh thì có hơi giống con Chuột một phần nào nên gọi nó là đại thử thì thật là phải. Nhưng cũng mới sau này, một người bạn khác là ông Đỗ Thông Minh, gốc là người Việt Nam nhưng cư ngụ tại Nhật đã lâu năm, có soạn từ điển Việt Nhật - Nhật Việt song ngữ, rất lớn, cho biết "đại" ở đây là "cái túi", không phải là "lớn"; phải là người có biết đọc chữ Hán mới phân biệt được. 



Đại thử, như vậy không phải là một bí mật, như là “yển thử” nói trên, mà là một điều lầm lẫn mà nhiều người (trong số đó có tôi) đã phạm. Cũng tại chúng ta đã quen dùng chữ abc cũng gọi là “quốc ngữ”, mà không còn dùng chữ Hán như người Nhật vẫn còn dùng một số kanji xen lẫn với chữ viết của họ. Sách học tiếng Nhật có tới 2000 chữ Hán hay kanji (Hán tự), hay nhiều hơn thế.



Quý bạn đọc tới đây xin đừng mất kiên nhẫn; xin đọc tiếp tục. Sau đây tôi sẽ cho biết Nghiêm Sỹ Tuấn là nhà Nho học hay Hán học, có thể là cỡ lớn nếu giờ này Anh còn sống trên trần gian. Tôi nghĩ là nói quanh co về mấy chữ Hán này là nhập đề rất thích hợp để mở đầu một bài tưởng niệm Nghiêm Sỹ Tuấn. Và nếu còn sống Anh đã nói cho tôi biết thế nào là yển thử, thế nào là đại thử, vân vân…






2. Nghiêm Sỹ Tuấn học chữ Hán có thể từ ông nội, hoặc có thể từ ông ngoại. Có thể cả hai Cụ là những nho sinh đã dự kỳ thi cuối cùng tại Nam Định năm 1915, như Nguyễn Tuân đã tả trong Vang Bóng Một Thời, nhưng có thể là đã không đỗ, và 30 năm sau, năm 1945, vẫn còn sống trong thanh bạch, vẫn còn nhớ chữ Hán, vẫn còn thương chữ Hán, vẫn còn muốn dậy chữ Hán, và môn sinh chẳng ai khác lạ hơn là cậu cháu trai đầu lòng Nghiêm Sỹ Tuấn.




Trước năm 1954 những ngày còn ở Hà Nội, tôi không có dịp đến nhà Anh; sau này những ngày ở Sài Gòn, tôi có dịp lại thăm Anh luôn, có khi ngồi nói chuyện rất lâu, nhưng không bao giờ thấy bóng dáng Cụ Nội hay Cụ Ngoại. Gia đình Anh theo Công Giáo, hay Ky Tô Giáo, nên không có bàn thờ tổ tiên ở giữa nhà, và cũng không có hình ảnh treo trên tường.



Tôi không thể biết được Cụ đã dậy ra sao, Anh đã học ra sao, nhưng chỉ biết là Anh khá giỏi, có thể là rất giỏi. Khoảng năm 1963-1964 Anh đã thông-thạo Đạo Đức Kinh của Lão Tử, Nam Hoa Kinh của Trang Tử và Tam Quốc Diễn Nghĩa của La Quán Trung … qua bản chữ Hán, và đã nhiều lần chỉ cho tôi những chỗ sai lầm của Từ Điển Đào Duy Anh. Cố nhiên tôi rất lấy làm sợ hãi. Những sách vở đương thời nói về Lão Trang, Anh coi như không đáng đọc (!). Tôi càng lấy làm sợ hãi bội phần. Hai bản dịch của Nhượng Tống, cuốn Nam Hoa Kinh vừa nói trên và cuốn Tây Sương Ký của Vương Thực Phủ thì gần như là Anh thuộc nằm lòng. Riêng cuốn Kinh Thư, bản dịch cũng của Nhượng Tống, thì Anh cũng công nhận là dịch chưa thoát với rất nhiều chỗ khó hiểu.



3. Thân-phụ của Anh là Ông Nghiêm Sỹ Phụng, tên của Bà Thân mẫu thì tôi không biết. Cả hai vị tôi ít có khi gặp, nhưng đều có vẻ hòa nhã mà nghiêm trang. Hai Ông Bà không có dịp nào trực tiếp nói chuyện với tôi một vài câu, nhưng cũng có thái độ quý mến vui vẻ.

Ông Nghiêm Sỹ Phụng làm việc tại một cơ quan của Mỹ nhưng lương bổng không nhiều. Gia-đình có liên hệ bà con xa với Ông Nghiêm Văn Trí, nguyên Tổng Trưởng Quốc Phòng trong Chính Phủ Nguyễn Văn Tâm từ ngày 06.06.1952 đến 08.01.1953. Năm 1954 khi di cư từ Hà Nội vào Sài Gòn, gia đình của Tuấn có cư ngụ tạm một thời gian tại nhà riêng của Ông Nghiêm Văn Trí tại đường Hai Bà Trưng (đường Paul Blanchy cũ), Sài Gòn. Theo Tuấn cho biết, trong gia đình của Ông Nghiêm Văn Trí này, dù là ở nhà, trong mọi trường hợp mọi người đều luôn luôn nói tiếng Pháp. Chắc là một người thành đạt trong xã hội Nam kỳ, nhưng thành tích chính trị không ai được rõ. Sách báo cũng ít có tài liệu về chính khách Nghiêm Văn Trí.



4. Nghiêm Sỹ Tuấn là Anh lớn của chừng 10 anh chị em, tôi không biết hết, trừ người em trai sát với Tuấn, học sau chúng tôi một hay hai lớp, tên là Nghiêm Sỹ Anh. Sau này tôi đã trao lại cuốn Nhật ký của Tuấn cho Nghiêm Sỹ Anh, vào khoảng năm 1972 hay 1973. Cuốn này tôi nhận được từ Bác Sĩ Lê Văn Châu, là Thi Sĩ Trang Châu, Khóa 12 sinh viên quân y hiện dịch, y sĩ thuộc Sư Đoàn Nhẩy Dù. Cũng Bác Sĩ Lê Văn Châu năm 2017 khi tái-bản tácphẩm đầu tay "Y Sĩ Tiền Tuyến" tại Canada đã gửi tới Úc Châu một bản cho tôi vì tôi, 50 năm xưa, đã là bạn thân của Nghiêm Sỹ Tuấn.



Tuấn có tài khéo về thủ-công, một năm hai lần làm đèn ngôi sao cho các em vào dịp Tết Trung Thu và Lễ Sinh Nhật. Có một năm Anh dùng bìa cứng cắt hình Chúa Hài Đồng trong cảnh tượng Hang Bê-Lem, đèn nến sáng trưng, rất ấm cúng và đẹp mắt. Nguyễn Tuân tả một cảnh thu muộn trong "Vang Bóng Một Thời" có lẽ cũng chỉ đẹp đến thế. 



5. Chúng tôi cùng học 3 năm tại trường Trung Học Nguyễn Trãi Hà Nội 1951-1954 và 3 năm tại trường Trung Học Chu Văn An Sài gòn 1955-1958. Riêng năm 1954-1955 Tuấn học trường Nguyễn Trãi Sài Gòn, còn tôi chuyển sang trường Trần Lục (học nhờ trường Tiểu Học Nguyễn Đình Chiểu tại Tân Định) cho gần nhà. Chính nhờ vậy mà được học Việt Văn với Thầy Doãn Quốc Sỹ (sau này Thầy trở thành một nhà văn nổi tiếng tại miền Nam) và tôi đã học được nhiều từ Thầy Doãn Quốc Sỹ. Dường như chỉ khi học lớp Đệ Ngũ B4 và lớp Đệ Nhất B3 là Tuấn và tôi học cùng lớp. 



Sức học của Anh đều đặn về đủ các môn. Việc học của Anh bị gián đoạn, như trường hợp những người cùng lứa tuổi, vì cuộc chiến khởi đầu ngày 19.12.1946 và cuộc tản cư trước đó. Đáng lẽ Anh phải học trên tôi ba lớp. Bởi vậy, thái độ của Anh có cái vẻ điềm đạm của một người lớn tuổi không ganh đua với lớp sau. Tuy nhiên cho đến khi học hết hai phần Tú tài, Tuấn không có đậu Ưu hay Bình, và cũng không bao giờ nộp đơn xin du học tại Mỹ, Âu Châu hay Úc Châu. Việc Anh chọn Y Khoa với học trình 7 năm cũng là một ngạc nhiên; đáng lẽ Anh phải chọn một ngành với học trình ngắn hơn, để sớm đi làm có tiền lương giúp đỡ Bố Mẹ, nuôi các em. Gia đình và cá nhân của Tuấn có những điều tôi không thể biết mà cũng không nên hỏi để bắt buộc Anh phải giải thích.



Những người bạn của Tuấn tôi cũng không biết hết. Có lẽ trong số đó có Nguyễn Thanh Giản, em trai của Bác Sĩ Nguyễn Thanh Giá. Giản cũng là người kín đáo ít nói, sau này cũng có làm thơ và viết văn, và từng đảm nhiệm chức vụ Chủ Tịch Hội Văn Bút tại Hoa Kỳ. Theo bạn Giản thì người bạn thân hơn cả của Tuấn là một anh bạn tên Mậu, tôi không nhớ rõ họ. Anh Mậu này cùng học trường Trần Lục năm 1954-1955 nên tôi cũng có biết chút ít; tuy khác lớp (đệ tứ) nhưng Anh Mậu là Trưởng Lớp và có hoạt động trong trường. Tuấn và Mậu gặp nhau ở lớp Đệ Tam B6 trường Chu Văn An, và cùng là người Công-giáo. Cùng một đức tin, có lẽ hai anh Mậu và Tuấn có những trao đổi trong những ý kiến, những quan niệm hay những nhận định, khác biệt với những anh em khác.



6. Anh học 7 năm Y khoa không vấp váp; với sức học của Anh có lẽ Anh có thể trúng tuyển nhưng Anh không dự kỳ thi nội trú bệnh viện. Trong những bạn cùng khóa từ Trung Học Chu Văn An thì Nguyễn Hoàng Hải là người thành công nhất trong y nghệ. Nguyễn Hoàng Hải thi đậu nội-trú, trở thành y sĩ giải phẫu, được bổ nhiệm làm Chỉ HuyTrưởng Bệnh Viện 2 Dã Chiến, và tới cuối năm 1974 được thăng cấp Y Sĩ Trung Tá hoàn toàn nhờ khả năng, công lao và thành tích của một người quân y sĩ.


Cho đến giữa năm 1965, lúc đã chấm dứt học trình 7 năm, dường như Tuấn cũng chưa được Thầy nào bảo trợ đề tài Luận án Tiến sĩ Quốc Gia. Chuyện đó càng khó khăn hơn khi Anh đã “ra trường” và bận rộn với đời lính chiến. Những bạn lớp sau kể từ 1965 trở về sau được hưởng ít nhiều dễ dãi hơn, vì quả thật số sinh viên hoàn tất học trình tăng lên rất nhiều trong khi thành phần giảng huấn không thay đổi.


Trong thời sinh viên, Anh có xin học bổng của Bộ Y Tế, và cũng có chút tiền mua sách. Năm thứ nhất Anh mua một bộ Anatomie của Testut; mấy năm sau Anh mua một bộ Pratique Neurologique mà soạn giả là một bậc Thầy của ngành neurologie của Pháp. Anh không có ý thích hay ý hướng hẳn về một bộ môn nào, nhưng rất thán phục Thầy Trần Quang Đệ khi Thầy giảng dậy bài le Péritoine (Phúc Mô) và Thầy Đặng Văn Chiếu với bài LCR liquide céphalo-rachidien (Dịch Não Tủy) coi như những bài giảng tuyệt vời trong y học mà Anh đã nhận được trong thời sinh viên.



7. Ngoài Việt ngữ, Pháp ngữ, Anh ngữ và chữ Hán, Tuấn học thêm Đức ngữ và tiếng La Tinh. Đức ngữ thì cố nhiên là học theo cuốn “Deutsche Sprachlehre fur Auslander” của Schultz & Griesbach; Anh đã học xong cuốn bìa xanh là cuốn cao cấp hơn, trong khi tôi còn lúng túng với cuốn bìa tím trình độ thấp hơn tuy cùng là Grundstufe. 


Còn tiếng La-tinh tôi không biết Tuấn học theo sách nào. Anh có đọc cuốn Éthique của Spinoza, bản La-tinh Pháp ngữ đối chiếu của Charles Appuhn. Sau 1975 tại Úc tôi hì hục làm photocopy trọn bộ cuốn sách này, rồi có mua thêm bản dịch tiếng Anh, và vài cuốn sách bình luận. Tuy-nhiên tôi chưa bao giờ đọc quá được vài trang; phải chờ khi sau này có thời giờ thật là rảnh rỗi. Tuấn mong muốn tìm được một cuốn khảo cứu về Spinoza của Alain. Khi tôi mua cuốn sách này thì vẫn nhớ tới Anh – và mua cũng chỉ vì nhớ tới người Bạn Cũ. Sách mua vẫn để đấy chờ một ngày nào đó… Để tự bào chữa tôi thường dựa vào lời khuyên của Lâm Ngữ Đường, là đã không thích sách nào thì chẳng nên đọc sách đó, nhất là khi đọc mà không hiểu, như trường hợp tôi đọc Spinoza. Lời khuyên này nếu không thật là của Lâm Ngữ Đường thì cũng là của một Thầy nào đó, xin quý vị tùy nghi tìm kiếm.



8. Tuấn viết đẹp và vẽ đẹp. Không thấy Tuấn nói nhiều về hội họa, nhưng nói về “dessiner” nghĩa là “vẽ bằng nét bút” thì Tuấn vẽ rất là sạch sẽ. Xin đề nghị dịch là “tuyến họa”, khác với tranh vẽ bằng mầu nước (water colours), pastel hay sơn dầu (oil paintings). Và Tuấn chép nhạc cũng rất đẹp. Tuấn có chép cho tôi hai bài hát. Vào năm 1953 thì khó mà mua được bản nhạc in của nhà xuất bản Tinh Hoa, cho nên thay vì chạy nhẩy thì chúng tôi chịu khó ngồi chép bài nhạc. Một là bài “Con Đường Vui” của Phạm Duy và Lê Vy. Bài này mới đây Anh Em Cựu Học Sinh Trần Lục đồng ca trong dịp hội ngộ 60 năm, 1958 – 2018, có thấy trên mạng. Thấy quang cảnh mọi người ca hát rất là hăng hái và hân hoan, tôi cũng vui theo, chỉ vì tôi học trường Trần Lục năm 1954-1955 nên không được mời. Bài thứ hai là bài “Cành Hoa Trắng” của Phạm Duy, cả lời lẫn nhạc. Về bài “Cành Hoa Trắng” này có hai điều nên nói. Ông Phạm Duy viết bài này với 4 dấu giáng (bémol), âm giai Fa thứ, rất là khó cho người mới học nhạc, và rất là khó cho người đệm đàn tây ban cầm, cũng mới học. Và nàng tiên Giáng Hương trong bài hát, phải viết là Ráng Hương mới đúng theo tự vị Thiều Chửu. “Ráng” có nghĩa là mầu đỏ, Giáng Hương dịch sang tiếng Pháp là l’Encens Vermeil, theo Phạm Duy Khiêm trong Légendes des Terres Sereines. Sở dĩ có sự nhầm lẫn là vì người Tầu không có đọc được phụ âm R, không có tiếng “ráng” và trong tiếng Tầu cũng không có tiếng “dáng”, vốn chỉ có trong tiếng Việt.


Viết đẹp và chép nhạc đẹp thì tôi nhường Tuấn vài bước, hay đúng hơn, nhiều bước. Năm 1965 khi đi thực tập tại Clinique Médicale Bệnh Viện Nguyễn Văn Học Gia Định, mỗi lần tôi đọc xong bản Observation Clinique, BS Nguyễn Thế Minh thường khen là “très belle écriture!”. Lúc đó Đặng Vũ Vương là Nội Trú. Đôi khi, tôi cũng nghi hoặc. Có lẽ bài quan sát bệnh lý dở quá, không có gì đáng khen nên Thầy Minh nói tới chữ viết đẹp. Nhưng nghĩ lại, lúc đó tôi là sinh viên năm thứ 5 thực tập, không có gì xuất sắc, không có gì đáng quý mến, không có gì đáng sợ hãi đến mức Bác Sĩ Nguyễn Thế Minh phải khen lấy lòng, hoặc là khen cho vui. Chuyện đáng bỏ qua, nhưng nếu Nghiêm Sỹ Tuấn mà viết bài quan sát bệnh lý thì Bác Sĩ Nguyễn Thế Minh còn phải khen ngợi nồng nhiệt hơn nữa về chữ viết đẹp.


Về hội họa thì Tuấn không mấy khi nói tới. Tôi nhờ có Anh Bạn Đàm Xuân Khôi quen biết với Họa Sĩ Ngọc Dũng nên cũng biết đôi chút, chúng tôi mượn sách của Ngọc Dũng, trong đó có mấy cuốn nói về Ingres, về Renoir. Khôi rất thích cuốn sách về Renoir, và ngày nay đã có một phim mầu về Renoir bố, Auguste, giới thiệu Renoir con, Jean, là một chuyên viên điện ảnh. Khi nhập ngũ Khôi cũng chọn một binh chủng nhiều gian nguy là Thủy Quân Lục Chiến, không kém gì Tuấn chọn Nhẩy Dù. Sau 1975 Khôi định cư tại Florida, và trở thành một cardiologist rất thành công. Khôi qua đời năm 2011. Một cuốn khác là về Maurice Utrillo, người họa-sĩ chuyên vẽ phong-cảnh thành phố Paris, mùa đông, lạnh lẽo, quạnh quẽ và rất buồn. Không phải Paris kinh thành hoa lệ với Montmartre, với Moulin Rouge … Từ Utrillo sau này tôi được biết tới Bùi Xuân Phái với những bức tranh phố cổ Hà nội, nhưng ngay những ngày đó đã có tranh của Bernard Buffet gởi sang Sài Gòn triển lãm với những bố cục và đường nét rất đặc biệt. Sau này tôi gặp vài người Pháp hỏi về Buffet về sau ra sao thì chỉ được cho biết là ông này rất nhiều tiền vì tranh được nhiều người hâm mộ. Tuy nhiên Buffet đã tự tử vì bệnh Parkinson; bệnh run tay đối với người họa sĩ thì cũng tương đương với bệnh điếc tai đối với người nhạc sĩ như trường hợp Beethoven. “Quelle belle soit la comédie …”


Tuấn có lần đưa bức tranh “Về Yêu Hoa Cúc” treo lên tường, ngay nơi bàn học. Bức họa chỉ vẽ một người thiếu nữ, mặc áo dài kiểu Việt Nam, mầu vàng. Tôi có ngớ ngẩn hỏi “sao lại về yêu hoa cúc” thì Anh chỉ cười không trả lời. Lúc đó tôi chưa được biết bài thơ của Nguyên Sa và bài hát của Ngô Thụy Miên. Về sau tôi có tìm hiểu thêm và hỏi nhiều người tác giả bức tranh đó là ai; cuối cùng thì bạn Bác Sĩ Nhạc Sĩ Phạm Anh Dũng cho biết đó chỉ là tranh vẽ trên bìa sách, hoặc là trên bao sách, cuốn sách cùng tên “Về Yêu Hoa Cúc” của Duyên Anh.


9. Trở về với âm nhạc thì Tuấn có phần khá hơn. Anh học vĩ cầm từ ngày còn ở Hà Nội với Thầy là Lưu Quang Duyệt là một vị cao tuổi tới 1953-1954 vẫn mặc quốc phục Việt Nam, mặc dù dậy một món nhạc khí rất tây phương là vĩ cầm và thêm vào đó, dương cầm. Tại Sài Gòn, Anh tiếp tục học với Thầy Nguyễn Khắc Cung, đã một lần trình diễn cùng với các học trò khác của Thầy tại Trường Quốc Gia Âm Nhạc. Là tín đồ Thiên Chúa Giáo, Anh biết nhiều về J.S. Bach và nhạc đại phong cầm (orgue). Nhân khi bàn chuyện caractérologie của René Le Senne, Tuấn nhất định không thể đồng ý phân loại J.S. Bach vào loại “flegmatique” - non E A S - viết tắt của non émotif actif secondaire. Với 20 đứa con sanh ra với 2 bà vợ Tuấn cho là J. S. Bach không thể nào là người non-émotif được.


Anh theo dõi chương trình Nhạc Cổ Điển Bình Giải của Đài Phát Thanh Sài Gòn một cách đều đặn và học hỏi được khá nhiều. Anh có ghi lại nhan đề của tất cả nhạc phẩm đã được bình giải. Chúng tôi cũng chuyền tay nhau cuốn sách Histoire de la Musique của Émile Vuillermoz, tuy là sách bỏ túi nhưng cũng khá đầy đủ. Chúng tôi, gồm cả Đàm Xuân Khôi, Lê Sỹ Quang, và đôi khi Bác-Sĩ Nguyễn Thế Minh là khán thính giả lui tới Trường Quốc Gia Âm Nhạc và Goethe Institut. Bác-Sĩ Nguyễn Thế Minh cũng là một vĩ cầm thủ có hạng, như nhiều người biết, và chắc chắn có tâm hồn nghệ sĩ. Lúc đó là thời của Toscanini và Herbert Karajan, của Van Cliburn… Mới từ Pháp du học về âm nhạc về nước phục vụ thì có Thầy Michel Nguyễn Phụng, Ông Bà Nguyễn Khắc Cung, Ông Bà Đỗ Thế Phiệt…



10. Tuấn có lẽ không đọc nhiều về triết học, ngoài cuốn Spinoza nói trên, như tôi biết. Có lẽ Anh cũng đọc nhiều Propos của Alain. Có lẽ Anh đã thấm nhuần đạo học của Đông phương nhiều và có lẽ Anh đã nhận những Giáo huấn của Đạo Thiên Chúa nên Anh không đọc sách triết học thời thượng như triết lý hiện sinh, không tìm hiểu về Heidegger hay Jean-Paul Sartre…


Nhưng về văn học Tuấn đọc khá rộng. Với số tiền học bổng của Bộ Y Tế, Anh cũng tìm mua cho được trọn bộ tác-phẩm, loại bìa cứng, của Tolstoy và của Dostoevsky dịch sang tiếng Pháp, khá đắt tiền. Năm 1975 có lẽ hai bộ sách này đã bị đốt. Anh cũng đặc biệt thích cuốn Le Grand Meaulnes của Alain-Fournier, mà nhà văn Mặc Đỗ đã dịch thành cuốn “Anh Môn”. Ngoài ra về những sách khác, có lẽ đại loại tủ sách của Anh cũng giống như tủ sách của anh em cùng thời. Cũng có Bác Sĩ Zhivago, cũng có Dịch Hạch và cũng có Lão Ngư Ông và Biển Cả.



11. Cuối năm 1963, sau biến cố chính trị ngày 1 tháng 11, một số sinh viên Y khoa gặp nhau để “làm” một tờ báo. Người khởi xướng có lẽ là Bác Sĩ Trần Xuân Ninh, vớí ý nguyện đặt tên báo là “Thông Reo”. Tên báo “Thông Reo” này về sau không được chấp nhận. Người em của Bác-Sĩ Trần Xuân Ninh là Bác Sĩ Trần Xuân Dũng lôi kéo Nghiêm Sỹ Tuấn và tôi cùng tới một buổi họp có tính cách phát động khởi đầu. Tới nơi thì gặp thêm Phạm Đình Vy, Nguyễn Vĩnh Đức, Lê Văn Châu tức Trang Châu, Đặng Vũ Vương, Lê Thành Ý (tức Liza) và nhiều Anh Em khác. Tôi nhớ không rõ nên không thể ghi hết tên của Anh Em có mặt trong buổi họp đầu tiên này. Tuy nhiên xin được phép nhắc lại một nhận xét của Bác-Sĩ Trần Xuân Dũng trong cuốn “Sống Chẳng Còn Quê” mới xuất bản năm 2018, là có ba người đã từng điều hành tòa soạn hoặc ở trong ban biên tập Nguyệt San Tình Thương đã đoạt giải Văn Học Nghệ Thuật: Lê Văn Châu năm 1969 với “Y Sĩ Tiền Tuyến”; Ngô Thế Vinh năm 1971 với “Vòng Đai Xanh” và Trần Xuân Dũng năm 1998 với Chiến Sử Thủy Quân Lục Chiến”.

Trong phiên họp đầu tiên bạn Phạm Đình Vy nhận làm chủ nhiệm. Thân phụ của Anh là Giáo Sư Phạm Đình Ái, lúc đó là cố vấn của Thiếu Tướng Đỗ Mậu. Chủ bút là bạn Nguyễn Vĩnh Đức. Tên báo sau khi thảo luận lấy là “Tình Thương”. Kinh phí ấn loát sơ khởi là 40 ngàn đồng do Luật Sư Trương Đình Dzu gửi tặng, nhờ đó ban biên tập có tòa-soạn để cùng nhau làm việc.


Với số ra mắt Anh Em trong Ban Biên Tập xin Thầy Khoa Trưởng Phạm Biểu Tâm một bài. Thầy viết một bài gửi tới Anh Em, trong đó Thầy nói qua nói lại một vài điều thông thường, nhưng có nhắc nhở trong đoạn kết là “làm gì thì làm, Anh Em chớ có để Tình Thương biến thành Tình Tiếc”. Anh Em đọc bài của Thầy có hơi sững sờ và bối rối. Mọi người bàn cãi. Có nhiều ý kiến, nhiều giải pháp. “Nhưng đối với Thầy, đã xin bài mà không đăng bài là không được. Có bài rồi mà đòi sửa bài thì không biết chuyện sẽ tới đâu. Chúng ta nên chấp-nhận và chỉ có thể chấp-nhận. Thầy đã có lời răn dậy thì chúng ta nhận lãnh. Miễn là đúng như lời Thầy nói, chúng ta sẽ không để cho Tình Thương biến thành Tình Tiếc. Đó là chuyện của chúng ta, và chúng ta rất nên cẩn thận về sau này.” 


Đó là ý kiến sau cùng của tôi, đúc kết ý kiến của Anh Em trong ban biên tập đã thảo luận. Mọi người cũng đành đồng ý. Rồi bài của Thầy được đăng nguyên vẹn. Rồi cũng không có tiếng vang hay phản ứng nào đáng kể. Mọi người thở ra nhẹ nhõm với trở lực đầu tiên đã vượt qua trong số báo đầu tiên.(1)


Nhờ việc nhỏ Tình Thương Tình Tiếc này tôi có một chỗ ngồi vững vàng trong ban biên tập, cộng thêm với bản dịch“Bản Tuyên Ngôn Leysin” sẽ nói dưới đây. Thật tình là tôi không có khả năng viết văn làm thơ, và nếu có chăng nữa thì cũng không đáng kể. Thời gian làm báo không biến tôi thành văn nghệ sĩ, nhưng cũng giúp cho tôi học hỏi được nhiều, như là làm một cái “maquette” cho một số báo, viết một cái “chapeau” trên đầu một bài tham luận có vẻ quá khích, hay làm một cái “vignette” khi trang báo có một khoảng trống trơ trọi. Ngoài ra tôi còn học được nghề “thầy cò” là việc sửa lỗi những bản vỗ tại nhà in. Cũng trong nghề “thầy cò” này, Tuấn làm việc rất chăm chỉ và nghiêm túc, và rất được tín nhiệm.



12. Người có cảm tình nhiều nhất với Nguyệt san Tình Thương là Giáo-Sư Trần Ngọc Ninh, chuyên khoa giải phẫu chỉnh trực, chuyên khoa giải phẫu nhi đồng, và chuyên khoa giải phẫu kích xúc (traumatologie). Năm 1961 Thầy đơn thương độc mã qua Pháp thi cho được Thạc sĩ, bởi vì giáo sư Thạc sĩ mới được tham dự Hội Đồng Khoa, và mới được có tiếng nói trong việc điều hành Trường Y Khoa Đại Học Sài Gòn. Những kỷ niệm về kỳ thi này chính Thầy đã ghi lại trong một cuốn hồi ký. Thầy đã có những ưu tư về việc chữa bệnh, về việc học và dậy học; Thầy đã viết hai bài châm biếm, một bài gọi bộ Y Tế là bộ “Ỳ Tệ”, và một bài nói việc học Đại Học lúc bấy giờ là “học đại”, “đại” ở đây không có nghĩa là “lớn” mà có nghĩa là “bừa bãi”, không có tôn chỉ hay đường hướng rõ rệt. Thầy cũng có lòng ưu ái đưa cho Tình Thương đăng dần cuốn tiểu thuyết “Nuôi Sẹo” của Triều Sơn vốn là một người bạn thân của Thầy từ thời niên thiếu.



Thầy có viết một bài ghi nhận một cuộc đối thoại hay hội thoại tưởng-tượng về giáo dục, giữa Platon, Socrates, Trang Tử và James Conant (1893-1978, người từng là Viện Trưởng Đại Học Harvard). Khi được đọc bản thảo bài này thì Nghiêm Sỹ Tuấn không đồng ý. Anh gặp Thầy Ninh xin nói chuyện lại, và Thầy, cuối cùng, chịu sửa lại là Tuân Tử, thay vì Trang Tử. Thầy Ninh không phải là người kiêu ngạo như nhiều người thường lầm tưởng.



Năm 1965 khi Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ thành lập nội các chiến tranh, Thầy được mời tham chính. Thầy có hỏi ý kiến Anh Em Tình Thương. Lẽ cố nhiên là Anh Em hoan nghênh nhiệt liệt. Nhưng thành tích của Thầy trong chức vụ Tổng Ủy Viên Văn-Hóa Giáo Dục thì không thấy nói đến nhiều.


Thứ đến là Thầy Ngô Gia Hy, chuyên khoa Gây Mê và chuyên-khoa giải phẫu tiết niệu cũng có vài bài đóng góp. Thầy là Khoa Trưởng Y Khoa Đại Học Sài Gòn, nối tiếp Giáo Sư Phạm Biểu Tâm, lấy lại trường Y Khoa đem về vị trí cũ, sau thời gian ngắn trường được đặt trực thuộc Phủ Thủ Tướng và điều hành bởi một ủy ban 5 người. Thầy cũng là thành viên của Thượng Hội Đồng Quốc Gia. Những bài viết của Thầy tôi không nhớ rõ. Khi Thầy đã ngoài 80 tuổi, Thầy có lên tiếng một lần cuối cùng, nhắc nhở những người thầy thuốc lớp sau nên tôn trọng y đức. Đó là những điều tôi được nghe, trước khi Thầy qua đời tại Việt Nam; đó là tiếng nói của một lớp sĩ phu đáng kính của một nước Việt Nam văn hiến đã không còn nữa vì lỡ nằm trong “thế gọng kềm của lịch-sử”. Chưa biết đến bao giờ phượng hoàng sẽ trỗi dậy từ đám tro tàn, nhưng chúng ta chờ đợi và không bao giờ tuyệt vọng.



Đặc biệt có Giáo Sư Nguyễn Đình Cát, chuyên môn nhãn khoa, đã đóng góp cho Tình Thương với những bài mệnh danh là “ca dao vệ sinh”, cùng làm với Bác Sĩ Nguyễn Gia Quýnh. Đây là những bài giảng-dậy y học cho phổ thông đại chúng, lời lẽ nôm na, đặt theo thể lục bát có vần có điệu cho dễ nhớ. Thầy có bút hiệu là Cát Minh. Không biết tìm được ở đâu, Nghiêm Sỹ Tuấn cho biết Thầy có bút hiệu nữa là Tú Gân: cùng với Tú Xương (Trần Tế Xương), Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu) và Tú Nạc (?) bốn vị hợp thành đủ bộ một đĩa thịt gà (!). Khám-phá này của Nghiêm Sỹ Tuấn không có nhiều hưởng ứng. Tôi xin ghi lại đây vì ít người biết, và cũng vì chuyện này cần kiểm chứng đàng hoàng.



13. Trong số báo Tình Thương đầu tiên, đóng góp của tôi là bản dịch một tài-liệu mệnh-danh là “Declaration of Leysin”. Đây là bản đúc kết những thảo luận trong một họp mặt sinh viên quốc tế, họp tại Leysin năm 1963, đưa ra đường lối và chương trình hoạt động cho các hiệp hội sinh viên. Leysin có lẽ là một thành phố hay một tỉnh tại Thụy Sĩ, nay là một trung tâm du lịch. Ngày nay tôi đã quên hết, nhưng lúc đó Nguyệt San Tình Thương, nhờ tài liệu đó có vẻ nghiêm trang, đứng đắn, có đường lối đấu tranh ôn hòa, không chủ trương biểu tình bạo động, và có vẻ như sẵn sàng vượt ra khuôn khổ quốc gia để góp mặt nơi quốc tế.

Cũng trong số báo đầu tiên tôi viết một bài ngắn nhan đề là “Dựng” như là tiếng nói đầu tiên xác-nhận sự hiện hữu cũng như lập trường của Nguyệt San Tình Thương. Cố-nhiên là có sự “thông qua” của các bạn Phạm Đình Vy, Nguyễn Vĩnh Đức… Theo tôi được biết số báo này còn lưu-trữ trong Collection Wason của Cornell University, New York. (2)



Tuấn và tôi cùng nhau dịch sang tiếng Việt cuốn “Lịch-Sử Y-Học” (The Story of Medicine) của Kenneth Walker (1882-1966). Sách xuất bản năm 1955, nguyên viết bằng tiếng Anh, nhưng có bản dịch bằng tiếng Pháp. Chủ ý của chúng tôi rất thực tế, là bài vở gửi tới từ bên ngoài cùng với những bài viết từ bên trong (của ban biên-tập) chắc chắn là không đều đặn, và có thể không đủ một số báo với số trang đã định sẵn. Trong trường hợp thiếu bài đó thì cứ việc đăng bài dịch “Lịch Sử Y Học”. Sau này tôi đã cố gắng dịch hết cuốn sách, nhưng bản thảo nay đã mất.



Cũng trong ý hướng đó Nghiêm Sỹ Tuấn hợp sức cùng với Nguyễn Vĩnh Đức dịch những truyện ngắn “Dưới Mắt Thượng Đế” nguyên văn tiếng Đức, Hinter Uns Steht Nur Der Herrgott” của Hans Killian xuất bản năm 1957, với bản dịch tiếng Pháp “Sous le Regard de Dieu” của Max Roth. Trong khi cộng tác, trước sức học, sự hiểu biết, lối sống và cư xử đàng hoàng của Tuấn, Bạn Nguyễn Vĩnh Đức trong tình quý mến và cảm phục, đã tặng Tuấn mỹ danh“Người Thư Sinh Muôn Thuở”. Có lẽ không gì đúng và không gì hay hơn đối với Nghiêm Sỹ Tuấn.


Riêng với tôi, chúng tôi dự định cùng chung sức dịch Les Faux Monnayeurs của André Gide, và đồng thời cuốn Arrowsmith của Sinclair Lewis. Tuy là vừa dịch vừa học hỏi, nhưng tham vọng có hơi thái quá, chúng tôi chỉ thực hiện được vài trang và sau đó bỏ dở.



14. Tuấn học hết Năm Thứ Sáu Y Khoa vào hè năm 1965. Như các bạn cùng lớp, Anh được trưng tập vào quân đội và được huấn luyện để trở thành một quân y sĩ. Khi tốt-nghiệp Khóa 7 Trưng tập, Tuấn đã cùng với Anh Em xuất bản một đặc san lấy tên là “Truyền Sinh”, dịch nghĩa “Reproduction” của Anh và Pháp ngữ. Người Tầu dịch là “phồn thực”, hàm ý việc sinh đẻ cần được nhiều, như chúng ta thường nói “sinh sản”, hay là “đẻ thêm lắm việc”. “Truyền Sinh” không diễn tả được cái ý “sinh sôi nẩy nở” đó nên cũng không mấy người đồng ý dùng để dịch “reproduction”. Những người cùng góp sức thực hiện tờ Đặc San là Lê Sỹ Quang, Trần Xuân Dũng, Dược Sĩ Bùi Khiết và Dược-Sĩ Vũ Văn Tùng. Đó là một số báo trình bầy rất đẹp và nhã, bài vở khá nhiều và có những bài thật hay. Không biết có ai còn giữ được một số làm kỷ niệm?



15. Việc Anh chọn binh chủng Nhẩy Dù là một điều làm mọi người ngạc nhiên. Binh nghiệp của Anh kéo dài chừng 2 năm từ 1966 đến 1968. Trong trận Khe Sanh Anh bị tử thương. Đám tang cử hành tại Sài Gòn. Khi nhận được tin Anh chết tôi đang sửa soạn trở về nhiệm sở tại Phước Long (Bà Rá) sau khi đã vắng mặt vài ngày, và cố nhiên không thể có mặt trong tang lễ.


Theo lời được nghe kể lại, Cụ Nghiêm Sỹ Phụng rất là xúc-động, và nhất-định từ chối cấp bậc Đại Úy, đúng ra là Y Sĩ Đại úy, mà Anh được truy tặng. “Con tôi không phải là Đại Úy, con tôi là Bác-Sĩ Nghiêm Sỹ Tuấn…” Chúng ta có thể thông-cảm với nỗi đau lòng trong cơn tang tóc, của người Cha mất đứa con đầu lòng, mới vừa tốt nghiệp, mới bắt đầu sự nghiệp, mới bắt đầu nhận lãnh trách nhiệm ngoài đối với xã hội, trong đối với bố mẹ già và các em nhỏ còn thơ dại.


Lần chót tôi còn liên lạc với gia-đình Tuấn là khoảng năm 1972, tại Viện Bài Lao Ngô Quyền Thủ Đức, khi Nghiêm Sỹ Anh tới thăm và tôi đã trao lại di vật là cuốn Nhật Ký của Tuấn, gửi lại gia-đình. Cuốn này là do bạn Trang Châu trao tay lại.



16. Giờ này nói tới văn nghiệp của Nghiêm Sỹ Tuấn, tôi không còn tài liệu nào trong tay. Tất cả chỉ có những số báo Tình Thương (mà Anh Em tại Hoa-Kỳ đương cố gắng thu thập), một tờ Đặc San Truyền Sinh 1966, và một cuốn “Nhật-Ký”; gọi thế thôi nhưng thật ra đây chỉ là một cuốn vở chúng ta gọi là scrapbook, một cuốn giấy nháp trong đó không có ghi nhận hay sơ thảo nào đáng kể, trừ một bài lục bát bắt đầu với câu “Rộn ràng chim hót rừng thưa”…Rất tiếc là tôi không nhớ hết.


Tuấn viết truyện ngắn “Những Người Đi Tìm Mùa Xuân” trong đó có thể thấy ảnh hưởng của Vũ Khắc Khoan với Thần Tháp Rùa. Đây là tác phẩm đầu tay và ưng ý của Anh. Sau đó có bài “Người Ăn Cơm Một Mình” là nỗi niềm băn khoăn và lời tự bào chữa của Tuấn khi Anh khó có thể hòa mình trong một đám đông ồn ào xáo trộn. Cuối cùng là một bài phiếm luận về văn-hóa “khâu đít chuột” (sic) trong đó Anh không đồng ý với việc ồ ạt dịch văn ngoạiquốc – dù là những danh phẩm quốc tế trong kho tàng văn hóa chung của nhân loại, – mà phải có những sáng tác của người Việt, cho người Việt, bởi người Việt, viết bằng tiếng Việt. Mà lại phải “hay” nữa! Tuấn đôi khi cũng có những đòi hỏi tuyệt đối như thế, và Tuấn cũng đã gặp nhiều khó khăn vì thế.


Anh có chừng 5 hay 10 bài thơ tứ tuyệt và thơ 28 sao, giống như thơ Trần Xuân Dũng; một số đã được in và một vài bài còn đang trong vòng tìm chữ tìm vần sửa đổi. Nhiều Anh Em còn nhớ mỗi người vài bài, và tới đây tôi xin được mọi người giúp sức. Có thể là bạn Ngô Thế Vinh sẽ góp nhặt tất cả thành một sưu-tập.



17. Nghiêm Sỹ Tuấn từ giã bạn bè đã năm mươi năm. Cách đây chừng năm hay sáu năm Nguyễn Vĩnh Đức, Chủ Bút Nguyệt San Tình Thương, cũng đã ra đi. Mới đây là Phạm Đình Vy, Chủ Nhiệm Nguyệt San Tình Thương, qua đời tại Pháp. Anh em Tình Thương còn lại tản mát nơi hải ngoại. Lê Thành Ý, Trang Châu, Nguyễn Thanh Bình, Trần Mộng Lâm tại Canada. Đặng Vũ Vương, Nguyễn Hoàng Hải, Đỗ Hữu Tước, Ngô Thế Vinh tại Hoa Kỳ, Trần Xuân Dũng và tôi tại Úc… ( Lý Lê Trần và còn ai nữa ?)


Trong niềm thương nhớ và thương mến đối với Nghiêm Sỹ Tuấn chúng ta đã tìm lại những kỷ niệm từ một thời xa xưa, một thời đầy tin tưởng, một thời đầy nhiệt huyết.

Đã tới lúc chúng ta phải trả lại Nghiêm Sỹ Tuấn về nơi Anh yên nghỉ. Tôi xin kết thúc nơi đây với mấy câu thơ của Tế Hanh trong bài “Vu Vơ” hay “Những Ngày Nghỉ Học”. Đây là lời một cậu học trò nhỏ rảnh rỗi tới nhà ga xe lửa chơi, và nhìn cảnh người đi kẻ ở. Bài thơ có lẽ thích hợp với bài viết của một người học trò về một người học trò khác, Người Thư Sinh Muôn Thuở Nghiêm Sỹ Tuấn.


Kẻ về không nói bước vương vương

Thương nhớ lan xa mấy dặm trường

Lẽo đẽo tôi về theo bước họ

Tâm hồn ngơ ngẩn nhớ muôn phương.



Y sĩ Đại úy Hà Ngọc Thuần

Brisbane Úc Châu 

Tháng 10 năm 2018


 

________ 


(1) Bài viết của GS Phạm Biểu Tâm, nhan đề "Tình Thương và Chúng Ta", được Thầy viết sau một khóa Hội thảo các Khoa trưởng Đại Học Y Khoa Đông Nam Á, cuối năm 1963 tại Manilla, và gửi đăng trên TT, không phải số ra mắt mà là số 3-4 tháng 3 và tháng 4 năm 1964.

(2) Bộ báo SVYK Tình Thương đã được nhà văn Trần Hoài Thư, Thư Quán Bản Thảo phục hồi gần như toàn bộ, dưới dạng flipbook và độc giả có thể tìm đọc qua link TQBT: https://tranhoaithu42.com/2019/03/17/pho-bien-toan-bo-flipbook-nguyet-san-tinh-thuong-saigon/ PW: tht42