Thứ Năm, 27 tháng 1, 2022
Chủ Nhật, 9 tháng 1, 2022
100th ANNIVERSARY OF ARTIST PAINTER TẠ TỴ AND HIS SMALL DREAM FOR THE YEAR 2000
I often believe any ideology espoused in Vietnam is only transitory, the eternal Vietnam is the land all the Vietnamese people have built, that’s the Vietnam that will endure, Eternally!I keep on looking at the photo of the Mỹ Thuận Bridge and I feel extremely elated. So, finally, the Vietnamese people have been delivered from the nuisance of using the barge when crossing the river … We are determined to go back to Vietnam without any idea of what awaits us in the days ahead. In any case, I want to find my final rest in Vietnam – the place where I was born and spent sixty years of my life!Tạ Tỵ [letters to Ngô Thế Vinh dated 2.29. & 7.27. 2000]
Picture 1:left, Tạ Tỵ, 31 years old, on his return to the city after 4 years of fighting the French (Hanoi, 1952); center, Major Tạ Tỵ serving in the Republic of Vietnam’s Armed Forces; right, Tạ Tỵ in 2000. After 1975, he was sent to the reeducation camp for 6 years. In his memoir Đáy Địa Ngục / At the Bottom of Hell, he recounted the harsh days of incarceration and hard laborwhen “food not enough to fill andhunger not enough to kill”; [source: family album of Tạ Tỵ, photo by Phạm Phú Minh, Đáy Địa Ngục, Nxb Thằng Mõ 1985]
ĐI TÌM CHÂN DUNG Y SĨ TIỀN TUYẾN NGHIÊM SỸ TUẤN VỚI THÔNG ĐIỆP MÙA XUÂN
Dẫn nhập – Chiến tranh, không phải là chấp nhận hiểm nguy, không phải là chấp nhận giao tranh. Ở một thời khắc nào đó, với người chiến binh, là sự chấp nhận thuần túy và giản đơn cái chết. La guerre, ce n’est pas l’acceptation du risque, ce n’est pas l’acceptation du combat. C’est, à certaines heures, pour le combattant, l’acceptation pure et simple de la mort.A. de Saint-Exupéry (Pilote de guerre)
Hình 1: trái, Di ảnh Y sĩ Trung úy Nghiêm Sỹ Tuấn, Y sĩ trưởng Tiểu đoàn 6 Nhảy Dù tử trận tại chiến trường Khe Sanh ngày 11/4/1968; phải, Chân dung Nghiêm Sỹ Tuấn qua nét vẽ của Y sĩ Đại úy Lê Văn Công, Quân Y Hiện Dịch khóa 15 YKSG, Virginia, USA 2018. [size 6 x 20” acrylic on canvas, sưu tập Ngô Thế Vinh]
Chủ Nhật, 19 tháng 12, 2021
DOHAMIDE GIẤC MƠ CHÀM VÀ BANGSA CHAMPA
Hình 1: từ trái, cây bút chuyên khảo văn minh Champa trên tạp chí Bách Khoa Dohamide, chủ nhiệm Bách Khoa Lê Ngộ Châu, Ngô Thế Vinh, nhà văn Võ Phiến. [hình chụp 1994 tại Little Saigon, tư liệu Ngô Thế Vinh]
TIỂU SỬ
Dohamide, người gốc Chăm, sinh năm 1934 tại làng Katambong, Châu Đốc (An Giang), có thêm ba bút hiệu nhưng ít được biết đến: Linh Phương, Châu Giang Tử, Châu Lang. Khi Dohamide có bài viết đầu tiên “Người Chàm tại Việt Nam ngày nay” đăng trên tạp chí Bách Khoa năm 1962, Chủ nhiệm Lê Ngộ Châu đã giới thiệu anh với độc giả như sau:
Thứ Sáu, 19 tháng 11, 2021
100 NĂM SINH HOẠ SĨ TẠ TỴ VÀ GIẤC MỘNG CON NĂM 2000
Tôi thường nghĩ, nước Việt Nam dù dưới chủ nghĩa nào cũng chỉ tạm thời, cái Vĩnh Viễn là mảnh đất do tất cả Dân Tộc dựng nên, cái đó mới tồn tại lâu dài, Vĩnh Viễn! Tôi nhìn mãi tấm hình chiếc cầu Mỹ Thuận, lòng thấy vui vô cùng. Thế là người Việt Nam thoát được cái cảnh “sang sông” phải lụy phà… Chúng tôi nhất quyết về Việt Nam dù không biết phía trước cái gì sẽ xảy ra cho mình. Nhưng dù sao, tôi cũng muốn an nghỉ ở Việt Nam nơi mình đã sinh ra và đã sống 60 năm trời!Tạ Tỵ [thư gửi Ngô Thế Vinh viết ngày 29.2 & 27.7.2000]
Hình 1: trái, Tạ Tỵ 31 tuổi, sau 4 năm theo kháng chiến chống Pháp và về thành (Hà Nội, 1952); giữa, Thiếu Tá Tạ Tỵ trong quân đội Việt Nam Cộng Hoà; phải, chân dung Tạ Tỵ năm 2000. Sau 1975, ông đã phải đi tù cải tạo 6 năm, hồi ký Đáy Địa Ngục ghi lại kinh nghiệm ông đã trải qua trong những năm tháng nghiệt ngã tù đày với lao động khổ sai “ăn không đủ no, đói không đủ chết”; [nguồn: album gia đình Tạ Tỵ, photo by Phạm Phú Minh, Đáy Địa Ngục, Nxb Thằng Mõ 1985]
Thứ Bảy, 13 tháng 11, 2021
VIETNAM – A CENTURY PAST NGUYỄN TƯỜNG BÁCH AND I
Foreword: Vietnam A Century Past, Nguyễn Tường Bách and I are the titles of two memoirs authored by Dr. Nguyễn Tường Bách and teacher Hứa Bảo Liên, his lifelong companion respectively. These two outstanding works record the romantic love between a young Vietnamese gentleman and a Chinese lady in Hanoi. The eventful politics of the country drew them apart until the day their paths again met in Kunming, Yunnan and united them in lasting matrimonial bliss that entailed much devotion and sacrifice – but more importantly, their lives reflect the history full of upheavals and vicissitudes of the Revolutions that engulfed both Vietnam and the Chinese mainland.
Picture 1: left, Dr. Nguyễn Tường Bách; right, teacher Hứa Bảo Liên during an interview with Lawyer Lâm Lễ Trinh, on 09.24.2005. [source: Little Saigon TV, Picture by Đinh Xuân Thái] [6]
BIOGRAPHY
Nguyễn Tường Bách saw life on March 26, 1916, at Cẩm Giàng a small district in Hải Dương Province. However, two generations prior, his ancestral family moved from Cẩm Phô Village, Điện Bàn district, Quảng Nam Province to the North. The Nguyễn Tường family had seven siblings: Nguyễn Tường Thuỵ, Nguyễn Tường Cẩm, Nguyễn Tường Tam – Nhất Linh, Nguyễn Tường Long – Hoàng Đạo, Nguyễn Thị Thế, Nguyễn Tường Lân – Thạch Lam, and Nguyễn Tường Bách – Viễn Sơn.
Thứ Ba, 26 tháng 10, 2021
IN RETROSPECT NGUYỄN VĂN TRUNG NHÌN LẠI MỘT HÀNH TRÌNH TRÍ THỨC LẬN ĐẬN
“… những cố gắng suy nghĩ của một người vẫn ước muốn tự đặt cho mình một kỷ luật đồng thời cũng là một lý tưởng là phải tìm kiếm không ngừng, bằng cách tự phủ nhận, bất mãn với quãng đường mình vừa qua và cứ như thế mãi mãi…” [Cùng bạn độc giả, Lược Khảo Văn Học I] [1] Nguyễn Văn Trung
NGÔ THẾ VINH
Hình 1:trái, Nguyễn Văn Trung, Đại học Văn Khoa Sài Gòn 1969; phải, Nguyễn Văn Trung 50 năm sau, Montréal tháng 8/2019. [nguồn: trái, album gia đình Nguyễn Quốc Linh, phải, photo by Phan Nguyên]
TIỂU SỬ
Nguyễn Văn Trung sinh ngày 26-9-1930, tại làng Thanh Hương, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam; còn có bút hiệu là Phan Mai và Hoàng Thái Linh. Xuất thân trường Dòng Puginier và chủng viện Hoàng Nguyên trước khi chuyển qua học Chu Văn An, Hà Nội. Từ 1950 đến 1955 ông được gửi đi du học Âu châu, ban đầu ở Pháp rồi qua Bỉ, đậu cử nhân triết học Đại học Louvain, Bỉ. Năm 1955 về Sài Gòn dạy trường trung học Chu Văn An, và sau đó là Đại học Huế.